Dẫn Nhập
Tự do là một trong những đặc tính căn bản để phân biệt con người với vạn vật trong vũ trụ. Đồng thời, tự do là chủ đề liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống con người từ truyền thống đến văn hóa, từ xã hội đến pháp luật, từ tâm linh đến tôn giáo, từ triết học đến thần học. Trong khi ai cũng ý thức rằng tự do gắn liền với con người thì việc nhận thức và thực thi tự do luôn là chủ đề gây nhiều tranh luận. Ai cũng muốn được giải thoát khỏi mọi bất công, bất bình đẳng cũng như mọi hình thức áp bức trong đời sống của mình nhưng những quan điểm về cách thức giải quyết các vấn đề ấy lại rất khác nhau.
Mặc khải Ki-tô Giáo giúp chúng ta nhận biết rằng Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc sáng tạo vạn vật và con người. Đồng thời, Thiên Chúa ban tặng tự do như là ân huệ gắn liền với phẩm giá con người, được tạo dựng theo hình ảnh Người. Chúng ta có thể nêu năm điểm quan trọng về sự tự do của con người trong tương quan với Thiên Chúa: (1) Thiên Chúa dựng nên vạn vật và con người; (2) Thiên Chúa ban cho con người tự do để đáp lại tình thương của Người bằng sự vâng phục; (3) con người đã lạm dụng tự do để bất tuân Thiên Chúa; (4) hậu quả của sự bất tuân ấy là tội lỗi và sự chết đã xâm nhập trần gian; (5) Thiên Chúa không bỏ rơi con người nhưng đã khai mở kế hoạch cứu độ hầu đem lại tự do đích thực cho con người trong hành trình hướng về Quê Hương Vĩnh Cửu.
Bài viết ‘Đức Giê-su Ki-tô – Đường Kiện Toàn Tự Do’ gồm bốn đề mục chính sau đây: (1) Khái Niệm Tự Do, (2) Tự Do Trong Cựu Ước, (3) Tự Do Trong Tân Ước và (4) Theo Đường Kiện Toàn Tự Do Của Đức Giê-su. Việc tìm hiểu chủ đề tự do dưới nhãn quan Ki-tô Giáo giúp chúng ta hiểu biết hơn về tầm quan trọng của tự do đối với mỗi cá nhân, các cộng đoàn cũng như toàn thể gia đình nhân loại. Việc ý thức đầy đủ hơn về tự do và cách thực thi tự do có trách nhiệm sẽ góp phần quan trọng vào sự phát triển con người toàn diện. Đồng thời, điều đó cũng giúp con người biết góp phần xây dựng ngôi nhà chung của gia đình nhân loại.
1. KHÁI NIỆM TỰ DO
Thuật ngữ ‘tự do’ không xuất hiện ngay trong những chương đầu Kinh Thánh. Tuy nhiên, thực tại tự do đã được diễn tả cách sống động và rõ nét trong những trình thuật tạo dựng và sa ngã của con người. Trong Kinh Thánh Híp-ri, một trong những từ ngữ diễn tả tình trạng tự do là tính từ ‘חָפְשִׁי’ (ḥopšî) với nghĩa là được giải thoát khỏi cảnh nô lệ hay một nghĩa vụ nào đó. Từ này xuất hiện lần đầu tiên trong sách Xuất Hành: “Nếu ngươi mua một người nô lệ Híp-ri, người đó sẽ hầu hạ sáu năm; đến năm thứ bảy, người đó sẽ được tự do ra đi, mà không phải trả tiền” (Xh 21,2). Trong bối cảnh này, tự do trước hết được hiểu cách cụ thể như là thoát khỏi tình trạng nô lệ. Một danh từ Híp-ri khác là ‘דְּרוֹר’ (dĕrôr), thường mang nghĩa ‘tự do’, ‘giải phóng’ hay ‘ân xá’. Theo nghĩa xã hội và pháp lý, từ này diễn tả việc công bố sự phóng thích cho những người đang bị lệ thuộc hay mất quyền tự do. Lần đầu tiên từ này xuất hiện trong bối cảnh Năm Toàn Xá: “Các ngươi sẽ công bố năm thứ năm mươi là năm thánh và sẽ tuyên cáo trong xứ lệnh ân xá cho mọi người sống tại đó” (Lv 25,10). Ở đây, tự do không chỉ là tình trạng của một cá nhân mà còn gắn với việc phục hồi tương quan xã hội, gia đình và quyền sở hữu theo trật tự của giao ước.
Ai cũng có thể nhận thức và cảm nghiệm được tự do nhưng việc trả lời cho câu hỏi ‘tự do là gì?’ không phải là chuyện dễ dàng. Đối với một số người, tự do là được suy nghĩ điều mình muốn, nói điều mình muốn và làm điều mình muốn mà không bị bất cứ sự ngăn trở nào. Cũng có người cho rằng tự do nghĩa là không lệ thuộc bất cứ ai hay bất cứ điều gì. Đối nghịch với tự do là tình trạng nô lệ hay bị cản trở, tức là tình trạng khiến con người không thể thực hiện điều mình mong muốn. Quả thật, con người luôn phải đối diện với nhiều nghịch lý liên quan đến tự do của mình bởi vì những điều con người mong muốn thường vượt quá khả năng thực hiện trong cuộc sống. Hơn nữa, tự do của con người không phải là khả năng tuyệt đối muốn làm gì cũng được nhưng luôn gắn với thân phận hữu hạn, tương quan với tha nhân và trách nhiệm đối với những chọn lựa của mình.
Người ta thường phân biệt tự do theo hai hình thức chính yếu là tự do tiêu cực và tự do tích cực: (1) Tự do tiêu cực là tự do khỏi những áp đặt, cưỡng chế hay ràng buộc khiến con người không thể thực hiện điều mình mong muốn. Điều này có nghĩa là con người được tự do khỏi những cản trở đối với việc thực thi ý muốn của mình, chứ không có nghĩa là không còn phải đối diện với thử thách hay nghịch cảnh. (2) Trong khi đó, tự do tích cực là tự do hướng đến và thực hiện những mục đích mà con người nhận biết và chọn lựa, chẳng hạn như tự do để hướng về Thiên Chúa, sống theo sự thật (chân lý), thực thi tình yêu và vun đắp tình bạn. Điều này có nghĩa là bản thân có khả năng tự chủ, phân định, chọn lựa, quyết định và thực hiện những điều tốt đẹp, đem lại thiện ích cho bản thân cũng như cho người khác. Theo nhãn quan Ki-tô Giáo, hai chiều kích này không loại trừ nhưng bổ túc cho nhau: Con người được giải thoát khỏi những gì làm mình mất tự do để có thể tự do hướng tới sự thật, sự thiện và tình yêu.
‘Tự do’ thường được sử dụng với nhiều giới từ khác nhau, chẳng hạn như ‘tự do với’: Tự do trong tương quan với quyền lực, quá khứ, dư luận; ‘tự do trước’: Tự do trước của cải, tiền bạc, vật chất, danh vọng; ‘tự do theo’: Tự do theo lương tâm, sự thật, pháp luật; ‘tự do bởi’: Tự do bởi ân sủng, tình yêu, tình bạn. Trong thần học Ki-tô Giáo, bốn cách diễn tả những chiều kích và tương quan tự do với các giới từ sau đây được dùng khá phổ biến: (1) ‘tự do khỏi’ (freedom from), chẳng hạn như tự do khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, tội lỗi, sự chết, quyền lực bóng tối, quyền lực ma quỷ, thế gian, xác thịt, sợ hãi, lề luật; (2) ‘tự do để’ (freedom to), chẳng hạn như tự do để phụng thờ Thiên Chúa, làm điều thiện, phát triển bản thân, mưu cầu hạnh phúc, xây dựng xã hội, sống xứng đáng với phẩm giá, thực thi thánh ý Thiên Chúa, bước theo sự thật; (3) ‘tự do trong’, chẳng hạn như tự do trong Thiên Chúa, Đức Ki-tô, Thần Khí, Giáo Hội, ân sủng, lương tâm; (4) ‘tự do cho’ (freedom for), chẳng hạn như tự do cho công lý, xây dựng hòa bình, phục vụ tha nhân và toàn thể thụ tạo. Những cách diễn tả này cho thấy tự do của Ki-tô Giáo không chỉ là thoát khỏi những ràng buộc mà còn được ban, được sống và được định hướng trong tương quan với Thiên Chúa, tha nhân và muôn vật muôn loài.
Thánh Au-gút-ti-nô diễn tả tự do như sau: “Nơi con người, có sự chọn lựa tự do của ý chí… Chính các giới răn của Thiên Chúa sẽ vô ích đối với con người nếu con người không có sự chọn lựa tự do của ý chí” (St. Augustine, On Grace and Free Will, Chapter II). Còn thánh Tô-ma A-qui-nô thì khẳng định: “Con người có tự do ý chí; nếu không, mọi lời khuyên bảo, khích lệ, mệnh lệnh, cấm đoán, khen thưởng và hình phạt trở nên vô ích” (Thomas Aquinas, Summa Theologiae I, q.83, a.1). Theo thánh nhân, tự do con người là cơ sở cho mọi hình thức luật lệ, quy định, khen thưởng hay trừng phạt. Điều này có nghĩa là con người phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Người ta thường tóm lược tư tưởng thánh nhân về tự do như là khả năng của con người có lý trí và ý chí để phân định, chọn lựa và hành động cho mục đích mà mình hướng tới. Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: “Tự do là khả năng bắt nguồn từ lý trí và ý chí, để hành động hay không hành động, làm việc này hoặc việc nọ; nhờ đó, con người có thể thực hiện những hành vi có ý thức. Nhờ có ý chí tự do, con người tự quyết định về bản thân. Nhờ tự do, con người phát triển và trưởng thành trong chân lý và sự thiện. Tự do đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa, nguồn hạnh phúc của chúng ta” (GLGHCG 1731). Như vậy, tự do, trách nhiệm, sự thật và sự thiện luôn gắn bó mật thiết với nhau; tự do càng hướng về sự thiện và về Thiên Chúa thì con người càng đạt tới sự viên mãn của mình.
