Thêm
    Trang chủHọc Hỏi & Nghiên CứuThể loại khácNHẬT KÝ CỦA MỘT MỤC TỬ (từ ngày 1 đến 15/5/1979)

    NHẬT KÝ CỦA MỘT MỤC TỬ (từ ngày 1 đến 15/5/1979)

    THÁNG 5 NĂM 1979

    Thứ Ba, 1 tháng 5
    Ngày Quốc Tế Lao động, mồng 1 tháng 5, ở Rôma mọi hoạt động buôn bán đều ngưng, nhưng xe buýt cũng không hoạt động, gây khó khăn cho việc đi lại. Để đi lại, tôi phải bắt taxi đắt tiền để đến Văn phòng Giáo triều một lần nữa nhằm xác nhận lại khả năng yết kiến Đức thánh cha. Nhưng các phòng ban cũng đóng cửa. Ngay cả dù một vệ binh Thụy sĩ cho phép tôi gõ cửa, tôi cũng nhận ra rằng có đứng chờ ở đây cũng vô ích.
    Sau đó tôi đi đến dòng Tên, một vị phụ tá Tổng quyền người Nam Mỹ đã tiếp tôi rất nồng nhiệt, và ngài cho biết rằng các cha của Trung Mỹ cũng vắng mặt cho đến tối. Và tôi có thể hy vọng gặp được cha Arrupe. Khi vị phụ tá đã biết tôi là ai, ngài tỏ ra càng quan tâm hơn và bày tỏ lòng biết ơn về những gì đã được làm cho dòng Tên tại giáo phận của chúng tôi.
    Sau đó, tôi đến thăm nhà Mẹ của dòng các Nữ Hiến sĩ Tình yêu Thiên Chúa. Mẹ Bề trên Gloria vui mừng và ngạc nhiên khi thấy tôi đến thăm.
    Tôi cũng chào thăm Mẹ Valle và các sơ của ban điều hành hội dòng. Họ mời tôi ăn trưa với họ và chúng tôi đã có những khoảnh khắc ấm áp. Mẹ tổng quyền và Mẹ Juana, mà tôi đã trở thành bạn với họ trong chuyến đi trước, đã rất ân cần đưa tôi trở về chỗ lưu trú tại nhà các nữ tu Đa minh ở Monte Mario.
    Buổi tối, tôi dâng lễ đồng tế lúc 6 giờ tại Vương cung Thánh đường Sacra Cuore di Maria tuyệt đẹp. Các cha dòng Claret, vốn thân tình từ lâu với cha Coll mới được phong chân phước, đã mời dòng Đa minh. Cha tổng quyền dòng Đa minh và cha tổng quyền dòng Claret làm phụ tế cho vị chủ tế là Đức hồng y Tarancón [Vicente Enrique y Tarancón]. Tôi đến chào ngài, và ngài vui vẻ đề nghị dành cho tôi một phòng ở Marid khi tôi đến đó.
    Thánh lễ đồng tế diễn ra rất long trọng, giống như Thánh lễ đồng tế hôm qua, với 60 giám mục, 8 linh mục, và lòng nhà thờ rộng lớn lấp đầy các nữ tu và khách hành hương. Trong bài giảng, cha tổng quyền dòng Claret đã nêu lên nhiều điểm tương đồng giữa hai con người thánh thiện – thánh Anthony Mary Claret và cha Francisco Coll.
    Về đến nhà, tôi được mọi người cho biết cha Arrupe rất vui được trò chuyện với tôi, và họ khuyên tôi nên gọi để hẹn gặp ngài. Ngày mai, tôi sẽ làm điều đó. Xin Chúa chúc lành.
    Thứ Tư, 2 tháng 5
    Hôm nay, tôi đến dự cuộc tiếp kiến chung của Đức thánh cha. Sự kiện diễn ra tại Quảng trường Thánh Phêrô, vì con số khách hành hương vào khoảng 130.000. Trong số đó có nhóm rất đông các nữ tu Đa minh và khách hành hương đến tham dự lễ tuyên chân phước cha Coll, cũng như các tu sĩ và người hành hương đã đến dự lễ tuyên chân phước cho cha Laval. Cũng có nhiều khách hành hương khác nữa, lấp kín quảng trường.
    Đức thánh cha đi ra qua chỗ tiền sảnh và đi quanh quảng trường theo những hướng khác nhau trên một xe jeep, ngài chào đám đông một cách nồng nhiệt. Đám đông vỗ tay hoan nghênh khi Đức thánh cha tiến đến gần họ. Khi rời khỏi xe jeep và tiến về chỗ ngồi của ngài, Đức thánh cha nấn ná dừng lại để nói chuyện và bắt tay với những người đứng dọc lối đi. Rồi từ ngai của ngài, Đức thánh cha làm Dấu Thánh giá và bắt đầu diễn từ của ngài sau khi vị thư ký đã chỉ cho ngài biết những nhóm nào nói tiếng Ý.
    Đức thánh cha nói về chủ đề Đức Trinh Nữ Maria, vì đang bắt đầu tháng kính Đức Mẹ, đồng thời cũng là Mùa Phục sinh.
    Những ý tưởng được chia sẻ từ môi miệng và từ con tim của Đức thánh cha thật sâu sắc và thú vị. Ngài kết thúc diễn từ bằng việc bày tỏ nỗi lưu luyến quê hương khi nhắc đến Đức Mẹ Czestachowa, bổn mạng của dân tộc ngài. Ngài vốn thường hành hương Đức Mẹ vào đầu tháng năm, dịp lễ mừng bổn mạng được cử hành tại đó. Hôm nay ngài không thể hiện diện ở đó, nhưng ngài sẽ có chuyến đi vào tháng 6, sẽ gặp tất cả các giám mục và những người hành hương khác dịp ngài ghé về thăm đất nước của mình.
    Đức thánh cha cũng lặp lại lời chào và nói một câu đúc kết sứ điệp của ngài bằng tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Catalán, và Bồ Đào Nha. Sau khi kết thúc diễn từ, Đức thánh cha mời gọi tất cả các giám mục, khoảng 40 vị, bước tới chỗ ngài và cùng ban phép lành cho dân chúng. Sau đó, ngài ngồi tại ngai và chào hỏi chúng tôi, từng người một. Khi tôi bắt tay ngài và xin ngài chúc lành cho Tổng giáo phận San Salvador, ngài nói chúng ta cần nói chuyện riêng với nhau – tôi thưa rằng đó cũng là mong ước lớn nhất của mình; tôi đã xin được hội kiến với ngài.
    Tôi hy vọng Đức thánh cha sẽ chấp thuận cho tôi được gặp riêng ngài. Do đó, tôi đã không trình cho ngài các tài liệu mình mang theo dưới dạng một bản ghi nhớ, phòng trường hợp không thể hội kiến Đức thánh cha, thì các tài liệu khác nhau sẽ được gửi kèm với bản báo cáo của vị kinh lý tông tòa. Trong bản ghi nhớ, tôi xin sự hướng dẫn của Đức thánh cha, sau rất nhiều thông tin mà tôi chắc chắn ngài đã nhận được từ vị kinh lý tông tòa. Tôi cũng sẽ gửi ngài bản sao của một lá thư mà tôi đã gửi hồi tháng 11, về những vấn đề khác nhau mà trong vai trò Tổng giám mục, tôi phải trình báo với Đức thánh cha liên quan đến tình hình của Giáo hội cũng như nhà nước tại đất nước chúng tôi.
    Ngay sau khi chào hỏi Đức thánh cha, tôi liền gặp Đức cha Martin và Đức cha Monduzzi, là những vị phụ trách sắp xếp các cuộc hội kiến cho giáo hoàng, để xin các ngài một cách khẩn thiết hơn về cuộc hội kiến mà tôi vốn đã xin từ trước Tuần Thánh. Các vị ấy cho biết là có thể, nhưng không thể sớm hơn tuần tới. Tôi sẽ kiên nhẫn, vì đó là khát khao lớn nhất của tôi, và nói chuyện với Đức giáo hoàng cũng là nhu cầu lớn nhất của tôi trong chuyến đi Rôma lần này.
    Buổi chiều, tôi đến trụ sở dòng Tên, ở đó tôi đã nói chuyện với cha Juan Bosco [Estrada]. Tôi đã sắp xếp với ngài về cuộc gọi điện thoại ngày thứ Tư sẽ được phát sóng bởi đài YSAX của chúng tôi. Tôi nói chuyện với Đức ông Urioste ở El Salvador. Cuộc trò chuyện liên quan đến những cảm nhận khác nhau của tôi về Rôma, và chủ yếu là về buổi lễ tuyên chân phước hôm Chúa nhật, cuộc tiếp kiến hôm nay và buổi đọc kinh Nữ Vương Thiên Đàng tại Quảng trường Thánh Phêrô.
