Gioan Macias sinh năm 1585 tại Rivera del Fresno (Extremadura, Tây Ban Nha) và qua đời tại Lima (Peru) ngày 16/9/1645. Thầy sinh ra vào cuối thế kỷ XVI, thời điểm Tây Ban Nha đang mải miết xây dựng cho mình một đế chế bao la nơi Tân Thế Giới phía bên kia đại dương.
Năm 1610, ở tuổi 25, thầy lên đường sang Châu Mỹ. Sau vài năm, thầy gia nhập Dòng Đa Minh tại Peru với tư cách là một Trợ sĩ và đảm nhận công việc giữ cửa tu viện suốt phần đời còn lại.
Một đời sống xem ra đơn sơ và lặng lẽ, nhưng thực chất lại đong đầy tinh thần đạo đức tuyệt vời. Theo lời kể của những người từng biết và sống cùng thầy, đó là một cuộc đời thấm đượm lòng bác ái phi thường dành cho tất cả những ai tìm đến, đặc biệt là những người bần cùng nhất.
Thông điệp xã hội từ một đời sống dâng trọn cho người nghèo
(1) Gioan Macias chưa từng giảng thuyết cũng như viết sách. Người anh em khiêm tốn ấy, nay được toàn thể Giáo hội tôn vinh hẳn sẽ rất ngỡ ngàng nếu biết rằng cuộc đời lặng lẽ của mình lại mang một thông điệp cho thế giới, nhất là một thông điệp mang tính xã hội.
Nhưng chính cuộc đời khiêm hạ đó lại đang làm chứng cho chúng ta hôm nay và tạo nên thông điệp này. Đó chẳng phải là vai trò của các vị thánh được Giáo hội tuyên phong sao? Việc tuyên thánh giúp cho thân thế và sự nghiệp được nhiều người biết đến trên toàn thế giới. Dù vẫn thuộc về thời đại và môi trường mình đã sống, nay các ngài trở thành tài sản chung của cả cộng đoàn Kitô giáo, là tấm gương cho bất kỳ ai đang tìm kiếm những giá trị nhân văn thực sự.
Gioan Macias rời quê hương sang Tân Thế Giới như một người nhập cư khi còn rất trẻ. Những chuyến tàu vượt biển thời đó chở đủ mọi hạng người: binh lính đi chinh phục vì ham mê vàng bạc hay danh vọng; các nhà thừa sai đi rao giảng Tin Mừng cho những sắc tộc xa lạ; thương gia và những kẻ phiêu lưu; cùng với đó là những con người nghèo khổ hy vọng tìm kiếm cơ hội đổi đời nơi đất khách. Chỉ nhóm người cuối cùng này mới đúng là những “người di dân” theo cách hiểu ngày nay, và Gioan Macias là một trong số họ.
Thầy hiểu cảm giác xa rời xứ sở, xa rời môi trường quen thuộc. Thầy biết thế nào là dấn thân vào chốn vô định, trải qua những hy vọng và sợ hãi đan xen, cùng những khó khăn khi phải gầy dựng lại cuộc sống và thích nghi với môi trường mới. Thầy là một trong vô số người qua nhiều thế hệ đã phải bươn chải từ quốc gia này sang quốc gia khác, không phải vì sở thích hay mạo hiểm, mà vì sinh kế buộc ràng.
(2) Dĩ nhiên, Gioan Macias chẳng bao giờ có ý bi kịch hóa số phận của mình, thầy cũng chẳng bận tâm đếm xỉa hay hình dung hết tầm vóc của hiện tượng xã hội mà chính cuộc đời mình là một mẫu số. Thầy chỉ đơn giản đón nhận số phận và sống trọn vẹn phận đời ấy như một vị thánh.
Dĩ nhiên thầy có thể sống thánh thiện và yêu thương người nghèo ở bất kỳ đâu, vào bất kỳ thời điểm nào. Nhưng trên thực tế, thầy đã trở thành một vị thánh ngay trong thế giới thiếu thốn của những người lưu tán, giữa những kẻ nghèo khổ nhất. Và đây chính là thách thức dành cho chúng ta hôm nay.
