Thêm

    Thứ Hai tuần 13 Thường Niên

    BÀI ĐỌC I: St 18, 16-33

    Khi những vị ấy chỗi dậy, ra khỏi thung lũng Mambrê, liền trông về phía thành Sôđôma. Abraham cùng đi để tiễn chân các đấng. Chúa phán: “Nào Ta có thể giấu Abraham điều Ta sắp làm không? Vì Abraham sẽ trở nên một dân tộc vĩ đại và hùng cường, và muôn dân thiên hạ chẳng nhờ đó mà được chúc phúc sao? Ta biết Abraham sẽ truyền dạy cho con cháu và gia tộc mai sau phải tuân theo đường lối của Chúa, ăn ở ngay lành công chính, để Thiên Chúa ban cho Abraham những gì Người đã hứa cùng ông”. Vậy Chúa phán: “Tiếng kêu la của dân Sôđôma và Gômôra đã gia tăng, và tội lỗi chúng quá nặng nề! Ta sẽ xuống coi việc chúng làm có như tiếng kêu thấu đến tai Ta hay không, để Ta sẽ biết rõ”. Các vị ấy bỏ nơi đó, đi về hướng thành Sôđôma. Nhưng Abraham vẫn còn đứng trước mặt Chúa. Ông tiến lại gần Người và thưa: “Chớ thì Chúa sắp tiêu diệt người công chính cùng với kẻ tội lỗi sao? Nếu có năm mươi người công chính trong thành, họ cũng chết chung hay sao? Chúa không tha thứ cho cả thành vì năm chục người công chính đang ở trong đó sao? Xin Chúa đừng làm như vậy, đừng sát hại người công chính cùng với kẻ dữ, đừng đối xử với người công chính như với kẻ dữ! Xin đừng làm thế! Chúa phán xét thế giới, Chúa không xét đoán như thế đâu”. Chúa phán cùng Abraham rằng: “Nếu Ta tìm thấy trong thành Sôđôma năm mươi người công chính, Ta sẽ vì họ mà tha thứ cho cả thành”. Abraham thưa lại: “Dù con chỉ là tro bụi, con đã bắt đầu nói, nên con xin thưa cùng Chúa con: Nếu trong số năm mươi người công chính đó còn thiếu năm người thì sao? Vì thiếu năm người Chúa có tàn phá cả thành không?” Chúa phán: “Nếu Ta tìm thấy bốn mươi lăm người công chính, Ta sẽ không phá huỷ cả thành”. Abraham lại thưa cùng Chúa rằng: “Nhưng nếu có bốn mươi người thì Chúa sẽ làm gì?” Chúa phán: “Ta sẽ vì bốn mươi người đó mà không trừng phạt cả thành”. Abraham thưa: “Lạy Chúa, nếu con lên tiếng, xin Chúa đừng nổi giận. Nếu ở đây tìm được ba mươi người công chính thì sao?” Chúa phán: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không phạt”. Abraham nói: “Vì con đã trót nói thì con sẽ thưa cùng Chúa: Nếu trong thành tìm được hai mươi người công chính thì sao?” Chúa phán: “Vì hai mươi người đó Ta sẽ không tàn sát”. Abraham thưa: “Lạy Chúa, xin đừng nổi giận, con chỉ xin thưa lần này nữa thôi: Nếu tìm được mười người công chính ở đó thì sao?” Chúa phán: “Vì mười người đó, Ta sẽ không tàn phá”. Khi đã nói với Abraham xong, Chúa ra đi, và Abraham trở về nhà mình.

    PHÚC ÂM: Mt 8, 18-22

    Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đám đông dân chúng vây quanh Người, thì Người ra lệnh sang qua bờ bên kia. Một luật sĩ đến thưa Người rằng: “Lạy Thầy, bất cứ Thầy đi đâu, con cũng xin theo Thầy”. Chúa Giêsu trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu”. Một môn đệ khác thưa Người rằng: “Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã”. Chúa Giêsu trả lời: “Con hãy theo Ta, và hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”.