    Tôi kể lại rằng trong thời gian ngắn này của mình ở Rôma, tôi đã được nghe Đức thánh cha giảng dạy nhiều điểm giáo huấn. Chủ yếu đó là những giáo huấn liên quan tới Đức Trinh Nữ Maria, tới công cuộc huấn giáo – mà hai vị chân phước là kiểu mẫu – cũng như liên quan tới đời sống tu trì, mà rất nhiều đại diện hiện đang có mặt tại Rôma dịp lễ tuyên chân phước hai tu sĩ. Tôi cũng đề cập cách mà Đức thánh cha chúc mừng và bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các giảng viên giáo lý. Ngài nói với các thính giả rằng các giảng viên giáo lý giống như hai vị chân phước được tôn vinh ấy, đời sống của họ là một chứng tá sống động: họ thực là những người sống sự sống Phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Như Lời Chúa hôm Chúa nhật vừa qua: “Ai giữ các điều răn của Thầy, người ấy biết Thầy”.
    Dòng Tên mời tôi ăn trưa với cha Arrupe vào ngày mai, cũng như với các cha dòng Tên khác – là những vị quan tâm trao đổi với tôi về tình hình El Salvador và về những chuyện khác cũng có thể hữu ích cho tôi. Tôi cũng được các cha dòng Claret mời tới Sacra Cuore di Maria ngày mai để ăn tối với cha Tổng quyền. Tôi nhận lời mời, thầm biết ơn các cộng đoàn Claret đang làm việc tại Tổng giáo phận chúng tôi.
    Thứ Ba, 3 tháng 5
    Các giám mục và linh mục Tây Ban Nha đến tham dự lễ tuyên chân phước cho cha Coll, hiện đang ở tại nhà của các nữ tu dòng Đa minh, sẽ rời đây trong ngày hôm nay. Tôi chỉ còn lại một mình. Nhưng tôi bận rộ cả ngày để giải quyết một số công việc. Trước tiên, tôi đến Phủ giáo hoàng để cố gắng sắp xếp cuộc hội kiến với Đức thánh cha. Có thể vào thứ Tư hay thứ Năm tuần tới, vì hôm nay tôi được giải thích rằng có nhiều giám mục đang thực hiện chuyến ad limina, và các vị ấy sẽ được ưu tiên trong thời gian này. Tôi cũng giải thích rằng thật khẩn thiết việc tôi gặp Đức thánh cha, vì tình hình Giáo phận của tôi, và vì tôi ở rất xa mà đến, vì thế tôi muốn nhân dịp này để trình bày những vấn đề khác nữa. Dẫu vậy, tôi vẫn phải kiên nhẫn đợi chờ lượt của mình.
    Sau đó, tôi đến xin hội kiến với Đức Hồng y Baggio, Bộ trưởng Bộ Giám mục, và Đức Hồng y Pironio, Bộ trưởng Bộ Tu sĩ, ngài vốn là chỗ thân thiết với tôi hơn.
    Tôi đến dùng cơm trưa tại trụ sở dòng Tên. Họ cho tôi vinh dự ngồi cùng bàn với cha Arrupe. Tôi đã trò chuyện với ngài trước bữa ăn về tình hình Giáo hội tại đất nước tôi. Ngài cũng cho tôi biết những dự án của dòng ở Mỹ La tinh. Cha Juan Bosco Estrada, một người bạn tốt tại trụ sở này, đã cho tôi dùng phòng của ngài để chợp mắt một chút sau bữa trưa. Tôi cũng chuyện trò với các cha dòng Tên khác – những người quan tâm đến tình hình tại đất nước tôi, điều này rất quan trọng, trong bối cảnh ý nghĩa rộng lớn của những việc được làm ở đó.
    Sau đó, để thưởng thức buổi chiều mùa xuân, tôi đến viếng nhà thờ Mười hai Thánh Tông đồ. Tại đây, có mộ của hai thánh Tông đồ Philipphê và Giacôbê nằm ngay dưới bàn thờ chính, là những vị thánh được Phụng vụ mừng kính hôm nay, ngày 3 tháng 5.
    Tôi đã quên nói rằng hồi sáng tôi cũng có ghé Đền thờ Thánh Phêrô lần nữa, tôi đến gần những bàn thờ được dâng hiến cho thánh Phêrô và những đấng kế vị của ngài gần đây, trong thế kỷ này, tôi đã xin ơn trung thành với đức tin Kitô giáo và lòng can đảm, nếu cần, để chết như các vị tuẫn đạo đã chết, hoặc để sống một đời sống được thánh hiến như các đấng kế vị thánh Phêrô trong thời hiện đại. Tôi thấy ấn tượng hơn cả bởi ngôi mộ rất đơn giản của Đức Phaolô VI.
    Hôm nay, tôi đã ghé thăm Đại học Gregoriana. Tôi bước vào phòng học chính và đi rảo quanh các khu nội vi, ôn lại những năm tuổi trẻ khi còn là sinh viên của mình. Biết bao ký ức tràn về!
    Sau đó, tôi đến thăm cha López Gall, và tôi đã có một cuộc trao đổi thật thú vị với ngài, qua đó tôi biết được các cơ quan khác nhau của giáo triều Rôma nghĩ gì về cung cách của tôi trong vai trò một Tổng giám mục.
    Ngài nói với tôi rằng ấn tượng rất tích cực, và rằng tôi nên giữ vững lập trường của mình. Ngài cũng đơn sơ cho tôi biết rằng một số cơ quan giáo triều có quan điểm tiêu cực về những sách vở thần học của cha Jon Sobrino.
    Sau cùng, tôi đến ăn tối tại trụ sở của các cha Claret. Tôi được xếp ngồi cùng bàn với cha Bề Trên tổng quyền, ngày mai ngài sẽ sang Đức để mừng người tiền nhiệm mình năm nay đã ngoài 80 tuổi. Tôi nhớ lại những năm tháng với họ ở tiểu chủng viện, tôi cũng nhớ Thánh lễ mở tay của mình, vì Thánh lễ ấy đã diễn ra ở đây trong ngôi nhà nguyện kế bên trụ sở của các cha Claret, nhà nguyện Sacra Cuore di Maria. Và tôi được đề nghị ký sổ lưu niệm, tôi đã viết: “Hôm nay tôi đã trở về với nguồn cội của mình. Ăn tối với các bạn, nhớ lại thời ở tiểu chủng viện, khi tôi học với các cha Claret. Chính nơi đây, tôi đã dâng Thánh lễ đầu tiên của mình vào năm 1945. Xin cảm ơn các bạn và xin Chúa chúc lành cho các bạn”.
    Thứ Sáu, 4 tháng 5
    Tôi đang băn khoăn nghĩ đến lý do chính yếu của chuyến đi Rô ma lần này, bên cạnh việc tham dự lễ tuyên chân phước cho cha Coll, vì thế tôi lại đến Phủ giáo hoàng để cố thuyết phục họ cho phép tôi được hội kiến với Đức thánh cha. Tôi không tìm thấy Đức cha Martin, nhưng tôi để lại một địa chỉ tiện lợi hơn để ngài có thể báo cho tôi câu trả lời, tôi cũng nhắn rằng tôi sẽ gọi cho ngài khi ngài có mặt ở văn phòng.
    Tôi vẫn còn nghĩ ngợi rất nhiều về thái độ của các đấng đối với một mục tử giáo phận, thực tế thì tôi đã xin được hội kiến với Đức thánh cha từ nhiều ngày rồi. Nhưng các đấng vẫn chần chừ chưa trả lời, và tôi e rằng các đấng sẽ không cho tôi được hội kiến do có nhiều giám mục đang thực hiện ad limina. Và còn nhiều lý do khác nữa để các đấng dành ưu tiên cho những người khác.
    Tôi phó thác việc này trong tay Chúa. Tôi thưa với Chúa rằng tôi đã làm hết sức mình, rằng dù cho điều gì xảy ra, tôi vẫn tin và yêu mến Giáo hội thánh thiện của Người, và với ơn Chúa, tôi sẽ luôn trung thành với Tòa Thánh, với giáo huấn của Đức thánh cha; và tôi hiểu khía cạnh con người giới hạn và khiếm khuyết nơi Giáo hội thánh thiện của Chúa, Giáo hội đó là khí cụ của ơn cứu độ nhân loại và là Giáo hội mà tôi muốn dấn thân phục vụ hết mình.
    Những cảm nghĩ siêu nhiên và đầy tính giáo hội ấy đã làm phong phú cuộc viếng thăm của tôi với Đức cha De Nicoló, một người bạn cũ của tôi hiện làm việc ở Bộ Giáo dục Công giáo. Tôi trò chuyện với ngài cách rất thân mật và tín cẩn về mối tương quan của tôi với các giám mục khác, với chính quyền, và với vị khâm sứ Tòa Thánh. Và do ngài hiểu rõ tính khí và nền đào tạo của tôi, nên ngài biết chắc rằng những thông tin tiêu cực báo cho Rôma về cung cách của tôi trong vai trò Tổng giám mục chắc chắn là đã bị cường điệu.
    Ngay sau đó, tôi đến thăm cộng đoàn các sơ Bethany. Có bốn sơ người Salvador và người Guatemala đang điều hành một nhà dành cho các sinh viên đại học tại số 172 Via Aurelia. Họ mời tôi đến dùng cơm trưa ở đó, và các chàng trai, một số đã có trình độ thực sự, cho thấy rất quan tâm tìm hiểu tình hình đất nước tôi, họ muốn xếp đặt cho tôi một cuộc gặp gỡ với các nhà báo khác vào buổi chiều trước giờ ăn tối. Tôi sẵn sàng nhận lời, do thấy sự chân thành của họ và bầu khí Công giáo tràn ngập ở nhà xuất bản nơi họ làm việc.