Con người vừa là thụ tạo cao quý, vừa là thụ tạo hữu hạn, yếu đuối, mỏng giòn và dễ sa chước cám dỗ. Con người luôn mang những giới hạn nhất định về không gian, thời gian, sức khỏe, sự hiểu biết, các điều kiện tự nhiên, các mối tương quan, bối cảnh xã hội, ngôn ngữ và cuối cùng là cái chết. Quả thật, vì Tội Nguyên Tổ và hậu quả của nó, nhất là khuynh hướng nghiêng chiều về tội lỗi, con người phải đối diện với nhiều thử thách và nghịch cảnh trong đời sống hằng ngày. Do đó, con người vốn mong manh, dễ sai lầm và dễ bị tổn thương trong đời sống nội tâm cũng như trong các mối tương quan với thế giới bên ngoài. Mang thân phận thụ tạo, nếu chỉ dựa vào sức riêng mình, con người khó có thể biến đổi tận căn thân phận mình cũng như góp phần biến đổi đời sống anh chị em đồng loại cách phù hợp với sự thật và sự thiện.
Câu hỏi đặt ra là: ‘Đâu là tự do đích thực?’ Thưa, tự do đích thực là tự do không ngừng hướng về Thiên Chúa, mở rộng tâm hồn với Người và thực thi thánh ý Người. Tự do của con người được thể hiện đúng đắn khi con người biết cậy dựa vào Thiên Chúa, mở lòng với Người và để Người đồng hành, hướng dẫn, nhờ đó có thể vượt qua những giới hạn bản thân và sống trung tín với Người. Tự do đích thực cho phép con người định hướng và hoàn thiện bản thân, đồng thời biết quy hướng về Thiên Chúa trong mọi tư tưởng, lời nói và việc làm. Hơn nữa, nhờ ân sủng Thiên Chúa, tự do của mỗi người đóng vai trò quan trọng trong hành trình hướng tới sự sống vĩnh cửu của mình. Điều này có nghĩa là con người vừa có thể làm cho bản thân được thăng tiến theo thánh ý Thiên Chúa, vừa có khả năng làm tổn hại chính mình khi lấy mình làm tiêu chuẩn. Nói cách khác, tự do của con người vừa quyết định cách thức hành xử, vừa quyết định vận mệnh bản thân trong hành trình trần thế này.
Tự do đích thực của con người và ân sủng Thiên Chúa không thể tách rời nhau. Điều này có nghĩa là ân sủng và tự do không phủ nhận lẫn nhau. Do đó, không ai có thể nhân danh tự do để loại trừ ân sủng cũng như không thể nhân danh ân sủng để loại trừ tự do. Chính ân sủng Thiên Chúa chữa lành, nâng đỡ và kiện toàn tự do, đồng thời giúp con người thực thi tự do cách đúng đắn. Ân sủng vừa là nguồn trợ giúp, vừa là động lực giúp con người thực thi tự do phù hợp với thánh ý Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là tự do của con người đạt tới sự hoàn thiện khi con người sống trong ân sủng và quy hướng về Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần. Theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Ân sủng Đức Ki-tô không hề chèn ép tự do của chúng ta, khi tự do đi đúng hướng của Thiên Chúa và điều thiện mà Thiên Chúa đã đặt trong lòng con người” (GLGHCG 1742). Cũng theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Càng ngoan ngoãn vâng theo sự thúc đẩy của ân sủng, chúng ta càng được gia tăng tự do nội tâm và lòng quả cảm trước thử thách, cũng như những áp lực và ràng buộc của thế giới bên ngoài” (GLGHCG 1742).
Sự lệ thuộc của con người vào Thiên Chúa không làm cho con người mất tự do; trái lại, giúp sự tự do của con người được định hướng về Nguyên Ủy và Cùng Đích của vạn vật. Nỗ lực của con người trong việc thực thi tự do cách đúng đắn giúp con người ngày càng đến gần Thiên Chúa hơn. Ý thức về sự hiện diện, hoạt động và đồng hành của Thiên Chúa giúp con người sống xứng hợp với muôn vàn ân sủng được Người ban tặng, đồng thời, giúp con người biết luôn biết hướng về Thiên Chúa là Nguồn Gốc của mọi điều thiện hảo nơi mình và nhờ Người vượt qua muôn hình thức cám dỗ của ma quỷ, thế gian và xác thịt.
Tự do của con người và lề luật Thiên Chúa có tương quan mật thiết với nhau: Theo Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II: “Mối tương quan giữa tự do của con người và lề luật Thiên Chúa, vốn có trung tâm sâu xa và sống động nơi lương tâm luân lý, được biểu lộ và hiện thực hóa trong các hành vi của con người” (Pope John Paul II, Veritatis Splendor 71). Như vậy, mọi hành vi tự do của con người cần luôn quy hướng về Thiên Chúa. Nhờ đó, con người thể hiện chính mình là thụ tạo chỉ trở nên hoàn thiện khi được đắm chìm trong tình thương của Người. Những kết quả tốt lành hay hậu quả tai hại từ các hành động của con người biểu lộ cách thức thực thi tự do: Quy hướng về Thiên Chúa hay xa rời Người, Đấng là cùng đích tối hậu.
Con người được mời gọi thực thi tự do phù hợp với những chuẩn mực luân lý được Thiên Chúa thiết định. Công Đồng Vatican II khẳng định: “Tự do đích thực là dấu chỉ cao cả nhất của hình ảnh Thiên Chúa trong con người. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn để con người tự định liệu, hầu con người tự mình đi tìm Ðấng Tạo Dựng và nhờ kết hợp với Ngài con người tiến tới sự hoàn thiện trọn vẹn và hạnh phúc. Vậy phẩm giá của con người đòi họ phải hành động theo sự chọn lựa ý thức và tự do, nghĩa là chính con người được thúc đẩy và hướng dẫn tự bên trong, chứ không do bản năng mù quáng hay cưỡng chế hoàn toàn bên ngoài” (GS 17). Như vậy, chỉ trong tự do đích thực, con người mới có thể biểu lộ cách xứng hợp phẩm giá cao quý của mình là được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa; trong tự do đích thực, con người có thể tự nguyện tuân giữ lề luật Thiên Chúa và phụng thờ Người.
Tự do và phẩm giá con người liên hệ mật thiết với nhau. Khi tự do của con người bị xâm phạm cách bất công thì phẩm giá con người cũng bị tổn thương. Phẩm giá con người còn được biểu lộ qua lý trí, ý chí, lương tâm cũng như qua mối tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với toàn thể thụ tạo. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, phẩm giá con người mang tính nội tại, bất khả nhượng và vô hạn (dignitas infinita). Theo Bộ Giáo Lý Đức Tin: “Mỗi con người đều sở hữu phẩm giá bất khả nhượng và nội tại ngay từ khởi đầu sự hiện hữu của mình như một hồng ân không thể thu hồi. Tuy nhiên, việc diễn tả và biểu lộ phẩm giá ấy cách trọn vẹn hay làm lu mờ phẩm giá đó lại tùy thuộc vào quyết định tự do và có trách nhiệm của mỗi người” (Dicastery for the Doctrine of the Faith, Dignitas Infinita 22). Giáo huấn này giúp chúng ta nhận thức rằng phẩm giá nội tại là nền tảng các quyền căn bản của con người, trong đó có quyền tự do.
Tự do Ki-tô Giáo gắn liền với đức tin theo mặc khải Thiên Chúa. Đức tin là ánh sáng soi đường để con người có thể thực thi tự do của mình cách đúng đắn. Trong sự tín thác vào Thiên Chúa, con người cần biết phân định, chọn lựa, quyết định và hành động xứng hợp. Đức tin vừa là hồng ân Thiên Chúa, vừa bao hàm việc con người tự do đáp lại. Sự đón nhận, đào sâu và thực hành đức tin luôn mang dấu ấn những giới hạn vốn có của con người trên bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Chính tự do của con người giữ vai trò quan trọng trong việc đón nhận, sống và làm cho đức tin sinh hoa kết quả. Trong Thông Điệp ‘Đức Tin và Lý Trí’ (Fides et ratio, 1998), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II khẳng định: “Tự do không chỉ là thành tố của hành vi đức tin mà còn là điều kiện tất yếu của hành vi ấy. Chính đức tin làm cho con người có thể biểu lộ tự do của mình cách trọn hảo. Nói cách khác, tự do không đạt tới sự viên mãn nơi những chọn lựa chống lại Thiên Chúa” (Pope John Paul II, Fides et Ratio 13). Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI quả quyết: “Tự do đòi hỏi những xác tín; nhưng những xác tín không tự nhiên mà có, trái lại, luôn phải được chính cộng đoàn không ngừng vun đắp và tái tạo” (Pope Benedict XVI, Spe Salvi 24). Như vậy, đức tin không thu hẹp tự do nhưng giúp tự do nhận ra chân trời và cùng đích của bản thân nơi Thiên Chúa.
Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, sự thật gắn bó mật thiết với tự do, đồng thời định hướng tự do đạt tới cùng đích của mình. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Một khi sự thật bị chối bỏ đối với con người thì mọi nỗ lực giải phóng con người chỉ là ảo tưởng. Sự thật và tự do gắn bó mật thiết với nhau: Hoặc cả hai cùng đồng hành, hoặc cả hai cùng suy vong trong bi thảm” (Pope John Paul II, Fides et Ratio 90). Trong mọi hoàn cảnh, tự do cần được thực thi sao cho sự thật được tỏ bày, được đón nhận và được nội tâm hóa trong đời sống con người. Khi tự do và sự thật hòa hợp với nhau, con người có khả năng nhận biết và thực thi thánh ý Thiên Chúa cách đúng đắn. Do đó, tự do của con người phải là tự do trong sự thật, nhờ đó con người ngày càng được thăng tiến hơn trên hành trình đức tin, đức cậy và đức mến. Đối với các Ki-tô hữu, sự thật không chỉ là điều phải nhận biết mà còn là điều đạt tới sự viên mãn nơi Đức Ki-tô (Ga 1,17). Người tìm kiếm sự thật cũng là người tìm kiếm tự do; ngược lại, người tìm kiếm tự do cũng phải là người tìm kiếm sự thật. Khi sự thật và tự do tách rời nhau, con người dễ rơi vào sai lạc và bị chi phối bởi quyền lực bóng tối. Nói cách khác, tự do đích thực là tự do hướng về sự thật, sống theo sự thật và tạo điều kiện để sự thật được tỏ bày trong đời sống cá nhân cũng như trong các tương quan xã hội.
2. TỰ DO TRONG CỰU ƯỚC
2.1 Tự Do Như Là Hồng Ân Và Trách Nhiệm
Theo trình thuật sách Sáng Thế chương 1: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Trình thuật này hàm ý rằng con người được Thiên Chúa ban tặng tự do bởi vì con người được sáng tạo theo hình ảnh Người, đồng thời, con người có trách nhiệm làm chủ và quản lý công trình tạo dựng theo ý định của Thiên Chúa (St 1,28-29). Trong trình thuật sách Sáng Thế chương 2, sau khi sáng tạo con người, Đức Chúa phán: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,16-17). Điều này có nghĩa là con người được đặt trước sự chọn lựa giữa tuân phục hay bất tuân phục huấn lệnh Thiên Chúa. Tự do ở đây không phải là quyền tự xác định điều thiện điều ác nhưng là khả năng đón nhận hay khước từ trật tự thiện hảo do Thiên Chúa thiết lập. Do đó, con người phải chịu trách nhiệm về sự chọn lựa và hành động của mình, cụ thể là ăn hay không ăn trái của ‘cây cho biết điều thiện điều ác’.
Trình thuật sách Sáng Thế chương 3 cho chúng ta biết rằng người đàn bà nói với con rắn (hình ảnh ma quỷ) về huấn lệnh Thiên Chúa là không được ăn ‘trái trên cây ở giữa vườn’, nếu ăn thì phải chết. Con rắn nói: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,4-5). Người đàn bà đã ăn trái cây theo lời con rắn và bà cũng đưa cho chồng mình cùng ăn. Sau đó, mắt họ mở ra và họ biết mình trần truồng và họ kết lá vả làm khố che thân (St 3,7). Như vậy, ngay từ buổi đầu, con người đã sa vào chước cám dỗ bởi vì không bằng lòng với thân phận hữu hạn của mình và muốn chiếm lấy quyền tự quyết về điều thiện và điều ác thay vì đón nhận chuẩn mực ấy từ Thiên Chúa. Hậu quả là: Con người mất tình trạng ân sủng nguyên thủy, mất sự thân tình với Thiên Chúa, sợ hãi, trốn tránh Thiên Chúa, đổ lỗi cho nhau, tương quan giữa họ bị tổn thương, nếm mùi khổ đau, phải lao động cực nhọc, đất đai bị nguyền rủa, bị trục xuất khỏi vườn Ê-đen và thân xác phải chết.
Theo nội dung mặc khải Ki-tô Giáo, chỉ Thiên Chúa là Đấng vô hạn, con người cũng như muôn vật muôn loài là những thụ tạo hữu hạn. Do đó, những gì thuộc về con người cũng đều hữu hạn: Thân xác, ý chí, lý trí đều hữu hạn. Tương tự như vậy, ý chí tự do của con người cũng hữu hạn, nghĩa là con người không thể tự do quyết định mọi sự theo ý riêng mình hay theo ý muốn của tập thể nào đó mà cần quy chiếu về thánh ý Thiên Chúa. Trong Thông Điệp ‘Ánh Rạng Ngời Chân Lý’ (Veritatis Splendor, 1993), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II làm sáng tỏ trích đoạn St 2,16-17 như sau: “Mặc khải dạy rằng quyền quyết định điều gì là thiện và điều gì là ác không thuộc về con người nhưng chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa. Quả thật, con người có tự do vì có khả năng hiểu và đón nhận các mệnh lệnh của Thiên Chúa. Hơn nữa, con người còn được hưởng quyền tự do rất rộng lớn, bởi lẽ họ có thể ăn trái của ‘mọi cây trong vườn’. Tuy nhiên, tự do ấy không phải là vô hạn: Nó phải dừng lại trước ‘cây biết điều thiện điều ác’, vì con người được mời gọi đón nhận luật luân lý do Thiên Chúa ban” (Pope John Paul II, Veritatis Splendor 35). Do đó, khi con người không thể hiện tự do theo trật tự hữu thể và luân lý của mình, con người phải đối diện với hậu quả của sự chọn lựa ấy mà hậu quả nghiêm trọng nhất là cái chết.
Sau khi đưa dân Ít-ra-en ra khỏi cảnh nô lệ, trên núi Xi-nai, Đức Chúa phán: “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20,2). Lời mở đầu của Thập Điều cho thấy lề luật được ban sau hành vi giải phóng: Trước hết, Thiên Chúa cứu dân khỏi nô lệ, rồi Người mời gọi họ sống tự do trong giao ước. Lịch sử Ít-ra-en, lịch sử dân được Thiên Chúa tuyển chọn, giúp chúng ta hiểu rằng ý chí tự do của con người dễ bị tổn thương. Trong khi Thiên Chúa hằng trung tín và dẫn dắt họ thì họ lại phản nghịch Người. Thiên Chúa không ngừng ban ơn cho họ, tuy nhiên, thay vì sống trong tâm tình tạ ơn, họ lại vô ơn bất nghĩa. Mô-sê nói với dân chúng: “Lòng anh (em) đừng kiêu ngạo mà quên Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), Đấng đã đưa anh (em) ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Người đã dẫn anh (em) đi trong sa mạc mênh mông khủng khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã khiến nước từ tảng đá hoa cương chảy ra cho anh (em) uống” (Đnl 8,14-15). Như vậy, tự do trong Cựu Ước vừa là hồng ân giải phóng của Thiên Chúa, vừa là trách nhiệm sống trung thành với Đấng đã giải phóng mình.
Trong hành trình qua sa mạc tiến về với Đất Hứa, dân Ít-ra-en kêu trách Đức Chúa và ông Mô-sê: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai-cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? Chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn vô vị này” (Ds 21,5). Đối với họ, ‘sống no hơn chết thèm’, sống nô lệ hơn chết trong sa mạc hay thà chịu cảnh áp bức mà được no nê còn hơn được tự do mà đói khát. Thái độ này cho thấy họ chưa thực sự hiểu rằng tự do không chỉ là thoát khỏi ách nô lệ bên ngoài mà còn đòi hỏi lòng tin, sự kiên trì và trung thành với Thiên Chúa trong hành trình tới miền đất Người đã hứa. Lòng họ chai đá, không hiểu được ý định cứu độ của Đức Chúa qua Mô-sê là cho họ được tự do thực sự trên đất tổ tiên mình. Hậu quả của sự bất tín, bất tuân, phản nghịch là rắn lửa xuất hiện và cắn chết nhiều người. Mô-sê đã kêu cầu cùng Đức Chúa và Người truyền cho ông làm con rắn lửa bằng đồng, treo lên cây cột, để những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn ấy thì được sống (Ds 21,6-9). Hình ảnh con rắn đồng vừa gợi lại hậu quả của tội lỗi khởi đi từ con rắn trong vườn Ê-đen, vừa tiên báo Đức Giê-su chịu treo trên thập giá để cứu độ muôn người (Ga 3,14-15).