Bởi lẽ ngày nay, chúng ta đã nhận thức rất rõ về vấn đề di dân. Ngày nay, nghĩa là sau nhiều thế kỷ buôn bán nô lệ trên những con tàu đen đốn mạt, sau hàng thế kỷ bóc lột lao động ngoại quốc trên các cánh đồng bông hay trong hầm mỏ, và sau biết bao thế kỷ xua đuổi, di dời cả những cộng đồng dân cư … Phải mất biết bao thời gian và đau thương chúng ta mới có thể thức tỉnh. Nhưng một khi thời đại hôm nay đã nhận ra vấn đề, sẽ thật không thể thứ lỗi, và lịch sử sẽ nghiêm khắc lên án, nếu chúng ta không nỗ lực tìm kiếm những giải pháp nhân đạo nhằm tôn trọng phẩm giá con người.
Trong lễ hiển thánh được Giáo hội cử hành trọng thể, chúng ta không chỉ nhìn thấy sự ghi nhận công đức hay đời sống thánh thiện của một tôi tớ Chúa. Đó còn là một bài học cho hiện tại, một tiếng gọi và một lời thức tỉnh. Việc một người nhập cư như Gioan Macias được hiển thánh hôm nay phải hướng sự chú ý của mọi Kitô hữu vào tính cấp thiết và nghiêm trọng của vấn đề xã hội này. Và chính tại điểm này, chúng ta mới có thể bàn về một ‘ thông điệp’ đúng nghĩa.
(3) Gioan Macias nên thánh vì thầy đã sống trọn vẹn trong tình yêu dành cho người nghèo. Chính vì bản thân cũng là một người bần cùng, chịu nhiều thiệt thòi và phải rời bỏ cội nguồn, thầy mới có thể thấu cảm những phận người nghèo khổ, bất hạnh và bơ vơ. Thầy hiểu rằng điều họ khao khát nhất xưa cũng như nay là được yêu thương, được công nhận, đón nhận và đối xử như anh em một nhà.
Phép lạ được công nhận trong lễ phong thánh của thầy, phép lạ hóa gạo ra nhiều cho một cộng đoàn nghèo, cũng mang trọn ý nghĩa đó. Chúng ta phải nỗ lực nắm bắt thông điệp về tình huynh đệ này để đưa vào thực tế hôm nay, mà không bỏ sót bất kỳ khía cạnh nào của vấn đề trong thời đại mình.
Thế giới đã chuyển mình rất nhiều kể từ thời Thánh Gioan Macias. Không chỉ bối cảnh lịch sử có những bước tiến lớn, mà nhờ thấu hiểu sâu sắc hơn về Tin Mừng, và cũng phải thừa nhận là dưới sức ép của thời cuộc, Dân Chúa đã nhận thức được những đòi hỏi bao quát hơn của đức ái. Chúng ta hiểu rõ hơn rằng đức ái không thể chỉ thu hẹp trong những cử chỉ nhân ái hay sự chăm sóc riêng lẻ, thậm chí không chỉ là những hy sinh của cá nhân khi phục vụ tha nhân. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng đức ái phải tác động, chạm đến và biến đổi mọi mặt của đời sống con người cũng như cấu trúc xã hội.
Tình bác ái huynh đệ không phải là một lựa chọn thêm thắt dành cho những ai có thời gian, tiền bạc hay hảo tâm. Đó không đơn thuần là sự trợ giúp từ tâm nhằm lấp liếm những khuyết điểm của một trật tự xã hội đang đè nén người nghèo. Dĩ nhiên sự cứu trợ như thế luôn cần thiết, nhưng đòi hỏi đầu tiên của lòng bác ái chính là công lý cho mọi người. Một diễn giả trong Tuần lễ Xã hội Pháp từng đưa ra nhận định nổi tiếng: “Những gì là bác ái ngày hôm nay phải trở thành công lý vào ngày mai”. Yêu thương đồng loại trước hết là mong muốn họ được đón nhận như những thành viên trọn vẹn của xã hội, là dấn thân bằng những việc làm thiết thực để nhân phẩm của họ được thừa nhận và tôn trọng.