    Rồi tôi đi thăm các sơ dòng Thương Khó đang phục vụ tại một nhà dành cho các cha dòng Thương Khó, cũng như tại trụ sở của các ngài và tại nhà tĩnh tâm kề bên Nhà thờ Thánh Gioan và Thánh Phaolô nổi tiếng. Thánh Phaolô Thánh giá, vị sáng lập các dòng Thương Khó, đã được an táng tại đây.
    Đa số các sơ này – khoảng 10 người – là người Mêxicô và họ đã từng ở El Salvador. Họ rất vui khi thấy tôi đến thăm. Họ mời tôi dùng cơm trưa ngày mai với họ và cử hành Giờ Thánh cho họ. Tôi đồng ý, vì cảm kích trước tình cảm cũng như lời cầu nguyện của họ hiệp thông với tình hình Giáo hội El Salvador của chúng tôi. Họ đã vui vẻ đưa tôi đến cộng đoàn các sơ Bethany cho kịp giờ bữa tối và cho cuộc phỏng vấn với báo chí mà tôi đã nói trên kia.
    Thứ Bảy, 5 tháng 5
    Hôm nay, tôi đi nhắc lại thỉnh cầu một cuộc hội kiến với Đức thánh cha. Đức cha Martin, sau khi trao đổi với các cộng sự của mình, đã vui mừng nói với tôi: “Tôi có tin tốt lành cho Đức cha, Đức cha sẽ được gặp Đức thánh cha vào thứ Hai. Chiều mai, Chúa nhật, Đức cha sẽ nhận được thông báo, chúng tôi sẽ cho biết giờ gặp. Tôi chân thành cảm ơn ngài và, tự nhiên, tôi dâng lời tạ ơn Chúa.
    Sau đó, tôi đến Quảng trường Minerva để xem các món mỹ nghệ thánh, hy vọng có thể tìm được một gậy giám mục mà tôi luôn thích. Nó giống như chiếc gậy Đức Phaolô VI đã từng dùng và Đức Gioan- PhaoLô II vẫn đang dùng. Tôi đã gặp được một thợ thủ công ở đó nhận làm cho tôi một chiếc gậy như thế. Mẹ Gloria hứa sẽ tìm người giúp trả chi phí, vì việc tôi trả tiền có thể sẽ bị diễn dịch theo cách tiêu cực. Cây gậy đó, vì thế, sẽ là một quà tặng từ dân chúng. Nó sẽ diễn tả Chúa Kitô trong hình dáng m5 cây gậy.
    Tôi đi ăn trưa với các sơ dòng Thương Khó tại tu viện Thánh Gioan và Thánh Phaolô. Và tại đó tôi đã nghỉ ngơi và dâng Thánh lễ, giảng cho họ về chủ đề ơn gọi, rằng tất cả chúng ta đã được Thiên Chúa kêu gọi, vì thế phải cộng tác với Chúa trong công cuộc của Ngài, và thực thi tinh thần của vị Mục tử Tốt lành đối với mọi người. Các sơ dòng Thương Khó đã đưa tôi trở lại nơi lưu trú, nơi tôi ăn tối với các sơ Đa minh và chia sẻ với họ giờ thư giãn buổi tối.
    Chúa Nhật, 6 tháng 5
    Sau khi dâng Thánh lễ riêng tại nhà nguyện các sơ Đa minh, tôi đến Quảng trường Thánh Phêrô để hòa nhập với công chúng qui tụ vào trưa Chúa nhật đọc kinh Nữ Vương Thiên Đàng với Đức thánh cha. Mẹ Gloria và sơ Juana đã đợi tôi ở đó, và sau đó cùng đi ăn trưa tại Castel Gandolfo. Đó là một cuộc dã ngoại thú vị, chỉ tiếc là trời kéo mây dày đặc và đôi lúc đổ mưa. Và trong nhà ăn thơ mộng nhìn ra hồ nước mờ mờ ảo ảo, chẳng thấy gì rõ ràng, tôi thậm chí không thể nhìn thấy cảnh đồng quê. Nhưng tôi có thể nhận ra đây là nơi chốn rất đẹp, nơi Đức thánh cha đến nghỉ ngơi vào các kỳ nghỉ của ngài. Nó được bao quanh bởi các khu nghèo khổ, và trong bối cảnh như thế, vẻ nguy nga của dinh thự Castel Gandolfo, nhà nghỉ hè của Đức thánh cha, có lẽ quá nổi bật.
    Thứ Hai, 7 tháng 5
    Khi vừa thức dậy, tôi phải hoàn thành việc chuẩn bị những tài liệu cần thiết mà tôi muốn trao cho Đức thánh cha khi hội kiến với ngài. Có bốn bản tường trình từ các phái bộ nước ngoài đến El Salvador để tìm hiểu tình hình tại đất nước này. Cũng có những diễn tả sự liên đới, những tài liệu lên án hiện trạng, có tài liệu về việc tôi được đề cử giải Nobel, và có những tài liệu khác kể từ sau chuyến kinh lý tông tòa của Giám mục Quarracino rất nên được đính kèm với bản báo cáo sau cuộc kinh lý ấy. Tôi cũng đính kèm cả lá thư mà tôi đã viết cho ngài hồi tháng 11, vì tôi không chắc là thư ấy đã đến được tay Đức thánh cha.
    Lúc 12 giờ trưa, tôi được Đức thánh cha tiếp trong một cuộc hội kiến riêng. Ngài ngồi tại bàn làm việc và mời tôi ngồi xuống. Tôi bỏ mũ zucchetto xuống, và cầm trong tay. Nhưng Đức thánh cha nói cứ đặt lại trên đầu. Ngài bắt đầu hỏi về tình hình đất nước tôi. Tôi cung kính xin phép ngài cho tôi trình bày theo bản ghi nhớ mà mình đã viết, ngài vui vẻ đồng ý. Chúng tôi bắt đầu đọc các văn bản, và tôi trao cho ngài các tài liệu liên quan. Khi tôi rút ra tập hồ sơ các tường trình của các phái bộ ngoại quốc về tình hình đất nước tôi, ngài cười khi thấy xấp hồ sơ khá dày, như nghĩ rằng sẽ không có thời gian để đọc hết được. Tôi xin lỗi ngài, và giải thích rằng ý định của tôi là để cho ngài nhờ người nghiên cứu và tóm tắt xấp tài liệu ấy, điều tôi mong muốn, đó là ngài nhận thức được các quan sát viên trung lập mô tả thế nào về tình hình bất công và những vụ đàn áp xảy ra tại đất nước chúng tôi. Tôi cũng trao cho ngài một hồ sơ với hình ảnh của cha Octavio [Ortiz] cùng những thông tin chi tiết về câu chuyện cha bị sát hại.
    Sau khi trình cho ngài bảy tập hồ sơ cùng với giải thích vắn gọn về mỗi hồ sơ, Đức thánh cha nêu nhận xét của ngài, bắt đầu từ điểm cuối cùng mà tôi vừa giải thích. Điểm đó nói về mong ước của tôi, đó là qua cuộc gặp gỡ này tôi muốn biết rõ đâu là những ý nghĩ thực sự của Đức thánh cha, và bằng cách nào có thể phục vụ tốt hơn dân chúng của mình. Đức thánh cha nhìn nhận rằng công việc mục vụ rất khó khăn trong một bối cảnh chính trị như tôi đang kinh nghiệm. Ngài đề nghị cần phải rất quân bình và thận trọng, đặc biệt khi lên án những tình hình cụ thể nào đó. Ngài cho rằng tốt nhất là giữ vững các nguyên tắc, bởi vì có nguy cơ phạm sai lầm khi đưa ra những tố cáo cụ thể.
    Tôi giải thích rõ cho ngài (và ngài thừa nhận là đúng) rằng có những trường hợp – ví dụ vụ sát hại cha Octavio – trong đó sự tố cáo phải rất cụ thể, bởi vì sự bất công và sự đàn áp đã diễn ra rất là cụ thể. Đức thánh cha nhắc lại hoàn cảnh của ngài ở Ba lan, trong đó ngài đã phải đối mặt với một chính quyền không phải Công giáo, và ngài phải phát triển Giáo hội bất chấp những khó khăn. Ngài nói rằng sự hiệp nhất của các giám mục thật rất quan trọng. Và ngài lại nhắc đến thời gian còn là một mục tử ở Ba lan, ngài cho biết việc giữ được sự hiệp nhất giữa các giám mục là điều then chốt. Một lần nữa, tôi giải thích rõ với ngài rằng đó cũng là điều tôi rất mong muốn, nhưng tôi cũng ý thức rằng hiệp nhất không thể giả tạo. Hơn nữa, hiệp nhất phải được đặt nền trên Phúc Âm và trên sự thật.
    Đức thánh cha đề cập đến bản phúc trình sau cuộc kinh lý tông tòa của Đức cha Quarracino. Ngài nhận ra rằng tình hình thật vô cùng tế nhị, và ngài đã đề nghị rằng để giải quyết những khiếm khuyết trong việc mục vụ và tình trạng thiếu hòa hợp giữa các giám mục, thì cần bổ nhiệm một giảm quản tông tòa cho tình trạng không trống tòa (sede plena).