Sau khi đã vào Đất Hứa, Giô-suê nói với dân Ít-ra-en tại Si-khem rằng: “Anh em hãy vất bỏ các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả và ở Ai-cập, và hãy phụng thờ Đức Chúa. Nếu anh em không bằng lòng phụng thờ Đức Chúa, thì hôm nay anh em cứ tùy ý chọn thần mà thờ hoặc là các thần cha ông anh em đã phụng thờ bên kia Sông Cả, hoặc là các thần của người E-mô-ri mà anh em đã chiếm đất để ở. Về phần tôi và gia đình tôi, chúng tôi sẽ phụng thờ Đức Chúa” (Gs 24,14-15). Như vậy, việc phụng thờ Đức Chúa không chỉ là việc ‘làm’ hay ‘không làm’ mà còn là việc tỏ bày tinh thần tuân phục Đức Chúa, Đấng là Chủ Tể và cũng là Đấng hướng dẫn vận mệnh của con người. Lời mời gọi ‘hãy chọn’ cho thấy tự do của Ít-ra-en được đặt trong bối cảnh giao ước: Dân có thể chọn lựa nhưng sự lựa chọn đúng đắn là đáp lại lòng trung tín của Đấng đã cứu thoát họ. Trong khi Đức Chúa đã giải phóng dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ Ai-cập, Người vẫn luôn tôn trọng tự do của họ.
Chương trình cứu độ của Đức Chúa cho dân Ít-ra-en giúp họ xác tín rằng tự do là hồng ân của Đức Chúa đi đôi với trách nhiệm quy hướng về Người trong mọi hoàn cảnh hầu có thể vượt qua những cạm bẫy của thế giới bóng tối. Tác giả sách Huấn Ca khẳng định: “Từ nguyên thủy, chính Chúa đã làm nên con người, và để nó tự quyết định lấy. Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn mà trung tín làm điều đẹp ý Người. Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước, con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy. Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử, ai thích gì, sẽ được cái đó” (Hc 15,14-17). Con người được tự do chọn lựa và chịu trách nhiệm về những chọn lựa cũng như cách thức hành động của mình. Tuy nhiên, tự do ấy không mang tính trung lập về luân lý bởi vì Kinh Thánh luôn đặt con người trước sự chọn lựa giữa con đường dẫn tới sự sống và con đường đưa tới sự chết. Ông Mô-sê chỉ dạy cho con cái Ít-ra-en cách thức chọn lựa. Chẳng hạn như ông nói với dân: “Hôm nay, tôi lấy trời đất làm chứng cáo tội anh (em): Tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn sống để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống, nghĩa là hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), nghe tiếng Người và gắn bó với Người” (Đnl 30,19-20). Điều này có nghĩa là con cái Ít-ra-en cần biết chọn lựa đúng đắn để cuộc sống sinh hoa kết quả tốt đẹp, bằng không, họ có thể phải đối diện với những hậu quả đau khổ trong đời sống mình. Ở đây, tự do đạt tới ý nghĩa đích thực khi trở thành sự chọn lựa sự sống bằng cách yêu mến, lắng nghe và gắn bó với Thiên Chúa.
Nhiều trình thuật Cựu Ước cho chúng ta biết rằng khi con người thực thi tự do của mình mà không quan tâm đến sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa cũng là lúc con người phải đối diện với nhiều thử thách khắc nghiệt. Nói cách khác, khi tự do của con người trở nên mù quáng trước sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa cũng là lúc con người có thể rơi vào cảnh tối tăm của các thế lực sự dữ. Hậu quả là con người có thể đối diện với những nghịch cảnh mà tự thân mình không thể tìm được lối thoát. Con người luôn phải chịu trách nhiệm về những chọn lựa của mình. Điều này có nghĩa là việc chọn lửa hay nước, sự sống hay sự chết, tuân phục hay bất tuân phục đều tùy thuộc vào lý trí, ý chí và quyết định của con người. Tuy nhiên, Kinh Thánh không trình bày tự do như một năng lực hoàn toàn tự lập đối với Thiên Chúa nhưng như khả năng đáp lại lời mời gọi và ân huệ của Người. Mỗi chọn lựa đều có thể đem lại kết quả tốt đẹp hay hậu quả xấu xa, tuỳ theo cách con người đáp lại ân sủng dồi dào mà Thiên Chúa ban tặng.
2.2 Tương Quan Giữa Tự Do Với Giao Ước Và Lề Luật
Trong Kinh Thánh, giao ước diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và con người, còn lề luật phát sinh từ giao ước và giúp con người trung thành với giao ước: Giao ước diễn tả căn tính, còn lề luật thể hiện cách thức sống của dân giao ước, cả hai liên kết chặt chẽ với nhau đến nỗi có thể được gọi là ‘luật giao ước’ (covenant law). Nói cách khác, giao ước là nền tảng của lề luật và lề luật cụ thể hóa và làm cho giao ước đi vào đời sống con người. Điều này được thể hiện trong nhiều trình thuật Cựu Ước, chẳng hạn như: “Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo” (Xh 24,7) hay: “Người ấy sẽ làm sáng tỏ giáo huấn đã hấp thụ, sẽ tự hào về luật giao ước của Thiên Chúa” (Hc 39,8). Sự tự do của dân Ít-ra-en được thể hiện cách đúng đắn khi họ trung thành với giao ước qua việc tuân thủ lề luật Thiên Chúa. Như vậy, lề luật không phải là điều được áp đặt bên ngoài trên một dân xa lạ, nhưng là cách thức để dân đã được Thiên Chúa tuyển chọn và giải phóng đáp lại hồng ân Người ban tặng.
Thiên Chúa không chỉ ban cho dân Ít-ra-en lề luật mang tính luân lý phổ quát (Mười Giới Răn) mà còn các quy định về phụng vụ, đời sống dân sự cũng như các hình thức lề luật khác để giúp họ sống xứng hợp với danh hiệu là dân được Người tuyển chọn. Hơn nữa, Người cũng ban cho họ lề luật để họ sống trong tương quan lành mạnh với tha nhân, kể cả những người thù ghét mình: “Nếu gặp bò hay lừa của kẻ thù đi lạc, ngươi phải dẫn nó về cho người ấy. Nếu thấy lừa của kẻ ghét ngươi quỵ ngã vì chở nặng, ngươi không được để mặc người ấy; ngươi phải giúp người ấy đỡ lừa dậy” (Xh 23,4-5). Người cũng ban cho họ những quy định liên quan đến việc chăm sóc và bảo vệ thế giới tự nhiên, chẳng hạn như về đất đai: “Trong vòng sáu năm, ngươi sẽ cày cấy ruộng đất ngươi, gieo trồng và thu hoa lợi. Nhưng năm thứ bảy, ngươi sẽ để đất ngưng sinh hoa màu, để đất hưu canh; những người nghèo trong dân ngươi sẽ được hưởng hoa màu đó, những gì còn lại thì bỏ cho dã thú ăn. Vườn nho và vườn ô-liu, ngươi cũng sẽ làm như thế” (Xh 23,10-11); về súc vật: “Anh (em) không được bịt mõm con bò đang đạp lúa” (Đnl 25,4); về cây cối: “Khi vây hãm một thành lâu ngày để đánh, để chiếm thành, anh (em) không được vung rìu phá cây cối của thành, vì anh (em) sẽ được ăn hoa trái những cây ấy; anh (em) không được chặt những cây ấy. Cây ngoài đồng đâu phải là con người để anh (em) vây hãm?” (Đnl 20,19). Những quy định này cho thấy việc sống giao ước không chỉ liên quan đến tương quan với Thiên Chúa mà còn bao hàm trách nhiệm đối với tha nhân, người nghèo, súc vật và môi trường thiên nhiên.
Dân Ít-ra-en phải biết tuân giữ lề luật Đức Chúa để được sống trong bình an và hạnh phúc. Chẳng hạn, Mô-sê nói với con cái Ít-ra-en: “Đức Chúa đã truyền cho chúng ta đem ra thực hành tất cả những thánh chỉ này và kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, để chúng ta được hạnh phúc mọi ngày và để Người cho chúng ta được sống, như ngày hôm nay. Chúng ta sẽ là người công chính, nếu chúng ta lo đem ra thực hành tất cả mệnh lệnh này trước nhan Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, như Người đã truyền cho chúng ta” (Đnl 6,24-25). Mô-sê đặt mình trong cộng đoàn con cái Ít-ra-en khi dùng đại từ ‘chúng ta’, nghĩa là sự tự do chọn lựa của ông vừa thể hiện chiều kích cá nhân, vừa thể hiện chiều kích cộng đoàn. Nhân danh Đức Chúa, ông dạy con cái Ít-ra-en biết tôn trọng lịch sử, truyền thống, sống trong tâm tình tạ ơn và thực thi thánh chỉ của Người để được sống trong ân nghĩa Người luôn mãi.
Nhiều trình thuật Cựu Ước trong các sách Ngôn Sứ cho chúng ta biết rằng nếu dân Ít-ra-en trung thành với giao ước và thực thi lề luật thì họ được sống, bằng không, họ phải đối diện với sự chết và diệt vong. Chẳng hạn, Lời Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Nếu các ngươi chịu nghe lời Ta, các ngươi sẽ được hưởng dùng hoa mầu trong xứ. Còn nếu các ngươi từ chối mà phản nghịch, các ngươi sẽ phải ăn gươm ăn giáo” (Is 1,19-20); trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Đức Chúa phán như sau: Đây Ta đưa ra cho các ngươi chọn: hoặc con đường đưa tới sự sống, hoặc con đường đưa tới sự chết” (Gr 21,8) hay trong sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en: “Nếu kẻ gian ác từ bỏ mọi tội lỗi mình đã phạm mà tuân giữ mọi quy tắc của Ta, cùng thi hành điều chính trực công minh, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết” (Ed 18,21). Theo truyền thống ngôn sứ, trung thành hay không trung thành với giao ước và lề luật Thiên Chúa không chỉ là vấn đề luân lý mà còn là vấn đề liên quan đến sự tồn tại, phát triển, sống còn hay diệt vong của dân giao ước.