    Suy Niệm 1: NẾU CÓ ĐƯỢC 10 NGƯỜI CÔNG CHÍNH…

    Từ 50 giảm xuống còn 10 người công chính ở Sô đôm, như điều kiện để Chúa tha cho thành. Đó là một cuộc điều đình đầy tính giằng co, căng thẳng. Nhưng cái ‘khí quyển’ của cuộc đối thoại này cho thấy một tương quan gần gũi, thân tình. Quả thật Abraham là ‘bạn’ của Thiên Chúa!

    Nội dung cuộc chuyện gợi cho ta hiểu rõ về tính liên hệ, liên đới của mỗi chúng ta với cộng đồng mà mình thuộc về, và với nhân loại nói chung. Liên hệ, liên đới trong cả điều hay lẫn điều dở, trong phúc ân lẫn trong tai hoạ! Mười người công chính có thể cứu được Sôđôm, nhưng nếu chỉ có chín người công chính, thì chín người này sẽ liên luỵ với tất cả những người kia! Không có câu chuyện cuộc đời nào đứng một mình và ở ngoài mọi câu chuyện cuộc đời của người khác!

    Đồng thời, lời hứa của Thiên Chúa (“vì mười người công chính, Ta sẽ không tàn phá”) là bằng chứng của lòng Chúa thương xót, từ bi (x. Tv 102). Rất tiếc là ngay cả chỉ mười người công chính thôi mà cũng không tìm được! Chúng ta có thể tò mò muốn biết trong các thành phố, các tỉnh mới sáp nhập của chúng ta hôm nay có được bao nhiêu người công chính dưới con mắt của Thiên Chúa…

    Trong khi Abraham điều đình ‘giảm giá’ cho sự cứu độ Sôđôm, thì trong Bài Tin Mừng, Chúa Giêsu kiên định ‘giữ giá’ chứ không ‘phá giá’ tinh thần môn đệ. Ai muốn đi theo Chúa Giêsu Kitô (sequela Christi) thì phải trả giá đáng kể, chứ không rẻ tiền. “Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu”… “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”…

    Lời Chúa, như vậy, mời gọi ta vun xới tinh thần, chất lượng môn đệ trong câu chuyện cuộc đời mình, đó là cách chúng ta, dù bé nhỏ, có thể góp phần cứu xã hội, thế giới, Giáo hội này!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………………….

    Suy Niệm 2: ĐẶT TƯƠNG QUAN VỚI CHÚA LÊN VỊ TRÍ ƯU VIỆT

    Bài đọc 1 hôm nay trình bày câu chuyện thật cảm động về việc Ápraham cầu xin Thiên Chúa cho dân thành Xơđôm và Gômôra. Phần mở đầu gợi cho chúng ta một điều để suy gẫm: “Đức Chúa phán: ‘Ta có nên giấu Ápraham điều Ta sắp làm chăng? Ápraham sẽ trở thành một dân tộc lớn mạnh, và nhờ nó mọi dân tộc sẽ được chúc phúc. Thật vậy, Ta đã chọn nó, để nó truyền cho con cái nó và gia tộc nó sau này phải giữ đường lối của Đức Chúa mà thực hiện điều công minh chính trực; như thế Đức Chúa sẽ làm cho Ápraham điều Người đã phán về nó” (St 18:17-19). Trong những lời này, chúng ta thấy, Đức Chúa đã không giấu Ápraham việc Ngài sắp làm với Xơđôm và Gômôra. Thật vậy, Đức Chúa luôn mạc khải mọi sự cho những người Ngài đã chọn. Hay nói đúng hơn, Ngài luôn mạc khải mọi đường lối Ngài cho các “bạn hữu.”

    Cuộc đối thoại giữa Đức Chúa và Ápraham đáng để chúng ta ghi lại và suy gẫm. Cuộc đối thoại này là một ví dụ cầu nguyện tuyệt hảo mà chúng ta có thể học hỏi:

    Ápraham: “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy, chắc không được đâu! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?”

    Đức Chúa: “Nếu Ta tìm được trong thành Xơđôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó.”