    Cuối cuộc hội kiến, sau khi Đức thánh cha đã cho tôi cơ hội nói lên suy nghĩ của mình, đồng thời ngài cũng đã chia sẻ quan điểm của ngài, thì ngài đề nghị chụp hình kỷ niệm với tôi, và tặng tôi một số món quà lưu niệm. Ngài đặt các tập hồ sơ qua một bên và tiếp tục với những cuộc hội kiến còn lại.
    Tôi ra về, trong lòng rất vui mừng nhưng cũng lo âu, không biết những báo cáo tiêu cực về việc mục vụ của tôi đã ảnh hưởng đến Đức thánh cha mức nào, mặc dầu trong thâm sâu tôi nhớ ngài đã khích lệ “hãy can đảm và dũng cảm, nhưng đồng thời cũng phải thận trọng và quân bình”. Mặc dù tôi không hài lòng hoàn toàn với cuộc hội kiến nhưng tôi nghĩ nó cũng hữu ích, vì Đức thánh cha đã rất thẳng thắn. Tôi nhận ra rằng mình không thể lúc nào cũng kỳ vọng người ta hoàn toàn tán thành mình, và sẽ hữu ích hơn nếu biết lắng nghe sự phê bình có thể được vận dụng để cải thiện công việc của mình.
    Sau cuộc hội kiến, cha Toral đã chờ sẵn, ngài đưa tôi về chỗ của ngài là nhà của các cha và các thầy dòng Thánh Giuse, ở Santa Villa… và tôi đã ăn trưa ở đó. Mẹ Maria Castro Llerena cũng có mặt ở đó. Mẹ đã cất công đi hơn một giờ đến Rôma để gặp tôi. Chúng tôi trao đổi với nhau về người em họ của Mẹ, là Đức cha Castro Pena, và những ký ưc về quê hương yêu dấu của chúng tôi (vì Mẹ cũng là người Savador).
    Đến trưa, Mẹ Gloria và sơ Juana dùng xe bán tải đưa tôi đi gặp người thợ thủ công đang làm chiếc gậy cho tôi, và Mẹ Gloria đã vận động được một mức giảm giá đáng kể, cũng như yêu cầu có một sự thay đổi trong mẫu thiết kế. Rồi tôi đi lấy những y phục mà mình đã đặt tại cửa hiệu may mặc dành cho giáo sĩ. Tôi trở về, dùng bữa tối với các Nữ Hiến sĩ Tình yêu Thiên Chúa. Sau bữa tối, tôi trở lại nhà các sơ Đa minh là nơi tôi cư trú.
    Thứ Ba, 8 tháng 5
    Ở Rôma, thời gian trôi qua vùn vụt. Tôi đã dự định làm một việc gì đó trước cuộc gặp gỡ sáng hôm nay với Đức hồng y Baggio lúc 11 giờ. Tuy nhiên, tôi chỉ có thể sắp xếp vài việc với người thợ may vốn chưa hoàn thành đơn hàng của tôi. Và tôi đến Quảng trường Thánh Phêrô để cầu khấn với các vị Giáo hoàng vĩ đại được an táng dưới tầng hầm Đền thờ, các ngài đã trao cho tôi rất nhiều cảm hứng và sự hướng dẫn trong cuộc đời tôi, và để giữ khoảnh khắc hồi tâm trước khi đi nói chuyện về những vấn đề rất quan trọng tại Bộ Giám mục do Đức hồng y Baggio đứng đầu.
    Ở Quảng trường Thánh Phêrô, tôi đã tình cờ gặp Đức ông Eduardo Casuli, vốn là thư ký tại Toà khâm sứ. Tôi nghĩ thời gian đó Tổng giám mục [Bruno] Torpigliani làm việc ở El Salvador. Ngài rất nồng nhiệt.
    Chúng tôi chia sẻ nhiều kỷ niệm, và ngài hiểu tình cảnh khó khăn của tôi. Ngài nói rằng ngài thường nghĩ đến tôi và cầu nguyện cho tôi trở nên một mục tử xứng đáng những hoàn cảnh ấy.
    Cuộc nói chuyện với Đức hồng y Baggio rất thân mật, mặc dù tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một sự gay cấn nào đó tương tự như lần trước, hồi năm ngoái. Ngài thực sự muốn gặp tôi, và ngài nói sẽ rất ngạc nhiên nếu tôi đến Rôma mà lại không đến gặp ngài. Tôi nói với ngài rằng tôi đã cố gắng để xin hội kiến với ngài ngay từ ngày đầu tiên tôi đến Rôma, nhưng vì những công việc bận rộn của ngài nên cuộc gặp gỡ đã không được xếp lịch sớm hơn.
    Ngài bày tỏ những mối bận tâm của ngài, đặc biệt về sự chia rẽ giữa các giám mục và về trường hợp của vị giám mục phụ tá. Và ngài đã thừa nhận rất thẳng thắn rằng giám mục phụ tá đã phạm sai lầm khi ký giấy cho phép thay đổi quy chế Caritas, việc đó nên được làm bởi Tổng giám mục; và vị giám mục phụ tá, trong tư cách là tổng đại diện, phải đồng thuận trước với những thay đổi ấy. Tuy nhiên, nếu giám mục phụ tá biết Tổng giám mục không đồng ý, thì lẽ ra không nên ký như vậy. Nhưng Đức hồng y cũng nói rằng tôi đã nghiêm khắc trong quyết định cách chức vị giám mục phụ tá và đặt vị ấy vào tình trạng bị treo.
    Tôi đã cố gắng giải thích toàn bộ câu chuyện đó, vì tôi cũng nhận ra rằng một trong những lý do mà Đức cha Revelo đưa ra để biện minh cho hành động của ngài, đó là: Caritas bị chính trị hoá và bị kiểm soát bởi nhóm du kích. Tương tự như một lý do rằng lúc ấy tôi đang ốm và đang nằm viện. Tôi đã giải thích với Đức hồng y rằng chẳng lý do nào trong hai lý do ấy đủ để biện minh cho hành động của Đức cha Revelo.
    Đã có sự đề cập đến chuyến kinh lý tông tòa và ý kiến mà Đức giáo hoàng nhắc đến với tôi ngày hôm qua, đó là, giải quyết tình hình này bằng việc bổ nhiệm một vị giám quản tông toà cho trường hợp không trống toà (sede plena). Nhưng Đức hồng y Baggio nghĩ rằng đó là một giải pháp không thực tế lắm, bởi lẽ ngài không thấy bất cứ ai trong số các giám mục hiện nay có thể làm giám quản tông toà và có thể làm việc tốt với tôi. Và việc đưa một ai đó ngoài nước vào cũng có vẻ là một ý tưởng vô lý đối với tình hình của đất nước chúng tôi. Vì thế, vấn đề vẫn còn đang được suy xét. Tôi nêu rõ với ngài rằng tôi sẵn sàng làm bất cứ gì có thể để giải quyết tình cảnh này.
    Tôi đã đề cập đến những báo cáo mà tôi đã trình lên Đức giáo hoàng, những báo cáo này rất khách quan, và nói với ngài rằng chúng thể hiện một tình trạng bách hại Giáo hội thực sự. Tôi đặc biệt đề cập đến báo cáo của OAS và sự nhấn mạnh của nó trong việc yêu cầu chính phủ ngăn chặn sự bách hại có hệ thống đối với Giáo hội Công giáo trong sứ mạng loan báo Tin Mừng của mình. Đức hồng y rất cảm thông khi nói với tôi: “Chúng ta không đang đối phó với kẻ thù, mà là với những người cùng làm việc vì một mục tiêu chung, và do đó, đã có sự đồng thuận đến 90%. Còn sự đồng thuận 100% thì dựa trên sự thật và trên Tin Mừng.”
    Tôi nói với ngài rằng những lời của ngài đã khích lệ tôi rất nhiều, và nỗi buồn nơi tôi sau buổi hội kiến ​​Đức thánh cha đã được thay thế bằng niềm hy vọng rằng tình hình của tôi và của giáo phận sẽ có giải pháp, nếu chúng ta tiếp tục tìm kiếm với thiện chí và với tình yêu đối với Giáo hội.
    Ngài có vẻ hài lòng. Chúng tôi nói thêm về những vấn đề khác cho đến khi hết thời gian. Ngài đã tặng tôi hai quyển sách và bày tỏ sự sẵn lòng trợ giúp của ngài đối với tôi trong việc phục vụ Giáo hội.