Lịch sử dân Ít-ra-en cũng là lịch sử của việc họ thực thi tự do cách bất xứng và hậu quả là phải ‘nếm nhục, nuốt sầu’. Đường lối Thiên Chúa luôn ngay thẳng nhưng họ không đi theo đường lối đó. Trái lại, họ theo đường lối mình, đường lối xa rời huấn lệnh Người. Hậu quả là khi họ tìm tự do theo ý riêng mình cũng là khi họ phải đối diện với muôn vàn khó khăn không chỉ trong đời sống văn hóa, xã hội mà còn trong đời sống tôn giáo. Quả thật, việc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi cảnh nô lệ, lưu đày hay áp bức dưới quyền của Ai-cập, Ba-by-lon, Mô-áp, Ma-đi-an, Phi-li-tinh, Át-sua, Hy-lạp hay Rô-ma đều mang ý nghĩa tôn giáo. Chủ đề xuyên suốt là: Khi bất tuân Đức Chúa, họ phải chịu cảnh nô lệ, lưu đày, bị áp bức trăm chiều, nhất là về mặt luân lý và tâm linh. Tuy nhiên, không nên hiểu mọi cảnh nô lệ, chiến tranh hay lưu đày như hậu quả trực tiếp của từng hành vi bất tuân; chính các tác giả Kinh Thánh đọc những biến cố lịch sử ấy trong ánh sáng giao ước để mời gọi dân hoán cải và trở về với Đức Chúa. Thật vậy, Đức Chúa luôn yêu thương giải thoát họ, chẳng hạn như Người phán với dân Ít-ra-en: “Khi người Ai-cập, người E-mô-ri, con cái Am-mon, người Phi-li-tinh, người Xi-đôn, người A-ma-lếch và người Ma-đi-an áp bức các ngươi, và các ngươi kêu lên Ta, thì Ta đã chẳng cứu các ngươi khỏi tay chúng sao?” (Tl 10,11-12). Điều này có nghĩa là Thiên Chúa không ngừng bảo vệ họ để họ biết tôn kính và phụng thờ Người cho phải phép. Dần dần, họ nhận ra sự cần thiết phải gắn bó với Đức Chúa để đón nhận ơn tha thứ tội lỗi và sự giải thoát khỏi những cảnh áp bức.
Dưới nhãn quan Cựu Ước, tự do của con người và lề luật Thiên Chúa không đối nghịch nhau nhưng cùng nhau giúp con người sống xứng hợp với thánh ý Người. Điều này có nghĩa là lề luật không làm giảm bớt tự do và tự do đích thực được thực thi phù hợp với lề luật; cả hai gặp gỡ và hỗ trợ lẫn nhau hầu giúp con người thể hiện căn tính, đời sống và sứ mệnh của mình cách xứng hợp. Tự do được thể hiện cách đúng đắn khi quy chiếu theo lề luật để các chọn lựa hướng đến điều thiện và đem lại lợi ích thiết thực cho con người. Kinh nghiệm của dân Ít-ra-en cho chúng ta thấy rằng nhiều khi họ đã thực thi tự do theo ý riêng mình và hậu quả là họ đã xa rời Thiên Chúa. Các hình thức nô lệ, đau khổ và lưu đày của dân này thường được truyền thống Kinh Thánh giải thích trong tương quan với sự bất trung đối với giao ước. Còn mục đích của lề luật là giúp họ trung thành với những cam kết đối với Thiên Chúa để được sống trong tình thương vô bờ bến của Người. Vì thế, lề luật được hiểu đúng không phải như giới hạn áp đặt đối nghịch với tự do nhưng như con đường giáo dục tự do để dân biết chọn sự sống, sự thiện và lòng trung thành với Đức Chúa.
Đức Chúa nói với Ít-ra-en qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Ngươi đã xúc phạm đến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, khi lang bạt khắp các nẻo đường tìm kiếm ngoại kiều dưới mọi lùm cây rậm; còn tiếng Ta gọi, các ngươi chẳng thèm nghe” (Gr 3,13). Trích đoạn này cho chúng ta thấy dân Ít-ra-en không trung thành với Thiên Chúa, họ thờ phượng các ngẫu tượng của dân ngoại, nghĩa là họ thờ phượng theo ý mình chứ không theo ý Người, Đấng đã thiết lập giao ước với cha ông họ và luôn trung tín với giao ước. Quả thật, Thiên Chúa luôn trung tín còn Ít-ra-en thường xuyên phản loạn là một trong những chủ đề xuyên suốt lịch sử của họ, chẳng hạn như: “Nhưng dân Ta đã chẳng nghe lời, Ít-ra-en nào đâu có chịu. Ta đành mặc họ lòng chai dạ đá, muốn đi đâu thì cứ việc đi!” (Tv 81,12-13) hay: “Chính Ta là Đức Chúa, Ta không hề thay đổi; còn các ngươi là con cái Gia-cóp, các ngươi vẫn là thế. Từ thời cha ông các ngươi, các ngươi đã trệch xa và không tuân hành các chỉ thị của Ta” (Ml 3,6-7). Ở đây, sự bất trung của Ít-ra-en không chỉ là vi phạm một số quy định tôn giáo mà còn là phá vỡ tương quan giao ước và sử dụng tự do theo hướng tách mình khỏi Đấng đã tuyển chọn và giải phóng họ.
Những điệp khúc, chẳng hạn như ‘hãy trở về với Ta’, ‘hãy trở về với Đức Chúa’, ‘hãy nghe, hỡi Ít-ra-en’, ‘đừng sợ, vì Ta ở với ngươi’ hay ‘hãy tạ ơn Đức Chúa’ vang vọng trong nhiều sách Cựu Ước, chẳng hạn: “Anh (em ) sẽ trở về cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), anh (em) và con cái anh (em) sẽ nghe tiếng Người, hết lòng hết dạ, theo mọi điều tôi truyền cho anh (em) hôm nay. Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), sẽ đổi vận mạng anh (em), sẽ chạnh lòng thương và sẽ lại tập trung anh (em) về từ mọi dân, từ nơi mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em), đã phân tán anh (em)” (Đnl 30,2-3); “Hãy trở lại với Ta và Ta sẽ quay lại với các ngươi” (Ml 3,7); “Hỡi con cái Ít-ra-en, hãy trở lại với Đấng anh em đã phản bội nặng nề” (Is 31,6); “Các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van. Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương” (Ge 2,12-13). Câu hỏi đặt ra là tại sao dân Ít-ra-en được mời gọi: ‘Hãy tạ ơn’, ‘hãy trở về’, ‘hãy lắng nghe’? Thưa, bởi vì họ đã bất tuân các huấn lệnh Thiên Chúa và xa rời Người là nguồn mạch sự sống của họ. Những lời mời gọi ấy cũng cho thấy Thiên Chúa không huỷ bỏ tự do của dân Người khi họ bất trung nhưng tiếp tục kêu gọi họ sử dụng chính tự do ấy để lắng nghe, hoán cải và trở về.
Kinh nghiệm của dân Ít-ra-en trong Cựu Ước về tự do trở thành bài học cho muôn dân muôn nước qua mọi thời và khắp mọi nơi. Sứ điệp Thiên Chúa dành cho dân này không bao giờ là sứ điệp cản trở sự tự do của họ nhưng là sứ điệp giúp họ hoán cải, trở về với Người và sống dưới bóng cánh Người. Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta bài học sâu sắc rằng thực thi tự do theo thánh ý Thiên Chúa không bao giờ là việc dễ dàng bởi vì con người luôn phải đối diện với muôn hình thức cám dỗ của quyền lực bóng đêm, của ma quỷ, thế gian và xác thịt. Trong ngôn ngữ Cựu Ước, những cám dỗ ấy thường được diễn tả cụ thể qua việc thờ ngẫu tượng, chạy theo quyền lực, của cải, các liên minh chính trị hay bất công đối với người nghèo hơn là qua công thức ‘ma quỷ, thế gian và xác thịt’ vốn quen thuộc trong truyền thống Ki-tô Giáo về sau. Thông thường, con người có xu hướng chọn điều quen thuộc, thuận tiện, phù hợp với tâm thức giới hạn của mình hơn là mở rộng tâm hồn để lắng nghe, đón nhận và thực thi thánh ý Thiên Chúa.
2.3 Viễn Cảnh Tự Do Đích Thực
Chính Đức Chúa đã giải thoát dân Ít-ra-en khỏi cảnh nô lệ Ai-cập. Đồng thời, Người làm cho họ trở thành dân tự do trong tình thương của Người như lời của Mô-sê: “Hãy ghi nhớ ngày hôm nay là ngày anh em ra khỏi Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ, vì Đức Chúa đã dùng cánh tay mạnh mẽ của Người mà đưa anh em ra khỏi đó” (Xh 13,3). Trong sách Đệ Nhị Luật, Mô-sê nói với dân Ít-ra-en: “Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân. Nhưng chính là vì yêu thương anh em, và để giữ lời thề hứa với cha ông anh em, mà Đức Chúa đã ra tay uy quyền đưa anh em ra và giải thoát anh em khỏi cảnh nô lệ, khỏi tay Pha-ra-ô, vua Ai-cập” (Đnl 7,7-8). Việc Thiên Chúa giải thoát dân Ít-ra-en khỏi sự áp bức của kẻ thù và đem lại tự do cho họ là hình ảnh báo trước về sự giải thoát và tự do đích thực mà Thiên Chúa sẽ ban cho mọi người trong gia đình nhân loại.