    Ápraham: “Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa: Giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá huỷ cả thành sao?”

    Đức Chúa: “Không! Ta sẽ không phá huỷ, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người.”
    Ápraham: “Giả như trong thành tìm được bốn mươi người thì sao?”
    Đức Chúa: “Vì bốn mươi người đó, Ta sẽ không làm.”
    Ápraham: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói tiếp: Giả như ở đó có ba mươi người thì sao?”
    Đức Chúa: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không làm.”
    Ápraham: “Con xin mạn phép thưa với Chúa: Giả như tìm được hai mươi người thì sao?”
    Đức Chúa: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không phá huỷ.”
    Ápraham: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?”
    Đức Chúa: “Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơđôm.”

    Qua cuộc đối thoại giữa Ápraham và Đức Chúa, chúng ta có thể định nghĩa cầu nguyện như sau: Cầu nguyện là một cuộc đối thoại thật thân tình giữa con người với Thiên Chúa về một điều mà cả “Thiên Chúa và con người đang quan tâm.” Trong trường hợp này, chúng ta cũng có thể nói rằng cầu nguyện là một cuộc “trả giá.” Chúng ta thấy Đức Chúa rất kiên nhẫn với Ápraham. Ngài luôn đáp ứng lời cầu xin của Ápraham một cách đầy yêu thương, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, chúng ta tự hỏi: Phải chăng Ápraham dừng cuộc “trả giá” quá sớm ở mức 10 người? Nếu ông “trả giá” xuống đến 5 người, rồi 1 người, chúng ta tin chắc rằng Đức Chúa sẽ đáp ứng lời thỉnh cầu của ông. Điều này nhắc nhở chúng ta về việc “lấy bụng ta đo bụng người [Thiên Chúa].” Chúng ta nghĩ Thiên Chúa sẽ nổi giận, giống như chúng ta làm khi có một ai đó “kỳ kèo, lải nhải” cầu xin mình. Chi tiết này được thể hiện trong thái độ của Ápraham khi khẩn cầu. Ông nói Chúa đừng giận ông hai lần. Thiên Chúa là Đấng từ bi, nhân hậu. Ngài luôn lắng nghe lời cầu khẩn của chúng ta. Hãy kiên nhẫn cầu xin, đừng bỏ cuộc quá sớm.

    Bài Tin Mừng hôm nay nói về việc theo Chúa Giêsu. Chúng ta tìm thấy trình thuật tương tự trong Tin Mừng Thánh Luca (9:57-62). Đó là trình thuật trong Cựu Ước được tìm thấy trong sách Các Vua Quyển Thứ Nhất (1 V 19:19-21), trình bày Ngôn sứ Êlia gọi Êlisa trở thành ngôn sứ [chúng ta nghe trong bài đọc 1 ngày hôm qua]. Khi so sánh bản văn Cựu Ước và Tân Ước, chúng ta nhận ra rằng trường hợp Êlisa đi theo Êlia không bị đòi hỏi nhiều như trong trường hợp của người môn đệ Chúa Giêsu, vì Êlia cho phép Êlisa về chào tạm biệt gia đình, còn Chúa Giêsu thì không. Nói như vậy không có nghĩa là ơn gọi trong Cựu Ước [phản chiếu trong ơn gọi Êlisa] không từ bỏ tận căn. Sự tận căn được diễn tả qua việc Êlisa đốt cày là phương tiện kiếm sống hằng ngày. Điều khác biệt được quyết định ở sự “khẩn cấp” của việc loan báo Tin Mừng [như chúng ta đã trình bày ngày hôm qua].

