spot_img
Thêm

    CHÚA NHẬT 5 PHỤC SINH

    BÀI ĐỌC I: Cv 6, 1-7

    Trong những ngày ấy, số môn đồ gia tăng, nên xảy ra việc các người Hy-lạp kêu trách các người Do-thái, vì trong việc phục vụ hằng ngày, người ta khinh miệt các bà goá trong nhóm họ. Nên Mười hai Vị triệu tập toàn thể môn đồ đến và bảo: “Chúng tôi bỏ việc rao giảng lời Chúa mà lo đi giúp bàn, thì không phải lẽ. Vậy thưa anh em, anh em hãy chọn lấy bảy người trong anh em có tiếng tốt, đầy Thánh Thần và khôn ngoan, để chúng tôi đặt họ làm việc đó. Còn chúng tôi, thì sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ lời Chúa”.

    Cả đoàn thể đều tán thành lời các ngài, và chọn Têphanô, một người đầy đức tin và Thánh Thần, và chọn Philipphê, Prôcô, Nicanô, Timon, Parmêna, và Nicôla quê ở Antiôkia. Họ đưa mấy vị đó đến trước mặt các Tông đồ. Các ngài cầu nguyện và đặt tay trên các vị đó.

    Lời Chúa lan tràn, và số môn đồ ở Giêrusalem gia tăng rất nhiều. Cũng có đám đông tư tế vâng phục đức tin.

    BÀI ĐỌC II: 1 Pr 2, 4-9

    Anh em thân mến, khi đến cùng Chúa là tảng đá sống động, bị người ta loại bỏ, nhưng đã được Thiên Chúa tuyển chọn và tôn vinh, chính anh em như những tảng đá sống động, xây dựng toà nhà thiêng liêng, chức vụ tư tế thánh thiện, để hiến dâng của lễ thiêng liêng đáng Thiên Chúa chấp nhận nhờ Đức Giêsu Kitô. Vì thế, có lời Thánh Kinh rằng: “Đây Ta đặt tại Sion tảng đá góc tường, được tuyển chọn và quý giá, ai tin Người, sẽ không phải hổ thẹn”. Vậy, vinh dự cho anh em là những kẻ tin; nhưng đối với những kẻ không tin, thì tảng đá mà thợ xây loại bỏ, đã trở thành đá góc tường, đá vấp ngã và đá chướng ngại cho những kẻ chống lại và không tin lời Chúa, và số phận của họ là thế. Còn anh em là dòng giống được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người.

    PHÚC ÂM: Ga 14, 1-12

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó. Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi”. Ông Tôma thưa Người rằng: “Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi?” Chúa Giêsu đáp: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy. Nếu các con biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ các con biết và đã xem thấy Người”. Philipphê thưa: “Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha, và như thế là đủ cho chúng con”. Chúa Giêsu nói cùng ông rằng: “Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy ư, Philipphê? Ai thấy Thầy là xem thấy Cha, sao con lại nói “Xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha”? Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư? Những điều Thầy nói với các con, không phải tự mình mà nói, nhưng chính Cha ở trong Thầy, Ngài làm mọi việc. Các con hãy tin rằng Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy. Ít ra các con hãy tin vì các việc Thầy đã làm. Thật, Thầy bảo thật các con: Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha”.

    Suy Niệm 1: TRONG CỘNG ĐOÀN CỦA NHỮNG NGƯỜI TIN VÀO CHÚA GIÊSU

    Những khoảnh khắc cuối cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu thúc bách, năn nỉ họ điều khẩn thiết nhất, đó là: “Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Vâng, TIN VÀO CHÚA GIÊSU là điều vô cùng khẩn thiết. Chung qui, Chúa chỉ kêu gọi và chờ đợi điều đó thôi.
    Bởi vì tin vào Chúa Giêsu là tin vào Chúa Cha, “Thầy ở trong Cha, và Cha ở trong Thầy”! Bởi vì “nếu anh em biết Thầy, thì cũng biết Cha Thầy”!… Chúa Giêsu còn cố thuyết phục rằng “ít ra anh em hãy tin vì các việc Thầy đã làm”. Và Người hứa điều hết sức bất ngờ đây: “Ai tin vào Thầy, người ấy sẽ làm những việc Thầy đã làm. Người ấy còn làm được những việc lớn lao hơn, vì Thầy về với Cha” (x. Ga 14,1-12).
    TIN VÀO CHÚA GIÊSU, như thế, chúng ta đi đúng con đường đến với Chúa Cha, và chúng ta được trao năng lực lớn lao đến không ngờ. Đối lập với TIN là KHÔNG TIN. Thư 1Pr 2,4-9 chỉ ra sự tương phản giữa hai thái độ này. “Đối với những kẻ không tin, thì tảng đá mà thợ xây loại bỏ, đã trở thành đá góc tường, đá vấp ngã và đá chướng ngại cho những kẻ chống lại và không tin lời Chúa, và số phận của họ là thế”…
    Còn đối với những người tin, họ đến cùng Chúa là ‘tảng đá sống động bị loại bỏ’ ấy, chính họ trở nên “như những tảng đá sống động, xây dựng toà nhà thiêng liêng”… Họ trở nên “dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân tộc thánh thiện, dân riêng của Chúa, để rao giảng quyền năng của Ðấng đã gọi họ ra khỏi tối tăm mà vào ánh sáng kỳ diệu của Người”…
    Đó là mô tả về phẩm giá và đặc sủng của người tin. Thật cao vời, hay dùng từ thời thượng hiện nay: thật ‘rực rỡ’! Cũng hãy lưu ý, tất cả những mô tả ấy đều ở dạng tập thể, nói về ‘dòng giống’, về ‘hàng (tư tế)’, về ‘dân tộc’, ‘dân riêng’… Điều này có nghĩa rằng TIN VÀO CHÚA GIÊSU là đi vào một dân, sống trong tư cách là thành phần của dân ấy, chứ không thể tin vào Chúa Giêsu một cách cô lập, cá lẻ.
    Ý niệm ‘dân’ mở ra tính cơ chế. Vì thế, tính cơ chế là một chiều kích của lòng tin vào Chúa Giêsu. Bài đọc sách Công vụ (6,1-7) cho thấy nếu thiếu thiết chế thì nảy sinh những vấn đề trong cộng đoàn – như sự việc các bà goá thuộc nhóm Hy lạp bị bỏ bê không ai chăm sóc… Vì thế, cần lập ra hàng phó tế để đáp ứng nhu cầu đó. Sứ vụ của các phó tế đã giúp cho các Tông Đồ có thể chuyên chăm rao giảng Lời Chúa. Nhờ đó, “Lời Chúa lan tràn, và số các môn đồ ở Giêrusalem gia tăng rất nhiều”… Rõ ràng, chiều kích cơ chế phục vụ cho chiều kích đặc sủng của cộng đoàn đức tin là Giáo hội, chứ không ngược lại!