Lòng bác ái đích thực ngày nay đòi hỏi chúng ta phải dấn thân và làm tất cả những gì có thể với ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình vốn sâu xa và nghiêm trọng hơn chúng ta tưởng để xây dựng một xã hội công bằng hơn, nhân văn hơn và thắm tình huynh đệ hơn. Tuy nhiên, tôi phải nói thêm rằng: một thế giới công bằng hoàn hảo với những luật lệ tối ưu và quyền lợi của mọi người được tôn trọng vẫn có thể là một thế giới lạnh lẽo, vô hồn và vô vọng nếu thiếu vắng tình yêu. Tự bản thân công lý thuần túy có thể rất nhẫn tâm, và chẳng đạo luật xã hội nào có thể khơi nguồn cho tình yêu. Một người sống theo Tin Mừng phải đặc biệt nhạy bén với điều đó. Người Kitô hữu được gọi mời để xây dựng một thế giới công bằng, nơi tình yêu là sợi dây liên kết giữa người với người, giữa các sắc tộc và mọi cộng đoàn.
Đó chính là thông điệp của Tin Mừng và cũng là thông điệp của Thầy Gioan.
Nhưng thực ra, đó không chỉ là một thông điệp hay một thứ di chúc tĩnh tại. Đúng hơn, đó là sự bừng tỉnh của một góc nhìn mới về thế giới, một luồng nhiệt thành bùng cháy, một thứ men nồng, một dòng suối trào dâng mang lại sức sống mới.
Bài học từ lễ phong thánh đối với Dòng Giảng Thuyết hôm nay
Điều đúng đắn đối với mọi Kitô hữu hôm nay hẳn là mang ý nghĩa sống còn đối với anh em Dòng Đa Minh chúng ta. Qua lễ hiển thánh, người anh em Gioan Macias cùng với chư thánh Dòng Giảng Thuyết hợp đoàn với những người đồng hương và là niềm tự hào muôn đời của đất nước Peru là Thánh Rôsa Lima và Thánh Martinô de Porres. Làm sao anh em Đa Minh lại không cảm thấy gắn kết đặc biệt với nhân dân Peru cùng toàn thể các dân tộc Mỹ Latinh? Thật tự nhiên khi chính tại châu lục này, Dòng Giảng Thuyết vốn lan rộng khắp thế giới lại là nơi tập trung đông đảo tu sĩ thi hành sứ vụ nhất.
Để trung thành với đặc sủng được truyền lại từ Thánh Phụ Đa Minh, người được Giáo hội tôn vinh là Vir Apostolicus (Con người Tông đồ) cũng như với gương sáng của Thánh Gioan Macias, các tu sĩ Đa Minh đang dấn thân tại Latinh Mỹ cần mang trăn trở với hai mối bận tâm lớn:
(1) Mối bận tâm thứ nhất là trở thành những nhân chứng đích thực của một Tin Mừng đích thực. Bằng cụm từ ‘Tin Mừng đích thực’, tôi muốn nói đến một Tin Mừng chân thực và trọn vẹn: một Tin Mừng tác động đến toàn bộ con người, nơi ta không thể rao giảng bằng cách lặp lại những lời sáo rỗng vô hại, mà phải có khả năng nhận diện Tin Mừng ấy trong vô số đòi hỏi khắt khe cũng như trong niềm hy vọng bao la dành cho mọi người, đặc biệt là những ai túng nghèo nhất.
Bằng cụm từ ‘nhân chứng đích thực’, tôi muốn nói đến những con người trước hết biết sống điều mình rao giảng. Đó là những người, trong đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn, luôn rộng mở trước sức sống năng động của Tin Mừng; những người sống giữa người nghèo, chia sẻ những lo âu và mang lại hy vọng cho họ; nói ngắn gọn, đó là những người biết chạnh lòng thương xót người nghèo, nhưng giống như Gioan Macias và Thấnh Phụ Đa Minh, họ tìm thấy chiều sâu và tầm vóc đích thực của lòng thương xót ấy ngay dưới chân Thánh Giá.