    Tôi cảm thấy an lòng khi rời khỏi đó, và khi đang rời đi, thật là một sự quan phòng vì tôi tình cờ gặp Đức ông De Nicoló, một người bạn tốt. Tôi nói với ngài rằng tôi muốn chia sẻ chút riêng tư, để ngài có thể giúp tôi sự hướng dẫn thiêng liêng, đó là về cảm nghĩ và trạng thái tâm trí của tôi hôm qua và hôm nay. Ngài đã cho tôi sự hướng dẫn rất rõ ràng, được thúc đẩy bởi tình yêu lớn lao của ngài dành cho Giáo hội. Ngài nói với tôi rằng trong tình hình như thế, thì nhân đức, đặc biệt đức khiêm nhường là một chìa khoá tuyệt hảo mở ra một giải pháp tuyệt vời. Ngài nói ngài chắc chắn rằng thiện chí đang bao trùm trong giáo triều, nơi mà nhiều thay đổi đáng kể đã xảy ra, và như một người kinh ngiệm điều đó, ngài có thể bảo đảm với tôi rằng có một sự sẵn sàng để trợ giúp những ai phục vụ Giáo hội tại những nơi khác nhau bằng bất cứ cách nào có thể, và rằng Đức giáo hoàng đương nhiệm đang có những ảnh hưởng rất tốt cho giáo triều và cho toàn Giáo hội.
    Ngài đã trao cho tôi một vài hướng dẫn thực tế về cách để tiếp cận Quốc vụ khanh Tòa thánh – nhắc lại đề nghị trước đó, rằng tôi cần coi tất cả như một thông điệp từ Thiên Chúa, Đấng đang tìm kiếm ngay cả trong hoàn cảnh của tôi một giải pháp có ích lợi cho Giáo hội. Tôi cần hết sức cẩn thận để không phản ứng mạnh hơn, vì rất có thể Đức thánh cha và Đức hồng y Baggio đang xem xét phản ứng của tôi khi các vị nêu ý kiến về một vị giám quản tông tòa. Nếu tôi phản ứng tiêu cực, thì mọi thứ coi như hết. Tôi cần khiêm nhường và kiên nhẫn, viết thư cho Quốc vụ khanh Tòa thánh, trình bày với ngài những ấn tượng và những đề nghị của mình, chẳng hạn, về một Khâm sứ Toà thánh trong tương lai có khả năng làm việc tốt với Tổng giám mục và có thể đảm nhận vai trò khó khăn được đề nghị cho vị giám quản tông toà trong khả thể.
    Tôi nghĩ rằng tôi đã hiểu điều mà ngài nói với mình, và tôi sẽ cố gắng làm như ngài đề nghị, với thiện chí đối với Giáo hội mà tôi vẫn luôn cố gắng để gìn giữ và phát triển, nhờ sự trợ lực của Chúa.
    Sau đó, tôi đã đến đài phát thanh Vatican, theo lời mời của cha Sucirez, người phụ trách các chương trình phát thanh cho Mỹ La tinh. Ngài đã ghi âm một cuộc phỏng vấn với tôi về tình hình Giáo hội ở El Salvador, về công việc của tôi, và về những ấn tượng của tôi trong cuộc gặp gỡ Đức thánh cha. Tôi tóm tắt tình hình của chúng tôi và công việc của tôi, về những gì tôi dự định. Và, quan trọng nhất, tôi nói rằng tôi cảm thấy rất lạc quan sau cuộc gặp gỡ Đức thánh cha, bởi vì tôi đã nhận ra rằng ngài biết cách lắng nghe, và thật dễ nhận thấy rằng ngài muốn tìm hiểu về thực tế của vùng Mỹ La tinh chúng tôi. Vì thế, tôi nghĩ rằng tất cả chúng ta, những người có vinh dự được nói chuyện trực tiếp với Đức giáo hoàng, có một trách nhiệm lớn lao là thông tin cho ngài – không phải dựa trên quan điểm riêng của mình, nhưng là thông tin càng nhiều càng tốt về thực tế của Giáo hội tại các nước chúng ta.
    Với cha Smirez và người phụ trách các chương trình cho Tây Ban Nha, tôi đã đến nhà dòng Tên, nơi ở của tất cả các cây bút và các nhân viên đài phát thanh (khoảng ba mươi người), để ăn trưa với họ và trò chuyện cùng họ sau bữa ăn, rất thắm tình huynh đệ. Như thường lệ, cha Juan Bosco cho tôi sử dụng phòng của ngài để chợp mắt một chút, điều này rất tuyệt.
    Sau đó, cha Juan Bosco đi cùng tôi để sắp xếp cho chuyến trở về của tôi, với những điểm dừng ở Barcelona và Madrid để thăm nơi sinh ra của dòng Đa minh, chính dòng này đã ưu ái cung cấp cho tôi chuyến đi Châu Âu lần này để dự lễ tuyên chân phước cha Coll.
    Sau đó, tôi lấy quần áo của mình tại tiệm may của Mangenelli, bạn tôi, người rất sốt sắng trong tất cả các công việc làm cho tôi. Tôi cũng đã mua một số hình ảnh Đức Gioan Phaolô II để trưng bày trong tất cả các nhà xứ, nhưng cửa hiệu Soprani danh tiếng ấy quá đông đúc người mua sắm, và thật khó để tôi mua được bất cứ thứ gì khác. Tôi dành khoảng thời gian cuối ngày để ăn tối cùng các Nữ Hiến sĩ, họ đã đưa đón tôi đến nhà của họ và trở về lại nơi lưu trú của mình tại nhà các Nữ tu Đa minh, nơi tối nay tôi chuẩn bị hành lý cho chuyến đi vào ngày mai.
    Thứ Tư, 9 tháng 5
    Sau khi cảm ơn các Nữ tu Đa minh, được đại diện bởi vị Bề trên tổng quyền và vị giám tỉnh Trung Mỹ, về quà tặng rất hào phóng của họ dành cho tôi là chuyến đi đến Rôma này, tôi đã chúc mừng họ về các nghi thức và các cử hành mừng vị sáng lập được tuyên chân phước của họ là cha Francisco Coll. Tôi nói lời tạm biệt họ, vì tối nay tôi sẽ bắt đầu chuyến trở về, trong chuyến về này, tôi sẽ dừng chân ở Barcelona, Madrid và rồi về El Salvador.
    Sau đó, tôi đã đến thăm Đức hồng y Pironio, theo lịch hẹn tôi có một cuộc hội kiến với ngài vào lúc 11 giờ 30. Giao thông quanh Vatican thật không thể hình dung nổi. Buổi tiếp kiến chung thu hút rất đông người và xe cộ; những xe buýt lớn chở du khách và khách hành hương chiếm hết các con đường gần Quảng trường Thánh Phêrô.
    Nhưng tôi chỉ đến muộn vài phút, và tôi vẫn phải đợi một chút nữa để gặp Hồng y Pirinio. Ngài đã tiếp tôi với một cung cách thân ái và huynh đệ đến nỗi chỉ một cuộc gặp gỡ này đã đủ để khiến tôi cảm thấy tràn ngập niềm an ủi và khích lệ. Tôi tin tưởng giải thích cho ngài về tình hình của tôi tại giáo phận và với Tòa Thánh.
    Ngài ân cần lắng nghe tôi, chia sẻ với tôi về những gì ngài cũng đang phải chịu đựng, ngài cảm nhận thật sâu sắc các vấn đề của Châu Mỹ La tinh; và rằng, mặc dù những vấn đề ấy sẽ chẳng bao giờ được hiểu thấu đáo bởi các chức sắc cao cấp trong Giáo hội, thì chúng tôi vẫn phải tiếp tục kiên nhẫn làm việc, tiếp tục thông tin cho bề trên nhiều nhất có thể về thực tế của chúng tôi. Ngài nói: “Điều tồi tệ nhất mà Đức cha có thể làm là đành chịu buông xuôi”. “Hãy can đảm lên Romero”, ngài đã lặp lại nhiều lần với tôi như vậy.
    Tôi rời đi sau khi cảm ơn ngài về các lời khuyên, về một cuộc trò chuyện thân mật huynh đệ, và tôi nhận thấy rằng ngài đã truyền vào tâm hồn tôi sức mạnh rất lớn, như một thành quả của chuyến đi Rôma này.
    Khi tôi đang trên đường trở về từ Bộ Tu sĩ, cơ quan mà Đức Hồng y Pironio là người đứng đầu, tôi dừng lại ở Quảng trường Thánh Phêrô, nơi Đức giáo hoàng vẫn đang gửi những sứ điệp bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau và mọi người hoan nghênh ngài với sự háo hức và những tràng pháo tay. Nhưng phía bên ngoài nơi tôi đang đứng, có quá nhiều sự nhốn nháo mất trật tự. Các chàng trai trẻ và các khách du lịch đang ồn ào và không lắng nghe tiếng nói của vị mục tử. Điều này giúp tôi nhận ra tình trạng các thính giả của mình như thế nào, tuy nhiên tôi hiểu rằng chúng ta vẫn phải gieo các hạt giống. Và Đức giáo hoàng cũng đang gieo như vậy một cách không mệt mỏi, đang hành động trong tư cách một mục tử, người cung cấp dồi dào thức ăn giáo huấn thiêng liêng cho dân chúng, phần còn lại tùy thuộc họ có lựa chọn đón nhận nó hay không.
    Rồi tôi đi đến trụ sở của dòng Tên, tại đây, cha Juan Bosco đã sốt sắng dẫn tôi tham quan khu vườn, sau đó dùng cơm trưa; cha nhường phòng cho tôi ngả lưng. Sau đó, chúng tôi đồng tế Thánh lễ. Rồi cha giúp tôi gọi một cuộc điện thoại về El Salvador, gọi cho Đức ông Urioste, cuộc trò chuyện này của chúng tôi được ghi âm để phát trên YSAX.