Dân Ít-ra-en bất tuân, phản nghịch chống lại Thiên Chúa và phải nếm trải cảnh lưu đày, nô lệ và khổ đau. Tuy nhiên, giao ước giữa Thiên Chúa và Ít-ra-en vẫn được Thiên Chúa trung thành thực hiện. Lời Người qua miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a khẳng định điều đó: “Khi mãn bảy mươi năm dành cho Ba-by-lon, Ta sẽ thăm viếng các ngươi và sẽ thực hiện lời báo phúc cho các ngươi là đưa các ngươi trở lại chốn này. Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi, sấm ngôn của Đức Chúa, kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng” (Gr 29,10-11). Kinh nghiệm của dân Ít-ra-en nơi đất khách quê người giúp họ nhận ra rằng trong mọi hoàn cảnh, Thiên Chúa vẫn luôn làm chủ mọi biến cố, cho dù đó là biến cố thảm thương nhất thì biến cố ấy vẫn có thể mở ra con đường hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn.
Đấng cứu độ, Đấng giải thoát, Đấng đem lại tự do đích thực cho Ít-ra-en vượt quá những gì họ từng kinh nghiệm bởi vì Người không phải là Đấng chinh phạt tứ phương, khuất phục kẻ thù bằng sức mạnh gươm giáo mà là Đấng đau khổ, mang lấy thương tích của con người: “Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53,4-5). Điều này đã được thánh Mát-thêu trình thuật để áp dụng cho Đức Giê-su sau khi Người trừ quỷ và chữa bệnh cho tất cả những ai đến với Người với lòng thành tín (Mt 8,16-17). Người Tôi Trung vô tội, hiền lành, khiêm nhường, chịu đau khổ, bị khinh miệt, bị loại trừ; Người Tôi Trung mang lấy tội lỗi của chúng ta; Người Tôi Trung bị bầm dập với khuôn mặt biến dạng và thân thể đầy thương tích. Theo cách đọc của Tân Ước và truyền thống Ki-tô Giáo, dung mạo người Tôi Trung này đạt tới sự viên mãn nơi Đức Giê-su. Người Tôi Trung được Thiên Chúa tuyển chọn nhưng lại không được con người nhận ra bởi vì tư tưởng và đường lối Thiên Chúa không phải là tư tưởng và đường lối con người (Is 55,8-9).
Theo cách hiểu Ki-tô Giáo, viễn cảnh tự do nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần cũng được loan báo cách long trọng trong sách ngôn sứ I-sai-a: “Thần khí của Đức Chúa là Chúa Thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát, công bố lệnh ân xá cho kẻ bị giam cầm, ngày phóng thích cho những tù nhân” (Is 61,1). Trong Cựu Ước, những người được xức dầu thường là vua, tư tế và đôi khi là ngôn sứ. Người được xức dầu cũng là người được sai đi thực thi thánh ý Thiên Chúa. Người nghèo trong Cựu Ước có thể là người khiêm nhường, người bị áp bức, người bị thiếu thốn về vật chất hay tinh thần. Đặc biệt, người nghèo là người biết cậy dựa vào Thiên Chúa để nhờ Người giải thoát hơn là cậy dựa vào sức riêng của mình. Sứ mệnh ưu tiên của sứ giả được Thiên Chúa sai đến là giải thoát, chữa lành, phục hồi và mở ra tương lai cho toàn dân.
Giao ước giữa Thiên Chúa và Ít-ra-en được biểu lộ trong Cựu Ước và hướng tới Tân Ước, chẳng hạn như hình ảnh thiếu nữ Xi-on, nghĩa là Giê-ru-sa-lem, đại diện cho dân Ít-ra-en: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ… Về phần ngươi, vì Ta đã thiết lập giao ước với ngươi trong máu, nên những con dân của ngươi đang bị giam cầm, Ta sẽ đưa lên khỏi hố cạn” (Dcr 9,9-11). Những lời này vọng lại Lời Thiên Chúa trong sách Xuất Hành: “Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói: Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24,8). Đồng thời, những lời ấy cũng báo trước Giao Ước Mới được Đức Giê-su thiết lập bằng chính máu của Người. Quả thật, để đem lại tự do sung mãn cho mọi người trong gia đình nhân loại, Đức Giê-su đã đổ máu Người để thiết lập Giao Ước Mới vĩnh cửu và hy lễ Người hiến dâng có giá trị một lần thay cho tất cả (Mt 26,26-29; Mc 14,22-24; Lc 22,19-20; 1 Cr 11,23-25; Dt 9,12; Dt 10,10).
Lịch sử Cựu Ước giúp chúng ta nhận thức rằng sự giải phóng, đem lại tự do trước hết là cho dân tộc Ít-ra-en, chẳng hạn, sự giải phóng khỏi ách nô lệ Ai-cập, sự giải phóng khỏi cảnh lưu đày tại Ba-by-lon, sự giải phóng khỏi các thế lực thù địch trong miền Pa-lét-tin. Sự giải phóng của Thiên Chúa trở thành hy vọng lớn lao cho dân được tuyển chọn: “Trông cậy Chúa đi, Ít-ra-en hỡi, bởi Chúa luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa. Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn” (Tv 130,7-8). Đồng thời, lịch sử Cựu Ước hướng về Đức Giê-su, Con Thiên Chúa trong thân phận con người, Đấng đến trần gian để giải thoát và đem lại tự do viên mãn cho muôn dân trên mặt đất này. Nhiều khuôn mặt trong Cựu Ước được hiểu như là những hình ảnh báo trước con người và sứ mệnh Đức Giê-su, chẳng hạn như A-ben, Nô-ê, Áp-ra-ham, I-xa-ác, Gia-cóp, Men-ki-xê-đê, Giu-se, Sa-mu-en, Đa-vít, Giô-na nhưng nổi bật trong số đó là Mô-sê.
Sự hiện diện và hoạt động của Mô-sê là hình ảnh báo trước sự hiện diện và hoạt động của Đức Giê-su trong Tân Ước: Mô-sê được Thiên Chúa sai đến với dân Ít-ra-en; Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến với gia đình nhân loại. Mô-sê dẫn dắt dân Ít-ra-en qua Biển Đỏ; Đức Giê-su dẫn gia đình nhân loại qua biển đời. Mô-sê dẫn đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi cảnh nô lệ; Đức Giê-su đem lại tự do cho gia đình nhân loại. Quyền năng Mô-sê là quyền năng đến từ Thiên Chúa; quyền năng Đức Giê-su là quyền năng Thiên Chúa. Mô-sê công bố lề luật Thiên Chúa trên núi Xi-nai; Đức Giê-su công bố Hiến Chương Nước Trời trên Núi Bát Phúc. Mô-sê lấy máu giao ước rảy trên dân; Đức Giê-su lấy máu mình đổ ra cho muôn người. Mô-sê dẫn dân Ít-ra-en tiến về Đất Hứa, miền Pa-lét-tin; Đức Giê-su dẫn đưa gia đình nhân loại về Đất Hứa vĩnh cửu. Mô-sê là trung gian giữa Thiên Chúa và một dân tộc; Đức Giê-su là Trung Gian giữa Thiên Chúa và muôn dân tộc trên mặt đất này.
3. TỰ DO TRONG TÂN ƯỚC
3.1 Tự Do Của Đức Giê-su Trong Mầu Nhiệm Nhập Thể
Sự tự do đích thực của con người được thể hiện cách tốt đẹp ngay trong Biến Cố Nhập Thể khi Đức Ma-ri-a đại diện cho sự đáp lại của gia đình nhân loại mà thưa ‘xin vâng’ với ý định của Thiên Chúa. Ở đây, tự do của Thiên Chúa gặp gỡ tự do của con người cách huyền diệu, nhờ đó: Trời đến với đất, vĩnh cửu đến với thời gian, Đấng sáng tạo đến với thế giới thụ tạo, Đấng thánh thiện đến với con người tội lỗi, Đấng hằng sống đến với con người phải chết. Đức Ma-ri-a đã thành tâm cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa qua việc cưu mang, nuôi dưỡng và đồng hành với Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, trong thân phận con người. Lời ‘xin vâng’ chân thành của Đức Ma-ri-a đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa trở thành mẫu gương cho mọi người trong gia đình nhân loại biết ‘xin vâng’ theo thánh ý Thiên Chúa.
Trong thân phận người phàm, Đức Giê-su đã diễn tả sự tự do hoàn toàn của Người. Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái trình bày về Đức Giê-su như sau: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Để giải thoát con người khỏi cám dỗ của ma quỷ, Đức Giê-su đã chiến thắng cám dỗ của ma quỷ; để giải thoát con người khỏi đau khổ, Đức Giê-su đã mang lấy những đau khổ của con người; để giải thoát con người khỏi bệnh tật, Đức Giê-su đã mang lấy những bệnh tật của con người; để giải thoát con người khỏi ách nô lệ sự chết, Đức Giê-su đã đón nhận cái chết. Những điều này không có nghĩa là Người mang lấy mọi bệnh tật theo nghĩa thể lý nơi chính thân xác Người nhưng là Người thực sự mang lấy thân phận yếu đuối của con người và trong sứ vụ chữa lành, gánh lấy những đau khổ của con người trong tình liên đới cứu độ. Đây là những hình ảnh sống động, rõ nét và viên mãn diễn tả tình thương vô bờ của Thiên Chúa đối với con người được thể hiện nơi Đức Giê-su.