    Khi so sánh bản văn của Tin Mừng Thánh Mátthêu với bản văn của Tin Mừng Thánh Luca, chúng ta thấy những khác biệt sau: (1) Trong bản văn của Tin Mừng Thánh Luca, có đến ba người theo Chúa [hai người tự nguyện theo và một người được gọi theo]. Họ không được nêu danh. Còn trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, chỉ có hai người [cả hai tự nguyện đi theo Chúa Giêsu]. Danh tánh của họ được nêu ra, đó là một kinh sư và một môn đệ. Thánh Mátthêu thêm vào thuật ngữ chuyên môn “kinh sư” hay “thầy dạy” trong Tin Mừng của mình. Khi người kinh sư nói: “Tôi sẽ theo Ngài,” điều này đồng nghĩa với “tôi sẽ là môn đệ của Ngài.” Như chúng ta biết, kinh sự là người lãnh đạo cộng đoàn, là người dạy dỗ người khác. Trong bối cảnh này, câu ông nói hàm chứa sự “tự hạ”: từ một người thầy dẫn đường người khác, ông hạ mình xuống để “được dạy” và “được Chúa Giêsu dẫn đường.” Nhìn tứ khía cạnh khác, ông đã “nhận ra Chúa Giêsu là thầy dạy đích thật.” Điều này nhắc nhở chúng ta về cuộc sống của mình. Nhiều khi chúng ta cũng có khuynh hướng xem mình là những nhà chuyên môn, những người hướng dẫn người khác. Dần dần chúng ta lấy công trạng cho riêng mình, dẫn người khác đi theo mình hơn là đến với Chúa hoặc đi theo Chúa. Trong bối cảnh theo Chúa, hoặc làm thế nào để sống một cuộc sống đẹp lòng Chúa, chúng ta nhận ra rằng, chuyên môn không quan trọng cho bằng để cho Chúa Giêsu hướng dẫn. Chúng ta cần phải nhớ chân lý này: Những người để Chúa hướng dẫn mới có thể hướng dẫn người khác. Chúng ta cùng nhau phân tích chi tiết hơn hai đối thoại về “ơn gọi” để rút ra những điều hữu ích cho việc theo Chúa của mình.

    Trong trường hợp thứ nhất, khi người kinh sư xin theo Ngài, Chúa Giêsu dùng lối nói biểu tượng lấy từ thiên nhiên để nói về những đòi buộc Ngài muốn nơi người môn đệ: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8:20). Khi nói những lời này, Chúa Giêsu khuyến cáo người kinh sư [các môn đệ và những người muốn theo Ngài] rằng cuộc sống theo Ngài là một cuộc sống không cố định, luôn di chuyển và gặp nhiều nguy hiểm. Đây là một cuộc sống mà Ngài đang sống. Đi theo Chúa Giêsu là luôn “trên đường,” luôn “sẵn sàng đón nhận những bất tiện của hành trình.” Những người tìm tiện nghi, an nhàn cho cuộc sống sẽ gặp thất vọng khi theo Chúa Giêsu. Một chi tiết khác trong câu nói của Chúa Giêsu là việc Ngài sử dụng từ “Con Người” lần đầu tiên trong Tin Mừng Thánh Mátthêu ở đây. Từ này chỉ được tìm thấy trên môi miệng của Chúa Giêsu trong các Tin Mừng. Đây là dữ liệu phản ánh một truyền thống chân thật về việc Chúa Giêsu dùng ngôn từ này để nói về chính mình. Từ “Con Người” ở đây hàm chứa hình ảnh người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa trong sách Ngôn sứ Isaia. Như vậy, theo Chúa Giêsu là sống cuộc đời người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa mà Chúa Giêsu đã sống.