    Đức ông cho tôi biết tình hình rất khó khăn, bạo lực đang leo thang trong nước. Vụ việc nghiêm trọng nhất là xung đột giữa Khối Cách mạng Bình dân với lực lượng an ninh gần Nhà thờ Chính tòa. Ngài cho tôi biết rằng trong Nhà thờ Chính tòa San Salvador, người ta đã đặt chín thi thể của những người bị giết trong vụ nói trên, và người ta tin rằng con số người chết còn nhiều hơn nữa.
    Tôi đã dùng cơ hội này để gửi một sứ điệp hòa bình cũng như để truyền tải sứ điệp của Đức giáo hoàng đến với họ. Trong cuộc hội kiến của tôi với ngài, ngài đã nhắc lại vụ sát hại Aldo Moro hồi năm ngoái.
    Sau cuộc nói chuyện qua điện thoại với Đức ông Urioste, với thông tin nhận được và với những gì tôi truyền đạt, nhất là về cuộc hội kiến riêng của tôi với Đức thánh cha, liên hệ mọi sự với tình hình bi thảm hôm nay tại Nhà thờ Chính tòa San Salvador, tôi đã đi thăm Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô lần cuối cùng. Và bên mộ của thánh Piô X, tôi đã tha thiết cầu nguyện, tôi nghĩ đến tất cả những sự chuyển cầu mà mộ thánh Phêrô và mộ của các vị giáo hoàng gần đây nhất đem lại cho tôi. Sau đó, tôi đi mua một số đồ lưu niệm tại khu chợ gần Quảng trường Thánh Phêrô, nơi họ bán báo Osservatore Romano, và rồi các Nữ Hiến sĩ Tình Yêu Thiên Chúa đưa tôi ra sân bay.
    Hành trình từ Rôma đến Barcelona rất suôn sẻ. Tại Barcelona, lúc 11 giờ đêm, Mẹ Grau và một nữ tu Đa minh khác đang đợi tôi. Họ đưa tôi đi bằng taxi, với anh tài xế rất dễ thương, rất cởi mở, xe chạy qua các con phố chính của Barcelona, đặc biệt là chạy quanh Nhà thờ Thánh Gia (Sagrada Familia). Sau đó, chúng tôi đến Vich, tại đây họ đưa tôi vào một căn nhà nhỏ mà các Nữ tu Đa minh dùng làm nhà khách cho các linh mục. Chúng tôi lên kế hoạch ngày mai sẽ ghé thăm sinh quán của cha Francisco Coll. Thị trấn Vich này cũng rất có ý nghĩa đối với tôi, vì đó là quê hương của cha Claret. Các nhà thừa sai của ngài đã truyền cảm hứng cho tôi trong những năm đầu tiên ở chủng viện.
    Thứ Năm, 10 tháng 5
    Ở Tây Ban Nha, mặt trời mọc lên sớm hơn một giờ, vì có sự chênh lệch múi giờ giữa Ý và Tây Ban Nha. Tôi cảm thấy như còn rất sớm, nhưng thực tế thì đã 8 giờ sáng. Tôi thay trang phục thật nhanh và đi ăn sáng với các nữ tu tại nhà của dòng Đa minh ở Vich. Đó là một cộng đoàn lớn, bởi họ điều hành một trường học, một viện dưỡng lão dành cho các nữ tu của họ, và nhiều trung tâm hoạt động tông đồ rất hiệu quả trong thành phố này, vốn là cái nôi sinh ra hội dòng của họ.
    Sau bữa sáng, tôi đi cùng Mẹ Grau và một nữ tu khác, người phụ trách lưu trữ văn thư và bộ sưu tập các kỷ vật của cha Coll, chúng tôi đến thăm bảo tàng này. Có rất nhiều thông tin về các hoạt động của hội dòng này trên toàn thế giới. Tôi đã ghi chép một chút để có thể nói về sức sống mãnh liệt của hội dòng này, như một sự đáp trả lời mời ưu ái của họ dành cho tôi, để tham dự lễ tuyên chân phước cho đấng sáng lập của họ.
    Sau đó, chúng tôi đến thăm Nhà thờ Chính tòa ở Vich, nó đã được xây dựng lại hai lần, lần cuối cùng là sau Nội chiến Tây Ban Nha. Nhà thờ rất đẹp và kiến ​​trúc hiện đại của nó rất hài hòa; trong tầng hầm, người ta vẫn có thể thấy một phần của nhà thờ nguyên thủy. Cho đến nay, đã có hai lần xây dựng lại sau đó. Theo như họ kể, các bức tranh đã được vẽ lại ba lần, vì lần đầu tiên chúng bị thất lạc hoặc bị đánh cắp. Lần thứ hai, chúng bị phá hủy bởi những người Cộng sản trong cuộc nội chiến. Cuối cùng, nghệ nhân, người tự mình thực hiện việc trang trí từ Paris, đã tạo ra những thiết kế hiện đang tô điểm cho nhà thờ một cách tuyệt đẹp. Tu viện vẫn giữ nguyên kiến ​​trúc ban đầu, theo phong cách Gothic, và rất thú vị.
    Tôi cũng thật vinh dự được viếng thăm mộ của cha Antonio Maria Claret, vị sáng lập dòng Claret. Có rất nhiều di vật và một ngôi nhà thờ nguy nga tráng lệ. Ở chính giữa là thi thể của ngài, với phẩm phục giám mục và đeo mặt nạ bạc. Thú vị nhất là họ đã tái thiết lại những nơi ghi dấu chứng sự khai sinh của hội dòng dâng hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ này. Một bức chân dung đặt ở phía sau với chiều cao một mét rưỡi của ngài; cha Claret có dáng người thấp bé. Tên của cha và các vị sáng lập khác cũng được giới thiệu: những cái tên ấy tôi đã được học trong những năm đầu tiên ở chủng viện, vì tôi bắt đầu được đào tạo cho chức linh mục bởi hội dòng này, sau đó hội dòng được Đức cha Dueiias chuyển đến San Miguel. Tôi nhắc nhớ lại điều này cùng các linh mục ở đó, họ cảm ơn vì tôi đã ghé thăm. Tôi cũng cảm ơn họ vì sự tiếp đón rất thân tình.
    Sau bữa trưa, chúng tôi đi đến thị trấn nơi Cha Francisco đã sinh ra [Salient]. Từ Vich đi khoảng bốn mươi cây số, đó là một hành trình rất đẹp vào một buổi chiều xuân rực rỡ. Thị trấn nhỏ hiện lên trên sườn núi, như nói lên nguồn cội của con người thánh thiện ấy, ngôi nhà của ngài đã được phục dựng bởi hội dòng mà ngài thành lập. Họ cũng có một nhà tĩnh tâm tại đó với khung cảnh rất đẹp và bình yên, được điểm tô bởi những khu vườn, nơi mà qua thiên nhiên người ta cảm thấy mình gần gũi Thiên Chúa.
    Tôi cũng đã đến thăm ngôi nhà thờ nơi mà cha chịu Phép Rửa, và khi trở về, tôi dâng Thánh lễ với bốn nữ tu trong nhà nguyện nhỏ chứa đựng ngôi nhà nguyên thủy của cha Coll. Đó là một Thánh lễ rất sót sắng, làm tôi liên tưởng đến những nhu cầu to lớn tại đất nước mình. Các nữ tu và tôi cũng đã tha thiết cầu nguyện xin cho những vấn đề của đời sống mình trong Giáo hội và trong đất nước được giải quyết theo cách phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.
    Thứ Sáu, 11 tháng 5
    Hôm nay, tôi cử hành Thánh lễ tại nhà nguyện của các nữ tu lớn tuổi và bệnh tật. Tôi đã mời gọi họ hiệp thông cầu nguyện cho các nhu cầu của Giáo hội, và tôi nói với họ rằng họ là một sức mạnh rất lớn trong Giáo hội hoàn vũ. Sau ăn sáng, chúng tôi rời đi theo đường lớn đến Manresa, và chúng tôi đi qua rất gần chỗ cái hang nơi thánh Inhaxiô đã linh thao và đã viết quyển sách nổi tiếng về linh thao.
    Rồi chúng tôi theo con đường cao tốc tuyệt đẹp để đến đan viện Montserrat. Các đan sĩ Biển Đức đang chuẩn bị hát Thánh lễ trong tu viện. Họ hát bằng tiếng Catalán, nhưng với tâm tình và với tiết tấu Gregorian thực sự rất đánh động. Có rất đông người ở đó. Tôi đọc kinh Mân côi trước Đức Trinh Nữ Montserrat. Và rồi chúng tôi trở lại Barcelona.
    Mẹ Grau đã rất ân cần trong suốt chuyến đi đến Monserrat, đến Vich và đến thị trấn quê hương của cha Coll. Với lòng quảng đại, bà cũng sẵn lòng đưa tôi đến sân bay và để tôi ở nơi được gọi là “cầu hàng không”, một dịch vụ mà mỗi giờ có các chuyến bay qua lại giữa Barcelona và Madrid.