Sự tự do của Đức Giê-su hoàn toàn hướng về sự thật, tình yêu và sự thiện tuyệt đối. Việc Người sống đời thánh thiện không có nghĩa rằng sự tự do của Người kém hơn sự tự do của con người. Ngược lại, sự tự do của Người luôn trọn hảo và siêu việt bởi vì Người luôn vâng phục Chúa Cha. Do đó, chúng ta không thể nói rằng sự tự do chọn lựa cả điều thiện lẫn điều dữ trọn hảo hơn sự tự do luôn chọn điều thiện. Quả thật, là Thiên Chúa, Đức Giê-su ban tự do cho con người; là con người, Đức Giê-su diễn tả sự tự do cao cả mà con người cần phải theo đuổi và noi gương. Nơi Đức Giê-su, sự tự do của con người đạt tới viên mãn bởi vì trong mọi hoàn cảnh, ý chí nhân loại quy hướng và hòa hợp với ý chí thần linh của Người mà không bị tiêu huỷ hay hòa lẫn (theo tuyên tín của Công Đồng Constantinople III, 680-681).
Buổi đầu loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su vào hội đường trong ngày Sa-bát. Khi mở Sách Thánh, Người đọc đoạn nói về Người trong sách ngôn sứ I-sai-a (Is 61,1-2; Is 58,6). Trình thuật Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho thấy rằng chính Đức Giê-su là Đấng giải thoát, Đấng đem lại tự do cho mọi người (Lc 4,18-19). Theo đó, những người nghèo khổ, những người đau yếu, những người bên lề xã hội, những người bị bỏ rơi là những người mà sự tự do của họ bị phương hại. Đức Giê-su đến trần gian để kiện toàn tự do của con người, đồng thời, làm cho sự tự do đó trở nên viên mãn. Trong Cựu Ước, đối với dân Ít-ra-en, sự giải phóng thường mang ý nghĩa đem lại tự do cho Ít-ra-en để họ trung thành với giao ước và phụng thờ Thiên Chúa. Trong khi đó, sự giải thoát của Đức Giê-su đem lại cho con người sự tự do tận căn là giải thoát con người khỏi ách tội lỗi và sự chết, bởi vì, xét cho cùng, mọi hình thức mất tự do đều liên hệ với tội lỗi và hậu quả của nó. Trong Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca, chương trình giải phóng ấy còn bao hàm việc phục hồi con người toàn diện cả về thể lý, xã hội và tinh thần.
Hành trình trần thế của Đức Giê-su cho mọi người biết rằng Người vừa là Đấng vâng phục vừa là Đấng tự do. Công Đồng Vatican II khẳng định: “Mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể” (GS 22). Như đã đề cập ở trên, tự do đích thực là tự do hướng về sự thật, tình yêu và sự thiện phát xuất từ Thiên Chúa. Đức Giê-su cho mọi người biết rằng Người đã thể hiện tự do theo cách thức đó bởi vì Người hằng hướng về Chúa Cha và vâng phục Chúa Cha. Đặc biệt, tự do của Đức Giê-su còn là sự tự do tự hiến chính mình vì lợi ích của mọi người trong gia đình nhân loại. Chính Người đã đi ngược lại thái độ bất tuân, tự cao, tự đại của con người, để giải thoát con người khỏi mọi hình thức nô lệ của họ.
Đức Giê-su đến trần gian không chỉ để mặc khải chương trình cứu độ của Thiên Chúa mà còn để cho con người biết cách thức thực thi tự do của mình sao cho phù hợp với thánh ý Người. Để có thể hướng tới tự do chung cuộc là thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết, mọi người được mời gọi quy hướng về sự tự do của Người. Là Thiên Chúa, Đức Giê-su là ‘Đấng thiêng liêng, vô thủy, vô chung, phép tắc vô cùng, thông minh vô cùng, trọn tốt trọn lành, ở khắp mọi nơi’. Là con người, Đức Giê-su đón nhận những giới hạn thuộc thân phận con người để chia sẻ với con người mọi chiều kích của đời sống nhân sinh, ngoại trừ tội lỗi. Đồng thời, trong mọi biến cố của cuộc đời trần thế, Người luôn là Thiên Chúa thật và là người thật. Điều này có nghĩa là hai bản tính thần linh và nhân loại nơi Đức Giê-su hiệp nhất trong Ngôi Vị duy nhất mà không hòa lẫn, không biến đổi, không phân chia và không tách biệt (Công Đồng Can-xê-đô-ni-a 451).
Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái viết: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,8-9). Đức Giê-su đương đầu với muôn vàn đau khổ và nghịch cảnh để cho thấy Người thực thi tự do cách hoàn hảo nhất. Cụm từ ‘học được thế nào là vâng phục’ không có nghĩa là trước đó Người bất tuân hay thiếu vâng phục nhưng diễn tả việc Người sống vâng phục cách cụ thể và trọn vẹn trong thân phận con người qua đau khổ. Đặc biệt, Người đã tự do chịu chết để tiêu diệt sự chết và thông ban sự sống cho con người. Công trình cứu độ được Người thực hiện khắc phục những hậu quả do sự yếu đuối của con người gây ra trong việc thực thi tự do, đồng thời, giúp con người ý thức hơn về con đường dẫn tới tự do đích thực. Thánh Phê-rô viết: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng được vui mừng hoan hỷ” (1 Pr 4,13).
Là Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, Đức Giê-su đã tự nguyện chấp nhận bị tước đoạt tự do trước mặt người đời để mọi người có thể cảm nghiệm được tình thương Thiên Chúa. Nhờ sự tự do vâng phục của Người đối với Chúa Cha mà tự do của con người được kiện toàn và triển nở trong ơn gọi và đời sống. Đồng thời, nhờ sự tự do vâng phục của Người mà mọi người trong gia đình nhân loại có được định hướng cần thiết để nhận biết, phân định, quyết định và chọn lựa những điều phù hợp với thánh ý Thiên Chúa hầu đem lại lợi ích cho bản thân, cho anh chị em đồng loại cũng như cho vạn vật.
3.2 Đức Giê-su Diễn Tả Sự Kiện Toàn Tự Do
Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su luôn diễn tả sự tự do vâng phục của Người đối với Chúa Cha, chẳng hạn như trong diễn từ về công việc của Chúa Con, Người nói: “Tôi không thể tự ý mình làm gì. Tôi xét xử theo như tôi được nghe, và phán quyết của tôi thật công minh, vì tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 5,30); tại đền thờ Giê-ru-sa-lem Người nói với dân Do-thái: “Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8,29). Sau đó, Người nói với những người đang hiện diện về tự do của Người: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10,17-18). Những trình thuật này giúp mọi người nhận thức sâu sắc về tương quan giữa Đức Giê-su và Chúa Cha cũng như về sự tự do đích thực được Người thể hiện qua lời rao giảng và hành động. Trong khi dân Do-thái và mọi người trong gia đình nhân loại nói chung có khuynh hướng thể hiện tự do theo ý riêng mình, Đức Giê-su luôn thể hiện tự do qua việc thi hành thánh ý Chúa Cha. Nơi Người, vâng phục không đối nghịch với tự do nhưng chính là cách tự do đạt tới sự viên mãn trong tình yêu đối với Chúa Cha.
Đức Giê-su cho mọi người biết quyền năng và sự tự do của Người vượt trên quyền lực sự dữ nơi con người cũng như sức mạnh thiên nhiên. Chẳng hạn, trong buổi đầu loan báo Tin Mừng tại Ga-li-lê, khi những người Na-da-rét định giết Người thì Người đã không để họ thực hiện ý định đen tối đó. Thánh Lu-ca trình thuật: “Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,29-30); Người dẹp yên sóng gió trên biển Ga-li-lê trước sự ngạc nhiên của các môn đệ (Mc 4,35-41); trong đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ khi họ đang phải chống chọi với gió ngược để củng cố tinh thần của họ (Mc 6,45-52); Người làm cho cây vả khô héo (Mc 11,12-14.20); Người biến nước thành rượu trong tiệc cưới tại Ca-na (Ga 2,1-11). Lời nói và việc làm của Đức Giê-su biểu lộ quyền năng của Người trên thiên nhiên, đồng thời gợi lại những hành động quyền năng Thiên Chúa trong Cựu Ước (Tv 107,29; G 9,8; Xh 16,14-15; Tv 104,24). Những phép lạ hay dấu lạ ấy không chỉ biểu lộ quyền năng mà còn cho thấy nơi Đức Giê-su quyền năng cứu độ của Thiên Chúa đang hoạt động cách kỳ diệu nhất.