    Xin Thánh Thần củng cố lòng TIN VÀO CHÚA GIÊSU nơi chúng ta, và củng cố nơi chúng ta cảm thức Giáo hội nữa!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………………….

    Suy Niệm 2:  CON ĐƯỜNG MANG TÊN GIÊSU

    Tuần trước, chúng ta đã nghe Chúa Giêsu khẳng định Ngài chính là Mục Tử Nhân Lành. Ngài đến để cho chiên mình được sống và sống dồi dào. Cuộc sống sung mãn nhất chỉ được tìm thấy trong Thiên Chúa. Lời Chúa hôm nay chuẩn bị hướng lòng chúng ta về quê trời, chuẩn bị cho lễ Thăng Thiên của Chúa Giêsu. Thiên đàng là quê hương đích thật của chúng ta, nơi mà Chúa Giêsu chuẩn bị cho mỗi người chúng ta một chỗ như được trình bày trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng chúng ta làm gì để tiến về quê hương đích thật của mình? Chúng ta hãy để lời Chúa hướng dẫn chúng ta.

    Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta những gì xảy ra trong cộng đoàn tín hữu tiên khởi. Đây là trình thuật nói về việc chọn bảy phó tế đầu tiên để phục vụ dân Chúa. Như chúng ta thấy, cộng đoàn tín hữu tiên khởi cũng có những khó khăn, đó là tranh chấp và chia rẽ: “Thời đó, khi số môn đệ thêm đông, thì các tín hữu Do Thái theo văn hoá Hy Lạp kêu trách những tín hữu Do Thái bản xứ, vì trong việc phân phát lương thực hằng ngày, các bà goá trong nhóm họ bị bỏ quên” (Cv 6:1). Chúng ta thấy có sự chia rẽ giữa hai nhóm theo văn hoá Hy Lạp và người Do Thái bản xứ liên quan đến việc chia lương thực hằng ngày. Chúng ta vẫn chứng kiến sự chia rẽ này trong đời sống Giáo Hội, giáo phận, giáo xứ, hay hội đoàn. Lý do dẫn đến chia rẽ có thể không mang tính cách vật chất hay phân chia lương thực như cộng đoàn tiên khởi. Đứng trước vấn đề chia rẽ, Nhóm Mười Hai cho biết chỉ có tập trung vào những việc quan trọng là rao giảng lời Chúa, tập trung vào Chúa mới mang lại sự hiệp nhất trong cộng đoàn: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải. Vậy, thưa anh em, anh em hãy tìm trong cộng đoàn bảy người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm công việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa” (Cv 6:2-4). Những lời này nhắc nhở chúng ta về những lần chúng ta để cho những việc không quan trọng trở thành nguyên nhân gây chia rẽ trong đời sống cộng đoàn, để rồi chúng ta không còn chuyên lo những việc quan trọng hơn là “cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa.”

    Về phần mình, Thánh Phêrô nhắc nhở mỗi người Kitô hữu là một viên đá sống động để xây nên ngôi Đền Thờ thiêng liêng của Thiên Chúa. Ngôi Đền Thờ này có viên đá gốc là Đức Kitô. Trong Đức Kitô, mọi người được liên kết với nhau và đây chính là vinh dự của mỗi người Kitô hữu vì họ “là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1 Pr 2:9). Cuộc sống của mỗi người Kitô hữu là để loan truyền những kỳ công của Thiên Chúa qua chính lời nói và hành động hằng ngày. Nói cách khác, người Kitô hữu được mời gọi trở nên “con đường của Đức Kitô,” để qua họ, những người khác đến gặp Đức Kitô. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu dạy chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay.

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định cho các môn đệ biết Ngài chính là con đường đến cùng Chúa Cha. Phần này bắt đầu và kết với hai mệnh lệnh ‘tin’ vào Thiên Chúa và tin vào Chúa Giêsu (câu 1 và 11). Hai mệnh lệnh này muốn nói rằng, nếu chúng ta không tin vào lời Chúa Giêsu, thì “các công việc” của Ngài là nền tảng để biết rằng Chúa Giêsu và Chúa Cha là một (x. Ga 10:37-38). Kinh nghiệm thường ngày dạy chúng ta rằng: Tin vào lời đôi khi rất khó. Nhưng nhìn thấy việc làm để tin có vẻ dễ hơn. Nhưng nếu nhìn vào việc làm mà không đọc được ý nghĩa của những gì nhìn thấy thì cũng khó đi đến việc tin. Khả năng đọc được ý nghĩa những gì xảy ra trong đời sống thường ngày là điều cần thiết để nhận ra bàn tay Thiên Chúa đang hoạt động với chúng ta.