    Ở Madrid, sơ Raymunda đang đợi tôi. Sơ cũng thuộc dòng này và là người nữ tu đã bị trục xuất khỏi Guatemala. Sơ rất vui khi gặp lại tôi. Sơ đưa tôi đến chỗ của sơ, nơi mà sơ cùng với các nữ tu khác đang coi sóc một cư xá dành cho các công nhân và các sinh viên. Họ phục vụ rất tốt tại cơ sở này.
    Tôi gọi cho cha Pedro, dòng Thương Khó, người đã đưa Maria đi theo với mình – chị là một cây viết làm việc cho Vida Nueva, chị đã viết một bài báo rất hay và đã gửi số tiền kiếm được cho người nghèo trong Tổng giáo phận. Tôi rất vui mừng được gặp chị và được nói chuyện với cha Pedro Ferradas, chia sẻ với họ nhiều kỷ niệm và những ấn tượng trong cuộc sống của chúng tôi ở El Salvador. Chúng tôi nhất trí có một cuộc họp báo vào buổi tối, và sau giờ trưa, tôi đã đi với các sơ đến thăm nhà tĩnh tâm của họ ở một vùng núi rất đẹp cách Madrid chừng năm mươi kilômet. Ngôi nhà được gọi là El Roble và nhiều người đến đó để dành thời gian tĩnh tâm hoặc sống tình bằng hữu. Sau bữa tối ở Madrid, một số phóng viên đến, không chỉ để phỏng vấn tôi, mà còn để nói chuyện thân mật về tình hình Giáo hội, về những nỗi lo lắng cho châu Mỹ La tinh, về những ấn tượng của họ đối với Đức giáo hoàng, và về nhiều mối quan tâm khác. Tôi rất vui vì chúng tôi có thể chia sẻ những bận tâm của mình về các vấn đề của châu Mỹ La tinh. Tôi nói với họ rằng họ nhận một sứ mạng rất lớn từ Giáo hội, bởi vì họ rất nhạy cảm trước các vấn đề của chúng tôi. Còn ở châu Âu nói chung, tôi nhận thấy nhiều sự thờ ơ hoặc thiếu hiểu biết trước các vấn đề của châu Mỹ.
    Tôi đã ăn tối lúc 10 giờ đêm, giờ Madrid, cùng các nữ tu, đó là Raymunda và một sơ khác lái xe rất giỏi, đưa tôi đến sân bay, nơi tôi nói lời tạm biệt họ, cảm ơn họ về tất cả lòng từ tâm đối với tôi khi tôi ở châu Âu. Sau đó, tôi đợi chuyến bay của mình, sẽ khởi hành lúc 2 giờ 55 sáng và sẽ đến lúc 8 giờ 30 sáng, giờ San Salvador.
    Thứ Bảy, 12 tháng 5
    Vào lúc rạng sáng ngày thứ Bảy, ngày 12 tháng 5, chúng tôi đã ở Costa Rica sau một đêm rất dài, dài hơn tám tiếng so với bình thường, vì sự thay đổi múi giờ liên quan đến chuyến bay từ châu Âu đến châu Mỹ. Chúng tôi đi qua San Juan, Puerto Rico, qua San Jose, Costa Rica và đến El Salvador đúng 8 giờ 30 phút sáng. Chuyến đi bình an vô sự. Suốt chuyến đi, tôi đã cầu nguyện, đặt mình trong sự hiện diện của Chúa, xin Chúa soi sáng và giúp chúng tôi giải quyết tình hình nghiêm trọng mà tôi sẽ đối mặt khi trở về nước.
    Khi chúng tôi đến sân bay, một cơn mưa xối xả ập đến. Chúng tôi buộc phải rời khỏi máy bay với tay cầm dù. Tôi thấy một số bạn hữu, cả linh mục và giáo dân, đang đợi tôi, và cả các Nữ tu Đa minh tận tâm đến cùng trong việc quảng đại tặng tôi chuyến đi này, dịp tuyên chân phước đấng sáng lập của họ. Sau khi chào hỏi mọi người ở cửa sân bay Ilopango, tôi lên xe của các nữ tu về nơi ở của mình. Trước khi rời đi, tôi cũng đã nói ngắn gọn với Đức ông Urioste về các vấn đề, và chúng tôi đồng ý gặp nhau vào buổi tối, cùng với một số người khác nữa, để tôi được nghe về tình hình giáo phận trong tuần lễ bi thảm như thế. Họ đã kể cho tôi về rất nhiều bạo lực, về những thảm kịch đã xảy ra, nhưng với sự giúp đỡ của Chúa, chúng tôi sẽ biết cách đối phó với những điều ấy trong ánh sáng của Phúc Âm và trong Giáo hội.
    Tại sân bay, có một vài phóng viên chụp ảnh, nhưng không ai trong số họ hỏi tôi bất kỳ câu hỏi nào. Một số nhà báo nước ngoài đã thông báo rằng họ sẽ phỏng vấn tôi vào ngày mai sau Thánh lễ tại El Rosario, vì Nhà thờ Chính tòa vẫn còn bị chiếm đóng bởi Khối Cách mạng Bình dân.
    Một số phóng viên đến bất ngờ, tuy nhiên, tôi vẫn tiếp đón họ. Tôi nói với họ rằng tôi chưa thể đưa ra bất kỳ ý kiến ​​nào về các sự kiện mới nhất, bởi vì tôi vừa mới trở về và tối nay chúng tôi sẽ gặp nhau để phân tích tình hình. Và thực vậy, buổi tối, tôi đã gặp Đức ông Urioste, cha Moreno, cha Brito, các bạn trẻ Doris Osegueda và Bachiller Cuellar.
    Chúng tôi đã phân tích nhiều điểm liên quan tới tình hình hiện tại của đất nước. Chúng tôi quyết định tốt hơn nên dành một ngày hoặc thậm chí lâu hơn để suy nghĩ về một số yếu tố gây cản trở sự nhận hiểu tốt hơn về bối cảnh và dù thế nào chúng tôi cũng đào sâu phân tích về Giáo hội cũng như tình hình chính trị và xã hội. Sau cuộc trò chuyện thú vị này, chúng tôi đã chuẩn bị bản tóm tắt các sự kiện tuần qua mà tôi sẽ sử dụng trong bài giảng của mình vào ngày mai.
    Hai thanh niên từ Khối Cách mạng Bình dân đến xin tôi dâng một Thánh lễ tại Nhà thờ Chính tòa để cầu nguyện cho bốn người nữa, đã bị lực lượng chính phủ giết chết trong khi họ đang hoạt động trong tổ chức. Tôi đã phân tích yêu cầu này với các linh mục đang gặp tôi, và tôi nói với các vị ấy rằng tôi không hiểu nổi làm sao họ cho rằng tôi có thể thậm chí nghĩ đến việc dâng Thánh lễ theo yêu cầu của Khối họ, cho dù đó là cầu nguyện cho người chết, trong một nhà thờ mà họ đang chiếm đóng, trong khi tôi không thể cử hành Thánh lễ thường lệ ở đó lúc 8 giờ sáng chính vì sự chiếm đóng của Khối họ. Nếu tôi làm theo ý họ, thì Thánh lễ của chúng tôi dường như là công cụ của chiến lược và lý tưởng của Khối họ. Do đó, tôi nói với họ rằng, là Kitô hữu, chúng ta phải dâng Thánh lễ cầu nguyện cho những người chết này, nhưng tôi đề nghị rằng chúng ta nên dâng lễ đó trong Vương cung Thánh đường. Và linh mục quản nhiệm là cha Cortes sẽ phụ trách chương trình phụng vụ. Họ đã chấp nhận, và tôi nghĩ rằng đã giải gỡ được một trong những vấn đề không ngờ trước, vốn không dễ giải quyết vì những hệ lụy có thể xảy ra.
    Chúa Nhật, 13 tháng 5
    Vì Nhà thờ Chính tòa bị chiếm đóng, Thánh lễ Chúa nhật này diễn ra tại nhà thờ El Rosario, với đầy người tham dự, có cả những người tràn ra ngoài – họ rất quan tâm, nhận ra sự hiện diện của tôi, họ chào đón bằng những tràng pháo tay nồng nhiệt. Tôi đi mặc lễ phục, và cùng với các cha Đa minh và các chủng sinh, chúng tôi bắt đầu đoàn rước về phía bàn thờ. Các nữ tu Đa minh Truyền tin và một số học sinh từ các trường của họ được dành chỗ nổi bật, vì Thánh lễ này để tôn vinh cha Francisco Coli Gitard mới được tuyên chân phước, và các nữ tu Đa minh phụ trách phụng vụ hôm nay.
    Bài giảng thuật lại chuyến đi Rôma của tôi theo lời mời và với sự bảo trợ của các nữ tu Đa minh, với mục đích chính là tham dự lễ tuyên chân phước cho cha Coll. Tôi kể cho họ về những chuyến đi của mình ở Tây Ban Nha và những cảm nghĩ khi tôi nghe về những gì xảy ra ở El Salvador. Trọng tâm bài giảng là bài Tin Mừng về cây nho và cành nho, gợi cho tôi chủ đề “ân sủng như một quà tặng của Mùa Phục sinh”. Tôi đã áp dụng ý tưởng này vào thực tế ở El Salvador trong tuần này, đặc biệt là vụ thảm sát ngày 8 tháng 5. Bất kỳ ai muốn biết thêm thông tin về những nhận thức này liên quan đến thực trạng quốc gia của chúng tôi trong tuần bi thảm vừa qua đều có thể tìm xem lại bài giảng (ghi lại mỗi Chúa nhật) với những lời chính xác mà tôi đã nói trong dịp này.