(2) Mối bận tâm thứ hai, và cũng là một trong những mục tiêu cốt yếu của người anh em Đa Minh, là cắm rễ Giáo hội sâu rộng trong tâm khảm người dân, nơi bản sắc văn hóa đặc trưng của người dân Mỹ Latinh. Tôi không thể diễn tả điều này tốt hơn là trích dẫn một số nghị quyết vừa đạt được tại Quito trong cuộc họp của tất cả các Bề trên Giám tỉnh và Bề trên Phụ Tỉnh trên toàn châu lục:
“Các tu sĩ Đa Minh ngoại quốc đến thi hành sứ vụ truyền giáo không được mang theo văn hóa riêng để áp đặt; ngược lại, phải nỗ lực hội nhập tối đa vào văn hóa bản địa. Điều đó đòi hỏi họ phải được tuyển lựa cẩn thận ngay từ đầu, được đào tạo chu đáo cho sứ vụ, và sẵn lòng thích nghi liên tục trong suốt quá trình làm tông đồ.
Về phía các tu sĩ bản địa Mỹ Latinh, họ cần hòa nhập sâu sắc hơn nữa với môi trường sống của mình, để việc rao giảng đức tin thực sự đáp ứng đúng tâm tư nguyện vọng của người dân.
Công hội kêu mời anh em Đa Minh đưa ra chọn lựa ưu tiên cho người nghèo, đồng thời nhắc nhở không ai được nhìn bằng ánh mắt e ngại đối với những anh em muốn xả thân trọn vẹn phục vụ những kẻ thiếu thốn nhất.
Sau cùng, chương trình đào tạo hiến định, vốn là một nghĩa vụ thiêng liêng và hệ trọng trong Dòng Đa Minh, cần được xây dựng bám sát thực tiến nhu cầu của châu lục. Chẳng hạn, Công hội khuyến nghị anh em nghiên cứu, thấu cảm và giải thích hiện tượng ‘đạo đức bình dân’ một nét văn hóa cốt yếu tại Mỹ Latinh. Nơi đây ẩn chứa những hạt giống đức tin đích thực cần được thanh luyện, củng cố, dấn thân hơn và giảm bớt tính hình thức. Đây chính là điểm tựa then chốt cho một công cuộc tái loan báo Tin Mừng.
Đó là một số suy tư mà lễ hiển thánh này gợi mở cho tôi. Việc tôn vinh một người anh em của chúng ta tại Peru làm đong đầy lòng chúng ta niềm hân hoan cùng tâm tình tri ân đối với quá khứ, đồng thời khơi dậy nguồn nhiệt thành mới và niềm hy vọng cho tương lai.
Dù vậy, dù đã nêu lên những lý do mang tính xã hội học để giải thích cho một lễ hiển thánh như thế này cũng như tính thời sự của nó hôm nay, tôi vẫn chưa chạm đến động lực cốt lõi của sự tôn vinh ấy, một động lực mang tầm vóc thần học. Đối với một Kitô hữu, mục đích tối hậu của công bình và đức ái vượt xa khỏi ranh giới của thế giới này. Thiên Chúa chính là Alpha và Omega (Khởi nguyên và Tận cùng) của toàn bộ công trình sáng tạo và cứu độ. Thông điệp của Gioan Macias không chỉ dừng lại ở khía cạnh xã hội, mà trên hết là một thông điệp thần học. Khi phác họa trước mắt chúng ta những ‘việc lành’ (opera bona) mà thánh nhân đã thực hiện, Hội Thánh đang phác họa rõ nét một khía cạnh nơi danh tính và khuôn mặt của Thiên Chúa, đồng thời tha thiết mời gọi cộng đoàn Kitô hữu: ‘Hãy tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời’ (Mt 5,16).”
Nguồn: daminhvn.net/