    Những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ mang một cung giọng đầy yêu thương, đầy an ủi của một người sắp đi xa để lại cho những người ở lại: “Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: ‘Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi’” (Ga 14:1-4). Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đặt niềm tin vào Thiên Chúa. Chính niềm tin này giúp họ hiểu rằng Chúa Giêsu luôn đi trước họ trong mọi sự [trong cái chết và sự phục sinh] để chuẩn bị cho họ một chỗ trong kế hoạch của Thiên Chúa, hay trong nhà Cha của Ngài. Trong những lời trên, điều làm chúng ta suy gẫm là việc Chúa Giêsu nói lên ước muốn của mình, đó là Ngài ở đâu thì Ngài muốn các môn đệ ở đó với Ngài. Như chúng ta biết, Chúa Giêsu luôn ở trong nhà Cha của Ngài, trong cung lòng của Chúa Cha, hay cụ thể hơn là trong tình yêu của Chúa Cha. Ngài muốn tất cả chúng ta ở trong đó với Ngài. Ngài đã chuẩn bị một chỗ cho mỗi người chúng ta. Chúng ta có muốn ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa không? Dấu hiệu của người ở lại trong tình yêu của Thiên Chúa là sống đời sống yêu thương và tha thứ, luôn sẵn sàng chết đi cho chính mình và sống đời sống mới trong sự phục sinh của Chúa Giêsu.

    Khi Chúa Giêsu nói về chỗ ở trong nhà Cha Ngài, là nơi Ngài sẽ đến, nhưng các môn đệ vẫn không hiểu Ngài đi đâu. Vì vậy, “ông Tôma nói với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao biết được đường?” (Ga 14:5).  Trước câu hỏi của Tôma, Chúa Giêsu khẳng định: “Chính Thầy là con đường là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14:6). Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định mình là “đường,” trong khi đó “sự thật” và “sự sống” nhấn mạnh việc khẳng định “đường” với hai hình ảnh mang tính cứu độ học trong Tin Mừng, đó là Chúa Giêsu không chỉ là Người đưa chúng ta đến ơn cứu độ, nhưng Ngài còn là nguồn sống và sự thật (x. Ga 5:26; 10:10,28; 11:25-26). Chỉ trong Chúa Giêsu, chúng ta mới tìm thấy được con đường đạt đến sự sống sung mãn. Nơi Ngài, chúng ta tìm thấy được sự thật về Thiên Chúa và ơn gọi của mỗi người chúng ta, vì Ngài là Chúa thật và là người thật.

    Sau khi nói cho Tôma biết mình là đường, là sự thật và là sự sống, Chúa Giêsu tiếp tục khẳng định với các môn đệ rằng: “Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người” (Ga 14:7). Những lời này làm chúng ta xét lại chính mình: Chúng ta có biết Chúa Giêsu không? Khi nói đến biết Chúa Giêsu, chúng ta không chỉ nói đến những kiến thức chúng ta thu thập được về Ngài qua việc học hỏi, nhưng còn về một mối tương quan sâu đậm với Ngài, một lối sống đồng hình đồng dạng với Ngài. Nói cách khác, người nói rằng tôi biết Chúa Giêsu là người biến cuộc đời của mình trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.

    Trong Tin Mừng Thánh Gioan, mục đích của Chúa Giêsu là mặc khải Chúa Cha cho con người. Qua chính Ngài, con người nhìn thấy, biết và đụng chạm đến Thiên Chúa. Những điều này ít xảy ra trong cuộc sống thường ngày của chúng ta vì nhiều khi gặp khó khăn, nhất là khi đi trong bóng đêm của đức tin, chúng ta cũng hỏi như Philípphê: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14:8). Đứng trước câu hỏi này, Chúa Giêsu cũng ‘trách yêu’ chúng ta như đã trách Philípphê: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’? Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình” (Ga 14:9-10). Chúa Giêsu luôn ở với chúng ta, nhưng chúng ta có ở với Ngài không? Chúng ta đã không để Chúa Giêsu đến ở trong chúng ta vì tâm hồn và con tim chúng ta chứa đựng nhiều của cải vật chất hoặc để cho lo lắng sự đời chiếm lấy. Khi tâm hồn chúng ta để cho lời Chúa Giêsu chiếm lấy, chúng ta sẽ nhận ra rằng Chúa Cha ở trong Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu luôn ở trong chúng ta. Chính Chúa Giêsu là “cầu nối” để qua đó Chúa Cha ở trong chúng ta và chúng ta ở trong Chúa Cha.

    Sau khi trách và khẳng định với Philipphê về việc Chúa Cha làm mọi sự ở trong Ngài, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ tin vào Ngài. Đồng thời, Ngài cũng khẳng định rằng những ai tin vào Ngài sẽ làm được những điều Ngài làm, đó là làm cho người khác nhìn thấy Chúa Cha qua cuộc sống của họ: “Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm. Thật, Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con. “Nếu anh em nhân danh Thầy mà xin Thầy điều gì, thì chính Thầy sẽ làm điều đó” (Ga 14:11-14). Qua những lời này, Chúa Giêsu khẳng định với các môn đệ tầm quan trọng của đức tin: Đức tin là yếu tố làm cho người môn đệ nhận ra bàn tay Thiên Chúa đang hoạt động trong thế giới và trong cuộc đời của mỗi cá nhân. Chính đức tin đưa người môn đệ vào trong mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa và kín múc ở đó ‘năng lực sáng tạo,’ hầu thực hiện những việc vĩ đại nhân danh Chúa Giêsu. Tóm, lại, người môn đệ là người có niềm tin sâu xa vào Thiên Chúa và qua đức tin đó họ phó thác trọn vẹn chính cuộc đời mình vào bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa, hầu để Ngài thực hiện những điều kỳ diệu trong thế giới.

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………

    Suy Niệm 3: THEO ĐỨC KITÔ LÀ ĐƯỜNG

    A. DẪN NHẬP

    Mọi người đều muốn vươn tới hạnh phúc, hạnh phúc tuyệt đối và trường cửu. Hạnh phúc này chỉ có trên nước Thiên Chúa. Vậy đâu là con đường đưa tới hạnh phúc đó ? Chúng ta biết Đức Kitô vừa là Chúa vừa là người. Ngài là trung gian hòan hảo duy nhất giữa Chúa Cha với chúng ta. Biết bao con đường mở ra trước mắt chúng ta, nhưng chỉ có Ngài mới là con đường  đưa chúng ta đến cùng Chúa Cha, vì Ngài biết Chúa Cha và bởi Chúa Cha mà ra. Chúng ta hãy tin tưởng bước theo Ngài vì chính Ngài đã khẳng định với chúng ta :”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Ga 14,6). 