    Trường hợp thứ hai xảy ra cho một người môn đệ đã theo Ngài. Với một người đã theo Ngài, Chúa Giêsu đòi hỏi nơi họ một sự từ bỏ tận căn hơn. Người môn đệ chỉ xin Chúa Giêsu cho phép về chôn cất người cha đã mất. Đây là một thỉnh cầu hết sức tự nhiên, hết sức nhân bản, hết sức con người [đầy tình người]. Tại sao Chúa Giêsu lại không cho phép? Có phải Chúa Giêsu quá tàn nhẫn? Hay có điều gì được hàm chứa sau lời thỉnh cầu của người môn đệ? Chúng ta đọc lại câu thỉnh cầu: “Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã” (Mt 8:21). Cái sai trong lời thỉnh cầu của người môn đệ hệ tại ở chữ “trước.” Trong lời thỉnh cầu này, người môn đệ ám chỉ rằng việc “chôn cất cha” phải có vị trí cao hơn việc “là môn đệ của Chúa Giêsu.” Nói cách khác, “tương quan tự nhiên” với gia đình phải được đặt lên trước tương quan [siêu nhiên] với Thiên Chúa [Chúa Giêsu]. Đứng trước thái độ này, Chúa Giêsu khẳng định lại vị trí tối thượng của Thiên Chúa trên tất cả mọi tương quan: Đối với người môn đệ [người theo Ngài], tương quan với Thiên Chúa phải chiếm vị trí ưu việt nhất. Điều này được Chúa Giêsu diễn tả qua mệnh lệnh: “Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ” (Mt 8:22). Qua câu trả lời này, Chúa Giêsu muốn nơi người môn đệ một con tim không phân chia, một sự kiên định trong chọn lựa của mình. Là những người theo Chúa Giêsu, chúng ta đang sống các mối tương quan của chúng ta thế nào? Việc theo Chúa có phải là ưu tiên hàng đầu của chúng ta không?