    Có nhiều phóng viên và đoàn làm phim truyền hình tại Thánh lễ, họ đã ghi lại nhiều chi tiết về Thánh lễ của chúng tôi. Khi Thánh lễ kết thúc, chúng tôi đã tổ chức một cuộc họp báo với họ trong hội trường của trường học giáo xứ El Rosario. Thật thú vị, vì những câu hỏi họ đặt ra đã gợi lên một số vấn đề thời sự và rất kịp thời, trong bối cảnh tình hình của đất nước và mối liên hệ với những gì đang diễn ra ở phần còn lại của thế giới.
    Sau đó, tôi đi ăn trưa với các nữ tu Đa minh tại Colegio de Fatima ở Santa Tecla. Các linh mục Đa minh, các cha Marist từ Santa Tecla, và các nhóm nữ tu Đa minh khác làm việc trong Tổng giáo phận cũng có mặt ở đó.
    Đó là những điều quan trọng nhất – ồ không, tôi đã quên rằng vào buổi tối, chúng tôi được mời đến khách sạn Camino Real để xem một bộ phim tài liệu về những vụ việc xảy ra tại Nhà thờ Chính tòa được ghi hình bởi một phóng viên truyền hình. Đáng tiếc là băng thu hình hiện đang lưu hành ở nước ngoài. Tuy nhiên, vào ngày mai, chính người quay phim ấy sẽ cho chúng tôi biết việc sắp xếp một buổi chiếu phim này cho chúng tôi.
    Đó là những điều quan trọng nhất diễn ra vào Chúa nhật đầu tiên sau khi tôi trở về từ Rôma.
    Thứ Hai, 14 tháng 5
    Tôi đã dành buổi sáng đầu tiên sau khi trở về từ Rôma để làm việc tại văn phòng tòa giám mục, và đó là một buổi sáng rất bận rộn. Liên quan đến công việc mục vụ, tôi đã gặp cha Benito Tovar, quản hạt La Libertad. Ngài giới thiệu một chàng trai tên là Astul Guirola. Cậu ấy đã hoàn thành chương trình thần học – cậu đến từ giáo phận Santa Ana, sẽ được truyền chức linh mục và có thể sẽ làm việc trong một thời gian, nếu muốn, như một linh mục trong Tổng giáo phận của chúng tôi. Tôi đã viết một vài dòng cho cậu ấy để ủng hộ nguyện vọng mà cậu ấy sẽ gửi để xin phép giám mục của mình, là Đức cha Barrera. Tôi cũng chào thăm các linh mục đã đến văn phòng, và cả các nữ tu nữa, những người cùng chia sẻ với chúng tôi các mối quan tâm mục vụ và giáo hội.
    Các sự kiện quan trọng nhất hôm nay liên hệ tới các vấn đề chính trị và ngoại giao, vì tôi đã tiếp ông đại sứ Peru, người đã mang đến một lời thỉnh cầu của đại sứ Venezuela, vốn đang bị Khối Cách mạng Bình dân quản chế trong chính đại sứ quán của mình. Ông đề nghị Giáo hội làm trung gian. Tôi nói rằng chúng tôi sẵn sàng, nhưng tôi lưu ý rằng cũng cần phải có thỉnh cầu như vậy đến từ Khối Cách mạng kia, vì sự trung gian giả thiết một yêu cầu từ cả hai phía. Dù sao, tôi hứa với ông ấy rằng tôi sẽ nghiên cứu thỉnh cầu ấy, và dĩ nhiên tôi đề nghị ông truyền đạt lại về sự sẵn sàng của Giáo hội cho đại sứ Venezuela, và tôi bảo đảm với ông về mong muốn của chúng tôi là làm tất cả những gì có thể để giúp bình thường hóa tình hình này.
    Cũng có sự ghé thăm của một đặc phái viên từ Pháp đang cố gắng giải quyết tình trạng bị chiếm đóng của đại sứ quán, nơi đại sứ và những người khác đang bị bắt làm con tin. Tôi cũng hứa sẽ hết lòng giúp đỡ và mời ông ấy tham dự một cuộc họp mà Đức ông Urioste, Tổng đại diện, và tôi đang thực hiện cùng với những người phụ trách văn phòng Truyền thông, cha Rafael Moreno, cha Pedraz, cha Fabian Amaya và cha thư ký Brito. Với các vị ấy và với đặc phái viên người Pháp, chúng tôi đã thảo luận về tất cả những phương cách mà Giáo hội có thể hành động một cách hiệu quả trong tình hình này, vì Nhà thờ Chính tòa cũng bị chiếm đóng bởi chính Khối cách mạng ấy. Và sáng nay, chúng tôi biết rằng họ cũng chiếm đóng cả các nhà thờ Suchitoto và Apopa.
    Vào buổi chiều, chúng tôi nghe nói họ cũng đã chiếm nhà thờ tại Aguilares. Chúng tôi đi đến kết luận rằng điều cấp bách nhất là liên lạc với các lãnh đạo của Khối Cách mạng, và đặc phái viên người Pháp tình nguyện làm việc này thông qua những người đang chiếm giữ đại sứ quán của ông. Một khi ông đã sắp xếp được một địa điểm gặp gỡ tại Đại học Quốc gia, ông sẽ mời các lãnh đạo của Khối đến với cuộc họp, cũng sẽ có sự tham dự của một phái đoàn từ Giáo hội, bao gồm cha Fabian Amaya, cha Brito và nghiên cứu sinh Roberto Cuellar của Văn phòng Hỗ trợ Pháp lý.
    Buổi chiều, ba người nói trên đã gặp cha Tổng đại diện và Thư ký Truyền thông để có những ý tưởng cụ thể trình bày trong cuộc họp, nhưng đáng tiếc là chỉ có họ và các đại diện của Khối xuất hiện. Các đại diện của Khối từ chối bước vào trừ khi đại diện của các đại sứ quán có liên quan, nhất là vị đặc phái viên Pháp đã mời họ đến cuộc họp, cũng có mặt. Do đó, đã không có tiến triển nào bất chấp mọi cố gắng đã được thực hiện.
    Chúng tôi tiếp tục cầu nguyện và hy vọng, vì tình hình có vẻ sẽ tồi tệ hơn. Khối Cách mạng Bình dân đã công bố một cuộc biểu tình khổng lồ cho ngày mai để tưởng niệm những người bị Cảnh sát Quốc gia sát hại hôm 8 tháng 5.
    Và cuối cùng, tôi đã đi ăn tối với các Nữ Hiến sĩ Tình yêu Thiên Chúa và trao cho họ những lá thư từ nhà mẹ của họ, cùng với những lời nhắn gửi riêng của vị bề trên tổng quyền, người rất ân cần với tôi trong suốt thời gian tôi ở Rôma.
    Vào buổi tối có một chi tiết mang lại nhiều an ủi. Lời tôi kêu gọi các y tá trong bài giảng lễ hôm Chúa nhật, về việc cử hành Thánh lễ với chúng tôi tại nhà nguyện của Bệnh viện Chúa Quan Phòng, đã được hưởng ứng rất nhiệt tình, và nhà nguyện đầy kín các y tá. Đức ông José López Sandoval, cố vấn cho phong trào y tá quốc gia, đã đồng tế với tôi. Thông điệp của tôi mời gọi họ nhìn thấy ở mỗi bệnh nhân hai khuôn mặt của Chúa Kitô: một khuôn mặt đau khổ, đau đớn, hấp hối, và khuôn mặt vinh quang là kết quả của những khổ đau ấy. Người học vâng phục thông qua sự đau khổ của Người và vì thế, Người trở thành sự khởi đầu và lý do của niềm hy vọng nơi tất cả những ai tin vào Người.
    Khi Thánh lễ kết thúc, mọi người chào nhau rất thân mật, và cũng có vài lời từ cha López Sandoval, và lời tạm biệt khiến chúng tôi cảm nhận được mối hiệp thông mà Giáo hội đem lại cho tâm hồn mình. Nhiều người bày tỏ mong muốn gặp gỡ như thế thường xuyên hơn nữa.
    Thứ Ba, 15 tháng 5
    Buổi sáng, với một nhóm nhỏ các cố vấn, tôi đã phân tích tình hình hiện tại và vai trò của Giáo hội. Chúng tôi đã viết ra các kết luận của mình dưới dạng một tuyên bố, trong đó chúng tôi chỉ ra các nhóm khác nhau có thể có phần trách nhiệm như thế nào trong việc gây ra tình huống khó khăn hiện tại.
    Vào buổi chiều, có một cuộc họp báo trong thư viện Tổng giáo phận. Nhiều phóng viên đã đến, có lẽ khoảng hai mươi lăm hoặc ba mươi, bao gồm các nhà báo và những người quay phim truyền hình nước ngoài và trong nước. Họ nhận được bản tuyên bố của chúng tôi, và chính họ sẽ chuyển đạt bản tuyên bố ấy cho công chúng.
    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com