    Mục đích của chúng ta phải vươn tới là nhận biết Chúa Cha, mà người ta chỉ có thể nhận biết Chúa Cha nhờ Đức Giêsu. Đức Giêsu được sai đến với lòai người để trả lời những câu hỏi đang làm họ bận tâm như Thiên Chúa là ai, bởi đâu mà có ? Không ai trả lời cho chính xác ngọai trừ Ngài, bởi chính Ngài biết rõ mối dây thân tình Cha Con. Đức Giêsu còn là chân lý, là sự sống. Vì Ngài là hình ảnh Ngôi Cha. Ngài là tiếng nói của Chúa Cha. Thiên Chúa đã phán :”Này là Con Ta yêu dấu, rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Thiên Chúa là chân lý thì tiếng nói của Ngài cũng là chân lý vậy.

    Chúa nhật trước, chúng ta đã nhận Chúa Giêsu là Chúa chiên nhân lành. Mọi người tín hữu vui mừng và yên tâm vì đã có Chúa Giêsu là mục tử chăn dắt. Người yêu thương và bảo vệ đàn chiên.  Con chiên phải nghe tiếng chủ chăn và đi theo sự hướng dẫn của chủ để được sống và được sống dồi dào.  Hôm nay, chúng ta hãy xác định lại lập trường của chúng ta là phải tin theo Chúa Giêsu vì Người là đường, là sự thật và là sự sống.  Muốn đến cùng Chúa Cha, cần thiết phải qua Ngài.  Chỉ có duy nhất Ngài là đường dẫn tới sự sống.  Hãy dấn bước theo Ngài và theo Ngài là phải từ bỏ nếp sống cũ, từ bỏ tất cả những gì không hợp với đường lối của Ngài, phải đi qua cửa hẹp, tức là theo con đường khổ giá mà Ngài đã đi, chính con đường này sẽ dẫn chúng ta tới hạnh phúc chân thật.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    +  Bài đọc 1 : Cv 6,11-7.

    Cộng đoàn tín hữu tiên khởi ở Giêrusalem mỗi ngày một thêm đông, đời sống tốt đẹp nhưng cũng không thiếu những khó khăn. Các Tông đồ phải giải quyết cách nào cho êm đẹp.

    Khó khăn phát xuất từ việc phân phối những nhu cầu đời sống không đồng đều : các bà góa bị lãng quên, do đó mới có những lời kêu trách. Các Tông đồ giải quyết khó khăn đó bằng việc thiết lập tác vụ phó tế để chuyên lo các công việc cứu trợ, bác ái và lương thực của cộng đoàn, để các ngài có thời giờ  đi loan báo Tin Mừng.

    Nhờ cách giải quyết khéo léo này mà cộng đoàn lại đoàn kết thương yêu nhau và tăng số. Đây là mô hình đẹp trong việc phân chia các chức vụ và công tác cho Giáo hội ngày nay : có người chuyên lo đời sống vật chất, có người chuyên lo việc cầu nguyện và loan báo Tin Mừng.

    +  Bài đọc 2 : 1Pr 2,4-9.

    Thánh Phêrô nhắc cho các tín hữu nhớ lại phẩm giá cao qúi của mình, cũng như những trách nhiệm mà mình phải chu toàn để đáp lại tình yêu của Chúa Kitô.

    Phẩm giá của Kitô hữu : là dòng giống được Thiên Chúa tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo việc tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa.

    Trách nhiệm phải chu toàn : Đức Kitô là viên đá tảng, các Kitô là những viên đá sống động được xây lên trên để xây nên một đền thờ thiêng liêng. Cho nên họ phải công bố những việc kỳ diệu của Thiên Chúa, loan báo Tin Mừng, dâng lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Chúa, xây dựng hoà bình, công lý và tình yêu.

    +  Bài Tin Mừng : Ga 14,11-12.

    Trong tâm tình Thầy trò trong bữa tiệc ly, Đức Giêsu tiết lộ cho các môn đệ biết Ngài sẽ trở về cùng Cha. Ngài ra đi là để dọn chỗ cho các ông vì nhà Cha còn nhiều chỗ. Người khuyên các ông đừng xao xuyến vì Ngài đi dọn chỗ và sau đó sẽ quay trở lại đón các ông, để Ngài ở đâu, các ông cũng ở đó với Ngài. Có nhiều cách giải thích khác nhau về lời loan báo sự ra đi này của Đức Giêsu. Nhưng đúng hơn hết, sự ra đi này  Đức Giêsu trở về với Chúa Cha ám chỉ biến cố Phục sinh.

    Còn đối với các Tông đồ muốn biết Chúa Cha thì Đức Giêsu chỉ trả lời là ai thấy Ngài là thấy Chúa Cha vì Cha ở trong Ngài và Ngài ở trong Cha. Ngài nhắc cho các ông :”Muốn đến với Chúa Cha thì hãy tin vào Ngài, hãy theo Ngài vì Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Ngài”(Ga 14,8).


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                                Bước theo Chúa Giêsu Kitô

    I. HÃY TIN VÀO ĐỨC GIÊSU 

    1. Những lời trấn an

    Đức Giêsu nhiều lần nói với các môn đệ là Ngài sắp ra đi, dù vậy họ chẳng bao giờ hiểu nổi.  Những lời Đức Giêsu báo trước cho các ông : Giuđa sẽ nộp Thầy (Ga 13,21-26), Phêrô chối Thầy (Ga13,3-6), Ngài ra đi chịu tử nạn (Ga 12,32), và viễn cảnh phải xa vắng bóng Thầy giữa một thế giới thù nghịch, đã làm cho tâm trí các môn đệ tràn ngập lo âu xao xuyến (Ga 14,23; 16,6-20).