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………

    Suy Niệm 3: Điều kiện để theo Chúa

    1. Đức Giêsu đòi hỏi gắt gao nơi các môn đệ, những người muốn đi theo Chúa phải chấp nhận khó khăn. Khi Chúa Giêsu nói :”Con người không có chỗ tựa đầu”, Ngài muốn họ phải quyết liệt từ bỏ vật chất, tình cảm làm cho họ phân tâm. Nhưng dứt khoát đó giúp họ được tự do trong tâm hồn để sống hoàn toàn cho Nước Trời.
    1. Khác với những chưởng môn hay đạo trưởng khi chiêu tập môn sinh thường đưa ra những hứa hẹn cho tương lai xán lạn, Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay lại đưa ra những đòi hỏi quyết liệt và dứt khoat cho những ai muốn bước theo Ngài. Chúa Giêsu đã trả lời cho hai trường hợp đến xin theo Ngài cùng chung một điều kiện là “từ bỏ”, từ bỏ những tìm kiếm mang tính trần thế và từ bỏ những vương vấn tình cảm, thậm chí là liên hệ ruột thịt.
      Điều mà Chúa Giêsu muốn người môn đệ phải có đối với Ngài và sứ vụ mà Ngài sẽ trao phó là một thái độ tin tưởng, phó thác, can đảm và dứt khoát. Không được chần chừ hay nửa vời, bởi lẽ, nếu lừng khừng, trong tương lai, không sớm thì muộn cũng có những thỏa hiệp và bỏ cuộc.
    1. “Con cáo có hang… Chim trời có tổ”.
      Trước hết, đối với người luật sĩ, Chúa bảo ông muốn theo Chúa thì phải từ bỏ hoàn cảnh an toàn của mình, phải chấp nhận cuộc sống phiêu lưu của một nhà truyền giáo lưu động, nay đây mai đó, mà vấn đề sẽ ăn gì, sẽ ngủ ở đâu, không bao giờ được bảo đảm. Chúa cho ông biết hoàn cảnh thực tại của Chúa : chồn cáo có hang để trú ẩn trong những giờ phút nguy hiểm, lạnh lẽo. Chim trời có tổ để yên nghỉ sau những ngày rã cánh, còn Ngài không có nhà cửa, cả một chỗ dựa đầu cũng không ?  Ai muốn theo làm môn đệ Chúa phải chấp nhận sống như Chúa. Tin Mừng không cho biết câu trả lời của người luật sĩ này thế nào, không biết ông ta có dám từ bỏ mọi sự để theo Chúa không ?
    1. “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết”.
      Đối với một người khác, người này không bị ngăn trở về vật chất, nhưng ngăn trở về gia đình, đó là lòng hiếu thảo. Trước khi theo Chúa anh ta xin về nhà để chôn cất cha già rồi sẽ đến theo Chúa. Nhưng Chúa không cho. Tại sao vậy ?
      Theo một số nhà chú giải Thánh Kinh, câu nói của người này không có nghĩa là  bố của anh ta vừa chết, nhưng là bố anh ta đã già yếu, và anh muốn được săn sóc cha già cho đến khi cha chết để báo hiếu, rồi sẽ đến theo Chúa.  Hiểu như thế chúng ta mới hiểu được lý do tại sao Chúa không cho.
      Một số người khác lại cắt nghĩa rằng : người này xin về để chôn cất cha già, nhưng đó chỉ là câu nói khéo để lưỡng lự từ chối lời Chúa. Cho nên Chúa muốn anh ta  phải dứt khoát lập trường ngay từ đầu.
      Thật ra ở đây Chúa Giêsu muốn bảo cho mọi người biết  chôn cất cha già là một bổn phận cao cả nhưng còn có một bổn phận khác cao quí hơn, đó là việc xây dựng Giáo hội, tôn vinh Thiên Chúa, cứu vớt các linh hồn là những việc cần thiết hơn việc chôn cất cha mẹ. Vì thế, Chúa bảo người ấy :”Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, còn anh,  hãy đi theo Ta”, nghĩa là hãy để cho những kẻ trần thế lo công việc của họ, còn con được ủy thác một sứ mệnh cao cả hơn, thì con hãy đi theo Ta. Tin Mừng không cho biết anh ta có đi theo Chúa không (Phạm văn Phượng).
    1. Với những hình ảnh trên, Chúa Giêsu chỉ muốn nói lên đòi hỏi tận gốc và dứt khoát của Nước Trời : người chọn lựa Nước Trời và muốn làm môn đệ Ngài, phải sẵn sàng hy sinh từ bỏ tất cả. Qua những đòi hỏi đó, Ngài muốn cụ thể hóa giới răn cơ bản nhất, đó là kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn. Thiên Chúa không công nhận bất cứ một thỏa hiệp nào trong lòng người. Hạnh phúc duy nhất và đích thực của con người là chính Thiên Chúa. Bao lâu con người đặt Thiên Chúa lên trên mọi sự, bao lâu con người tìm thấy Thiên Chúa trong mọi sự, thì bấy lâu con người sống trong ơn gọi của mình và tìm được hạnh phúc đích thực (Mỗi ngày một tin vui).
    1. Truyện : Cái lợi của sự từ bỏ.
      Có hai tu sĩ lên đường hành hương : một người chủ trương phải có tiền bạc và phương tiện vật chất đầy đủ  mới có thể đảm bảo cho đời sống tu trì; một người thì luôn tin tưởng nơi tinh thần từ bỏ. Hai người trao đổi, tranh luận nhau về hai tinh thần khác nhau mà không ai có thể thuyết phục được ai. Khi họ đến bờ sông thì trời cũng đã tối. Người có tinh thần từ bỏ đề nghị :
      – Chúng ta không có tiền thì làm sao có thể qua sông ?  Chúng ta hãy ngủ lại đây và dâng lời chúc tụng Chúa.
      Người kia đáp :
      – Nơi này không có làng mạc, nhà cửa, thú dữ có thể cắn xé, bên kia sông, chúng ta có thể nghỉ lại một cách an toàn. Tôi có mang theo tiền, chúng ta hãy thuê một người lái đò.
      Sau khi đã qua sông, vị tu sĩ trả tiền cho người lái đò và nói với người bạn của mình như sau :
      – Anh đã thấy được cái lợi của việc giữ tiền trong túi chứ ? Chính nhờ có chút tiền bạc, tôi đã có thể cứu mạng anh và mạng tôi.
      Nghe thế, vị tu sĩ luôn sống trong tinh thần từ bỏ mỉm cười và nói :
      – Chính sự từ bỏ của anh đã cứu sống chúng ta, anh đã không tiếc của để thuê người lái đò là gì ? Hơn nữa, tôi không có đồng xu dính túi, thế mà tôi vẫn sống; tôi tin rằng chính tinh thần từ bỏ  đã cho tôi có được mọi sự cần thiết.

      Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

                                                                                                   

     

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com