    Đức Giêsu trấn an các ông bằng cách tỏ cho các ông thấy Ngài ra đi sẽ làm cho các ông  hiệp thông thâm trầm hơn  nữa với Ngài và với Chúa Cha, và chính Thánh Linh sẽ bảo đảm cho việc phù trì che chở các ông trong cơn giông tố thiêng liêng của cuộc sống.

    Trọng tâm lời khuyên nhủ trấn an nằm trong câu :”Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Câu này có nghĩa rằng : Các con đã tin vào Thiên Chúa thế nào thì cũng hãy tin vào Thầy như vậy. Theo đó, Đức Giêsu muốn kêu gọi các môn đệ tin vào thiên tính của Ngài.

    1. Trả lời thắc mắc của Tôma 

    Đức Giêsu nói :”Thầy còn ở với các con ít lâu nữa, rồi Thầy đi về cùng Đấng sai Thầy”(Ga 7,33). Đức Giêsu nói Ngài sẽ về với Cha, là Đấng đã sai Ngài đến, Ngài với Cha là một, nhưng họ vẫn không hiểu. Đức Giêsu còn nói thêm :”Thầy đi đâu các con đã biết đường rồi(Ga 14,4). Họ không hiểu con đường Ngài sắp đi là con đường nào vì đó là đường thập tự, nên ông Tôma mới nói :”Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường đi” (Ga 14,5).

    Thật vậy, Tôma là người thật thà và cũng là con người thực nghiệm, thích sờ mó, nhìn xem và chứng kiến, không chịu thỏa mãn với những câu nói mơ hồ. Ông muốn biết chắc chắn, nên đã bộc lộ những nghi ngờ về những gì ông không hiểu : chẳng hiểu được ý nghĩa việc Chúa ra đi.

    Vì thế, Đức Giêsu nói với ông Tôma :”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Nói như vậy là Ngài có ý muốn nói gì ? Ngài có ý nói rằng Ngài là người dẫn đường, Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta, chúng ta sẽ không sợ lạc đường. Đó là việc Đức Giêsu đang làm cho chúng ta. Ngài không chỉ đưa ra những lời khuyên dạy, chỉ hướng đi mà thôi, nhưng Ngài nắm lấy bàn tay và dẫn chúng ta đi. Ngài cùng đi với chúng ta, đích thân Ngài thêm sức cho chúng ta, hướng dẫn chúng ta mỗi ngày. Không phải Ngài chỉ cho chúng ta con đường mà chính Ngài là Đường đi của chúng ta.

    Chữ “Đường” trong Tin mừng hôm nay không những chỉ có nghĩa là Đức Giêsu chỉ dùng giáo huấn mà dẫn ta đến sự sống, mà chính Ngài là con đường dẫn đến Chúa Cha nữa. Vì chính Ngài là mạc khải Chúa Cha (Ga 12,45), tuy Ngài bởi Chúa Cha mà đến và về với Chúa Cha (Ga 7,29-33), nhưng Ngài lại là một với Chúa Cha (Ga 13,30) vì chính Ngài là sự thật và là sự sống (Ga 3,15).

    Chúng ta có thể tóm tắt điều Đức Giêsu muốn nói : Nếu không nhờ Thầy, không ai đến được với Cha. Chỉ một mình Đức Giêsu là con đường đến với Thiên Chúa. Chỉ trong Ngài chúng ta mới thấy được Thiên Chúa như thế nào, và chỉ một mình Ngài đưa chúng ta đến với Thiên Chúa mà chúng ta không phải sợ hãi và xấu hổ.


    II. TIN TƯỞNG BƯỚC THEO ĐỨC KITÔ
     

    1. Đức Giêsu là ai ? 

    Các môn đệ ở bên Chúa Giêsu ba năm mà vẫn chưa biết Đức Giêsu là ai. Sự hiểu biết của họ còn rất lơ mơ. Khi Đức Giêsu nói về Chúa Cha, Cha của Ngài, thì họ càng bỡ ngỡ, không hiểu chút nào.  Vì thế,  trong các môn đệ quây quần chung quanh Đức Giêsu chiều nay trong bữa tiệc ly tạ từ, có một môn đệ có một đầu óc rất thực tế. Đó là Philipphê. Đối với ông, nghe Chúa, biết Cha là một cái gì quá trừu tượng. Ông muốn được như Maisen nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa (Xh 33,18), nên, đại diện cho các bạn ông nói :”Lạy Thầy, xin tỏ cho chúng con xem thấy Cha và như thế là đủ cho chúng con”.

    Với vẻ mặt buồn buồn, Đức Giêsu đã phản ứng lại mạnh mẽ :”Philipphê ! Thầy ở với các con bấy lâu rồi, thế mà con chưa biết Thầy”. Sự hiểu biết Thiên Chúa không phải là sự hiểu biết trừu tượng mà là sự hiểu biết và gặp gỡ một con người.  Con người ấy chính là Đức Giêsu, hình ảnh của Đức Chúa Cha. Vì thế, Chúa phán :”Con không tin rằng Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy ư “?  Hai nhưng là một , đồng nhất trong một bản thể với Chúa Thánh Thần :”Ai xem thấy Thầy là xem thấy Cha. Cha Ta với Ta là một”.

     Trọn cuộc sống, mọi lời nói và việc làm của Đức Giêsu là một biểu hiện hoàn hảo hình ảnh của Chúa Cha vì Người kết hợp mật thiết với Chúa Cha. Cuộc sống của Ngài, đó là Chúa Cha, công việc của Ngài là chính Chúa Cha thực hiện qua Ngài, lời Ngài nói đó là tư tưởng của Chúa Cha (Cf Hồng Phúc, Suy niệm lời Chúa, năm A, tr 75).

    Khi nói rằng chúng ta biết Chúa, nhưng thực sự chúng ta mới có một khái niệm về Chúa chứ chưa thể diễn tả ra thế nào cho đúng. Thỉnh thoảng chúng ta nghe thấy có người nói như sau :”Kitô hữu nói về Chúa thế này. Người Do thái bảo Chúa thế kia. Người Hồi giáo cho Ngài thế khác. Phật tử còn quan niệm Ngài khác hơn nữa. Tôi cảm thấy rối trí quá nên chẳng biết nghĩ gì và cũng chẳng biết tin ai”.

    Mỗi khi nghe được một người tuyên bố như thế, tôi liền nhớ lại bài thơ của John Saxe liên quan đến năm gã mù Ấn độ đứng vòng quanh một con voi và thắc mắc con voi giống cái gì.  Một gã sờ vào hông voi và bảo nó giống như bức tường. Gã thứ hai sờ vào chiếc ngà và bảo nó giống như một thanh gươm.  Gã thứ ba đụng vào chiếc vòi và bảo nó như rắn khổng lồ. Gã thứ tư sờ vào lỗ tai và bảo nó giống như chiếc quạt. Gã mù sau cùng sờ vào đuôi và bảo nó giống như sợi dây thừng.  Thế thì ai trong năm gã này là đúng ?  Có lẽ câu trả lời hay nhất là cả năm gã đều đúng, mỗi gã đúng theo quan điểm của mình. Chỉ nhờ đối thoại chung với nhau họ mới có thể có được một cái nhìn đầy đủ và sáng suốt hơn để trả lời chú voi thực sự như thế nào.

    Vài người bảo : đối với trường hợp Thiên Chúa cũng thế.  Họ bảo : Người Do thái có lối hiểu Thiên Chúa, người Hồi giáo có một lối thứ hai để thấu hiểu Chúa, người Phật giáo lối thứ ba và các Kitô hữu lối thứ tư.  Chỉ nhờ đối thoại với nhau họ mới có thể đạt được một cái nhìn đầy đủ rõ ràng hơn về Thiên Chúa.  Thế là lại khơi lên một vấn nạn : Làm sao tôn giáo này có thể tự hào rằng mình gần với chân lý hơn các tôn giáo khác ?  Chẳng hạn, làm sao các Kitô hữu dám cho rằng mình có cái nhìn chính xác về Chúa hơn bất kỳ tôn giáo nào khác ?

    Câu trả lời cho vấn nạn trên dĩ nhiên được đặt vào nền tảng đức tin nơi Đức Giêsu của người Kitô hữu.  Đức Giêsu đã tuyên bố Ngài là Thiên Chúa bằng một cách thức mà không một vị lãnh đạo tôn giáo nào dám tuyên bố.  Và hơn thế nữa, Đức Giêsu còn đồng hoá mình với Thiên Chúa: “Ta và Chúa Cha là một” (Ga 10,30). Từ ngữ “một”, không có tiếng trước hay sau đi kèm, có nghĩa là “đồng một bản tính”. Như vậy, Đức Giêsu tuyên bố rõ sự thực này : Ngài và Chúa Cha cùng có một quyền năng chung, tức là “đồng một bản tính”.   Điều này không một vị lãnh đạo nào trên thế giới này dám làm  (Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 108-109).

    Từ xưa đến nay các nhà sáng lập tôn giáo, không ai dám nói :”Cha Ta và Ta là một(Ga 10,30), chỉ có một mình Đức Giêsu mới dám nói :”Hãy tin vào Ta  khi Ta nói rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta(Ga 14,11). Và chỉ một mình Đức Giêsu dám nói :”Ta là bánh từ Trời xuốngAi ăn thịt và uống máu Ta thì được sự sống đời và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết”(Ga 6,51,54). Và chỉ một mình Đức Giêsu dám nói :”Ta là ánh sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ có ánh sáng ban sự sống và sẽ không bao giờ bước đi trong tăm tối” (Ga 8,12).

     Như vậy, chúng ta phải nói rằng Đức Giêsu là hiện thân của Chúa Cha và ai thấy Đức Giêsu là thấy Cha. Chính Chúa Giêsu là Thiên Chúa nên phải tin theo Người.

    1. Bước theo Chúa Giêsu Kitô

    Đức Giêsu báo cho các Tông đồ việc ra đi của Ngài là để dọn chỗ cho các ông :”Nếu Thầy đi dọn chỗ cho các con, thì Thầy lại đến và đem các con về với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì các con biết đường rồi” (Ga 14, 3-4).

    Ông Tôma thắc mắc và rất hồn nhiên chất phác hỏi :”Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đuờng đi”. Nhân dịp này, Đức Giêsu cho biết  Ngài là con đường đưa họ đến với Chúa Cha, qua Ngài họ mới có thể vào được Nước Trời nên mới nói :”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”. Ngài là con đường duy nhất dẫn tới sự sống.

    Chúng ta hãy bước theo chân Chúa Giêsu. “Theo” ở đây không phải là một ý tưởng trừu tượng, như chấp nhận một học thuyết, một tư tưởng hay chỉ đi theo sau một người, mà có một ý nghĩa sinh động hơn, nghĩa là phải chấp nhận người mình theo, nhận lấy số phận người mình theo, gắn bó khăng khít với họ như “thuyền theo lái, gái theo chồng”(tục ngữ). Ngoài ra còn phải chia sẻ đời sống với người ấy, bất chấp những rủi ro xẩy ra, chấp nhận tất cả như cô gái nói với chàng trai :

                                          Lên non thiếp cũng lên theo,
                                      Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau.
                                                    (Ca dao) 

    Đức  Giêsu đã kêu gọi mọi người hãy đi theo Chúa vì chỉ mình Ngài mới có thể ban ơn cứu độ, mới có thể dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Tuy nhiên, muốn theo Chúa cũng cần phải có một số điều kiện, đòi họ phải kiên trung đến cùng, đừng để xẩy ra cảnh “giữa đường đứt gánh”. Trước khi theo Chúa hãy suy nghĩ cho kỹ, giống như người định xây nhà, phải tiên liệu để hoàn thành, đừng để dở dang.

    a) Từ bỏ mọi sự

    Đức Giêsu kêu gọi mọi người hãy theo Ngài, lời kêu gọi ấy có tính cách hoàn toàn tự do, muốn theo hay không theo cũng được vì Ngài chỉ dùng chữ “nếu”, không có tính cách bắt buộc. Ngài nói :”Nếu ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta(Mt 16,24). Đã có trường hợp người ta không dám chấp nhận điều kiện Chúa đưa ra như trường hợp người thanh niên giầu có đến xin làm môn đệ Chúa, nhưng anh ta không thể chấp nhận được điều kiện này nên đã bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.

    Đức Giêsu là Thiên Chúa giầu sang vô cùng đã muốn trở nên con người nghèo khó đến tuyệt cùng để chia sẻ số phận nghèo khó của con người. Chúa đã nói :”Con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”(Mt 8,20 ; Lc 9,58) . Nếu yêu Chúa, muốn theo Ngài thì đòi buộc từ bỏ tất cả, từ bỏ chính con người của mình và chấp nhận mọi rủi ro trong khi theo Chúa. Chúng ta có dám can đảm chấp nhận điều kiện ấy không ?

    Trong văn chương bình dân, người ta có đưa ra một hình ảnh tương tự như thế. Đó là trường hợp một người thanh niên nghèo được một thiếu nữ yêu thương muốn theo, anh ta cho biết là mình nghèo lắm, chỉ sống nhờ sự bố thí của người ta thôi, không có gì cả ; hay nói đúng hơn anh ta chỉ có cái nghề đi ăn mày thôi, có dám theo không, nên anh ta nói :

                                 Lấy anh, anh sắm sửa cho :
                           Cái bị, cái bát, cái quạt mo đuổi ruồi.                                     

    b) Phải qua cửa hẹp

    Theo Chúa thì đòi buộc phải hy sinh, hy sinh  cả những cái được phép, có khi phải hy sinh cả thân mình và phải nhận đến cái chết. Theo Chúa là phải khép mình vào như Chúa nói :”Hãy vào qua cửa hẹp(Mt 7,13-14 ; Lc 13,24) vì”Nước Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh”, sức mạnh đây không phải là sức mạnh thể xác nhưng là sức mạnh tinh thần, phải chiến đấu kiên cường, không chịu lùi bước theo phương châm :”Per crucem ad lucem”.

    Từ bỏ mình… Vác thập giá… là khoái khổ sao ? Không. Cần phải từ bỏ mình, thẳng thắn mà tuyên bố tiêu diệt cái “tôi” của chúng ta. Thế nhưng không phải tiêu diệt “cái tôi” tốt lành, “cái tôi” chân thật. Đức Giêsu yêu cầu chúng ta hãy hiến cái tôi giả tạo mà chúng ta tạo nên bằng những nhu cầu vô ích và những phù phiếm trẻ con :”Đó là cái tôi, thánh Gioan Thánh giá nói, của những thèm muốn thúc giục chúng ta trở nên bất hạnh đối với chúng ta, khô khan đối với tha nhân, nặng nhọc và biếng nhác đối với các công việc của Chúa” (A. Sève, Sương mai, tr 209).

    c) Vâng ý Cha trên trời

    Theo Chúa thì không còn gì là của mình nữa vì đã phó thác trọn vẹn cho Chúa để hoàn toàn thuộc về Người. Trong mọi việc chúng ta chỉ còn biết làm theo thánh ý Chúa, ý Chúa trên hết theo như kinh Lạy Cha :”Vâng ý Cha dưới đất cũng như trên trời”.  Vì thế, Đức Giêsu đã khuyên nhủ những người đã theo Ngài muốn vào được Nước Trời thì phải thi hành thánh ý Chúa :”Không phải cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào Nước Trời, mà chỉ có những ai thi hành ý Cha Ta ở trên trời”(Mt 7,21-23 ; Lc 6,46 ; 13,26-27).

                                          Truyện : Cậu bé đánh trống.

    Trận chiến giữa Pháp và hai nước liên kết Ý và Áo đầu năm 1796, kết liễu ngày 17.11.1796 như sau :

    Đại tướng Bonaparte đưa quân đến một địa điểm, có cái cầu bắc qua trận tuyến địch. Trong lúc trận thế đang nguy, đại tướng Bonaparte hô tiến qua cầu. Không một ai qua ! Đại tướng xuống ngựa, giựt lá cờ quân đoàn chân bước qua cầu, miệng hô :”Ai yêu tổ quốc  thì theo ta”. Ngó lại, trên cầu chỉ có một mình mà lá cờ rách nhiều mảnh vì đạn của quân địch. Khi ấy có cậu bé mới 13 tuổi đánh trống thúc quân. Hai tay đập mạnh vào trống chân bước qua cầu theo đại tướng. Quân sĩ tràn theo qua cầu, đại tướng Bonaparte toàn thắng và cũng chấm dứt cuộc chiến tranh ấy.

    Tám năm sau, Bonaparte đã là hoàng đế Napoléon trở lại chỗ cũ, có nghi lễ đón tiếp rất linh đình. Hoàng đế Napoléon muốn bắt tay cậu bé Vidal đã 20 tuổi hiện trong quân đoàn tại đó.

    Hỏi đến Vidal thì cậu đã nghỉ phép để đưa đám tang mẹ. Hoàng đế Napoléon đã bãi bỏ mọi lễ nghi quân cách, đi thẳng đến làng Vidal, theo sau đám tang đến huyệt, đọc bài điếu văn.  Rồi đi bộ với Vidal trở về.  Vidal từ chối và mời hoàng đế lên xe.  Hoàng đế Napoléon đáp :”Tám năm trước con đã liều chết theo ta trên con đường chết, nay trên đường đau khổ, con cho ta  theo con cho có bạn”(Ms Lê văn Thái, Những tia sáng, tập 1, tr 5).

    Đạo là đường đưa dẫn đến sự sống chính là Chúa, và không có gian  lao khổ cực nào làm cho ta chối bỏ được. Những tháng năm đầu thế kỷ 20 này, nhiều người đã gặp những anh hùng vô danh còn sống sót trên đất nước Việt nam chúng ta.  Đó là các cụ ông, cụ bà trước đây đã bị bắt giam cầm, bị người ta rạch mặt lấy mực tầu  xâm lên trên má hai chữ “Tả dạo”, đi đâu ai cũng nhận ra là người theo tả đạo ; nhưng đối với giáo dân, đây là biểu tượng của Đức tin kiên cường sáng chói.

    Kinh Thánh ca tụng những vị anh hùng bất khuất đã kiên vững theo Chúa đến cùng : “Chúng ta hãy ca tụng những bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối của chúng ta”(Gv 44.1), đã tin Đạo, đã sống Đạo, đã hy sinh vì Đạo, gương sáng chói cho chúng ta trên đường về Trời.

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt

    …………………

    Suy Niệm 4: Đường về nhà Cha

    Đức Giêsu đã phục sinh để dọn đường cho chúng ta và mở cửa trời đón nhận chúng ta vào Nhà Cha. Hình ảnh của những căn nhà, chỗ ở mà Ngài đã dọn sẵn cho chúng ta giúp làm sáng tỏ chủ đích này hơn. Nhưng đoạn Phúc âm của Chúa nhật hôm nay lại là lời tường thuật về đêm cuối cùng Đức Giêsu ở cùng với các môn đệ. Trong suốt thời gian đồng hành họ đã cảm nghiệm một cách mới mẻ rằng, Thiên Chúa đã tự mạc khải qua Đức Giêsu. Trong giây phút chia tay Ngài đã xác nhận: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.”  Đây không chỉ là lời từ biệt: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy  tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.” Đức Giêsu còn muốn khích lệ cổ vũ để các môn đệ can đảm đối diện và đứng vững trong tương lai. Nói tóm lại, Ngài trăn trối cho họ một phương hướng và một đích điểm. Ngài tự nói về phương hướng: “Chính Thầy là con đường.” Và Ngài cũng nêu ra một đích điểm: Nhà Cha.

    Đức tin không chỉ đơn thuần là tin vào những tín lý của Giáo hội. Đức tin còn là một con đường. Chặng đường trước mặt chúng ta chính là đời sống của Đức Giêsu. Thái độ, lời nói và việc làm của Ngài trong những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống là mẫu gương để chúng ta bắt chước. Phương hướng mà chúng ta nhắm tới, đòi hỏi chúng ta từng bước một tiến bước phải nên giống như chính Đức Giêsu. Dĩ nhiên noi gương bắt chước Đức Giêsu không có nghĩa là sao chép lại y như bản chính. Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta mỗi người mỗi khác nên hành trình đức tin của mỗi người cũng mang những nét cá biệt. Ai muốn tiến bước theo chân Đức Giêsu, kẻ đó đã lực chọn và  đưa ra một quyết định. Nhưng trong đó lại tiềm tàng một thách đố lớn lao. Ngày xưa người ta hay đặt câu hỏi: “Cái gì được phép, cái gì không được?” Nhưng người Kitô hữu ngày nay lại tự hỏi: “Cái gì thích hợp với bản thân tôi, cái gì không?” Thời thế thay đổi, não trạng của con người cũng vậy, cho nên người Kitô hữu luôn phải thích nghi và khám phá ra ý nghĩa và mục đích của đời sống đức tin của mình.

    Khi có ai qua đời chúng ta thường nói Thiên Chúa đã kêu gọi kẻ đó về Nhà Cha. Chỗ ở mà Đức Giêsu chuẩn bị cho chúng ta bao gồm cả trời và đất. Chúng ta cũng thường nói các linh mục sống trong nhà Chúa, các nữ tu sống trong nhà dòng, bởi vì chúng ta tin rằng, họ cảm nghiệm một cách sâu xa sự hiện diện của Thiên Chúa trong những giây phút của cuộc sống, hơn hẳn người giáo dân luôn bị các lo âu cơm áo bạc tiền chi phối. Nếu như tôi không nhận biết đâu là Nhà Cha, tôi sẽ rất dễ lầm đường lạc lối. Con đường về Nhà Cha của từng người cũng muôn mầu muôn vẻ, không phải chỉ có xa lộ! Nhà Cha không phải là thế giới bên kia, là thiên đàng. Đức Giêsu đã mở cửa trời, đã nối liền trời với đất. Bổn phận của chúng ta trong hành trình đức tin là khám phá và xây dựng cho mình một mảnh thiên đường tại trần thế này.

    Theo truyền thống của Giáo hội người Kitô hữu có hai công cụ giúp bản thân mình không bị lạc đường: Kinh nguyện trong đời sống hằng ngày và bí tích Thánh Thể. Lời   nguyện của chúng ta chuyển động và xoay quanh hai trọng điểm: Đời sống của Đức Giêsu, nơi chúng ta cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa và kín múc nguồn mạch ơn thánh. Phía bên kia chính là thực tế của cuộc sống với những biến động và thăng trầm của thế giới chung quanh. Con đường và đích điểm gặp gỡ nhau tại đây. Điều chỉnh phương hướng cho đời sống đức tin cũng như cuộc sống hằng ngày đều bắt nguồn từ mối quan hệ này.

    Tục ngữ có câu: “Sông có khúc, người có lúc.” Con người sẽ thay đổi theo thời gian, tuổi tác và những ảnh hưởng chung quanh. Thế giới chung quanh chúng ta đã đành. Tình yêu cũng không ngoại lệ. Trong đêm Phục sinh chúng ta đã canh tân lại lời hứa chúng ta khi lãnh nhận bí tích Rửa tội. Đời sống tu trì, đời sống hôn nhân chúng ta cũng cần phải canh tân mỗi ngày. Ai không ý thức, sẽ là kẻ thụt lùi. Một ngày nào đó họ giống như đèn cạn dầu, tâm hồn trống rỗng. Hôn nhân đổ vỡ cũng không gì lạ! Điều chỉnh phương hướng và bắt đầu lại chỉ có thể xảy ra khi chúng ta dám mạo hiểm và can đảm tiến bước. Đức Giêsu đã động viên giúp chúng ta cất bước khi nói: “Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.”

    Lm Phêrô Trần Minh Đức

                                                                      

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com