Khi Gio-an Tẩy Giả đang ở trong tù nghe tin về Đức Giê-su thì sai các môn đệ đến hỏi xem Người có phải là ‘Đấng phải đến’ không, Người nói với họ: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,4-6). Quả thật, những người điếc, người mù, người què, người cùi là những người phải chịu giới hạn về thể lý hoặc bệnh tật và bị hạn chế trong việc thực hiện một số công việc mà người khác có thể làm. Các khả năng thể lý của những người như vậy có thể bị mất hoặc suy giảm chức năng, nghĩa là họ bị giới hạn trong việc thực hiện một số điều mình muốn. Đức Giê-su đã cứu chữa và giải thoát họ khỏi những giới hạn do bệnh tật gây nên. Khi đem lại cho họ sự tự do về mặt thể lý, Đức Giê-su mời gọi họ hướng về sự tự do cao cả hơn về mặt thiêng liêng. Nghĩa là họ cần đến với Người để nhờ Người mà hoán cải hầu đón nhận ân sủng dồi dào của Thiên Chúa. Các cuộc chữa lành cũng là dấu chỉ cho thấy thời cứu độ được các ngôn sứ loan báo đang được thực hiện nơi Đức Giê-su.
Dụ ngôn ‘người cha nhân hậu’ giúp mọi người nhận diện rõ hơn về sự tự do của con người và sự giải thoát, đem lại tự do của Thiên Chúa. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho chúng ta biết người con thứ đòi cha chia gia tài để mình tự quyết tương lai. Người cha đã tôn trọng sự tự do của con. Tuy nhiên, người con thứ đã lạm dụng tự do của bản thân, phung phí hết tài sản; hậu quả là lâm cảnh túng thiếu, phải chăn heo cho dân ngoại, đến nỗi muốn ăn thứ heo ăn mà không ai cho. Giữa cảnh túng thiếu và tủi nhục, người con thứ đã nhận ra lầm lỗi, hoán cải và trở về với cha mình. Sự tự do của người con thứ trong việc hoán cải, trở về được người cha đáp lại bằng tình yêu vô điều kiện bởi đứa con hoang đàng chưa bao giờ vắng bóng trong trái tim ông (Lc 15,11-32). Như vậy, sự tự do của người cha luôn bền vững còn sự tự do của người con thứ lại biến đổi từ ‘tự do ra đi’, sống đời hoang đàng đến ‘tự do trở về’. Trong đó, hậu quả của ‘tự do ra đi’ là nếm mùi tủi nhục còn ‘tự do trở về’ lại là hồng ân bởi vì ‘tự do trở về’ của người con thứ gặp gỡ ‘tự do trong yêu thương’ vô bờ bến của cha mình.
Trong Kinh Lạy Cha, Đức Giê-su dạy các môn đệ cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ” (Mt 6,13). Quả thật, có vô số hình thức sự dữ trong gia đình nhân loại, chẳng hạn như quyền lực ma quỷ cũng như các khuynh hướng xấu xa, tội lỗi, áp bức, bất công, bạo lực, bệnh tật, nghèo đói, thiên tai và sự chết. Tự thân, con người không thể giải thoát mình triệt để khỏi các hình thức sự dữ ấy. Lời cầu nguyện mà Đức Giê-su dạy các môn đệ cũng như mọi người trong gia đình nhân loại cho biết rằng Thiên Chúa là Đấng giải thoát con người khỏi mọi hình thức sự dữ và làm cho con người trở thành con cái của Người trong hành trình trần thế và trong Quê Hương Vĩnh Cửu.
Như đã đề cập ở trên, tự do đích thực là tự do song hành với sự thật. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết Đức Giê-su nói với những người Do-thái đã tin Người: “Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,31-32). Khi khai triển trích đoạn này, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Những lời này vừa chứa đựng một đòi hỏi căn bản, vừa là một lời cảnh báo: Đòi hỏi phải có một tương quan chân thành đối với chân lý như là điều kiện cho tự do đích thực và cảnh báo phải tránh mọi thứ tự do ảo tưởng, mọi thứ tự do hời hợt, phiến diện, mọi thứ tự do không đi vào toàn bộ sự thật về con người và thế giới” (Pope John Paul II, Redemptor Hominis 12). Như vậy, tự do được thể hiện cách hoàn hảo và đầy đủ khi được thực thi trong sự thật và theo sự thật chứ không phải là tự do trong gian dối hay gắn liền với sự dữ. Chính sự chọn lựa tự do làm cho sự thật được tỏ lộ và trở nên giá trị sống căn bản cho con người giữa thế giới luôn đầy dẫy sự lẫn lộn giữa các giá trị mà con người khó phân định cách đúng đắn. Nói cách khác, nếu tự do không đặt nền tảng trên sự thật thì những gì con người chọn lựa có thể trở nên nguồn phát sinh các hình thức gian trá và gây tổn thương nghiêm trọng cho con người cũng như các tương quan của con người giữa lòng trần thế.
Khi Đức Giê-su nói với những người Do-thái rằng họ cần được giải phóng khỏi tình trạng nô lệ, họ đáp lại rằng họ thuộc dòng dõi Áp-ra-ham và chưa hề làm nô lệ cho ai bao giờ (Ga 8,33). Người trả lời họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: Hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi” (Ga 8,34-35). Đồng thời, Người cũng nói với họ: “Nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8,36). Những người Do-thái tự hào rằng mình là con cháu Áp-ra-ham, thuộc về dân được Thiên Chúa tuyển chọn. Họ hiểu tự do theo nghĩa lịch sử, xã hội, dân tộc, nghĩa là họ ý thức mình thuộc về dân riêng Thiên Chúa, khác với các dân tộc khác. Đối với Đức Giê-su, những tiêu chuẩn họ đưa ra không thể đem lại cho họ tự do đích thực. Đặc biệt, tâm hồn họ vẫn bị giam hãm trong bóng tối bởi vì họ không nhận ra Người là Đấng đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ tội lỗi, sự chết cũng như các hình thức áp bức mà họ đang gánh chịu. Điều được nhấn mạnh trong bối cảnh chương 8 Tin Mừng theo thánh Gio-an là họ được giải phóng khỏi nô lệ tội lỗi để được ở lại trong nhà như người con.
Đức Giê-su nói với họ rằng họ đang đối xử với Người không theo cách đối xử của Áp-ra-ham bởi vì họ không lắng nghe và tuân phục Lời Người: Họ không nhận ra sự thật, không theo sự thật, nghĩa là không theo Người. Trái lại, họ nuôi hận thù và bị dẫn dắt bởi thế lực dối trá là ma quỷ như chính cha ông họ. Đức Giê-su cho họ biết: “Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích. Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối” (Ga 8,44). Với Đức Giê-su, ma quỷ là ‘cha của sự gian dối’, nghĩa là kẻ dẫn con người xa rời Thiên Chúa, xa rời sự sống, xa rời tự do và hạnh phúc đích thực.
Trong cuộc thương khó, khi Phi-la-tô hỏi Đức Giê-su có phải là vua không, Người trả lời: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: Làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37). Đức Giê-su là Sự Thật, Người giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và làm cho con người trở thành con cái Thiên Chúa, con cái của Đấng là Nguồn Gốc và Cùng Đích của toàn thể thụ tạo. Nơi Đức Giê-su, con người nhận ra sự thật trọn vẹn được biểu lộ trong sự tự do viên mãn. Hoa trái sự thật và sự tự do ấy được biểu lộ cách hoàn hảo trong sự phục sinh của Người. Nhờ đó, mọi người trong gia đình nhân loại nhận ra chiến thắng khải hoàn của Đức Giê-su trên tội lỗi, sự chết cũng như các thế lực sự dữ đang trói buộc con người.
Hình ảnh Đức Giê-su chịu đóng đinh trên thập giá là hình ảnh ‘mất tự do nhất’ theo kinh nghiệm của con người. Tuy nhiên, đây lại là nơi sự tự do của Đức Giê-su được thể hiện cách trọn vẹn nhất. Người ta có thể đóng đinh thể xác Đức Giê-su nhưng không thể ngăn cản chương trình Thiên Chúa được Người thực hiện, cũng không thể triệt tiêu sự tự do dâng hiến của Người, sự tự do cho đi đến giọt máu cuối cùng để giải thoát con người khỏi cảnh nô lệ. Như vậy, nơi mà con người xem là mất tự do nhất lại là nơi tự do của Đức Giê-su được thể hiện cách mãnh liệt đến nỗi quyền lực trói buộc của mọi hình thức tù tội, giam cầm và áp bức đều bị phá vỡ. Sự tự do của Đức Giê-su trên thập giá gợi lên trong tâm trí chúng ta biến cố con người bất tuân phục Thiên Chúa thuở ban đầu, liên quan đến ‘cây cho biết điều thiện điều ác’. Trên thập giá, Đức Giê-su vâng phục Chúa Cha để đem lại ơn tha thứ và tự do đích thực cho con người. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Đức Ki-tô chịu đóng đinh mặc khải ý nghĩa đích thực của tự do; Người sống tự do ấy cách viên mãn qua việc trao hiến hoàn toàn chính mình và mời gọi các môn đệ thông phần vào tự do của Người” (Pope John Paul II, Veritatis Splendor 85).
Các trình thuật Cựu Ước cho chúng ta biết rằng việc dâng súc vật làm hy lễ lên Thiên Chúa xuất hiện khá sớm, chẳng hạn với A-ben, Nô-ê và Áp-ra-ham (St 4,4; St 8,20; St 22,13). Đặc biệt, Thiên Chúa truyền cho Mô-sê và A-ha-ron những chỉ thị về việc cử hành Lễ Vượt Qua trong đó máu chiên được bôi lên khung cửa như là dấu chỉ để dân Ít-ra-en được thoát khỏi tai ương (Xh 12,1-14). Truyền thống cử hành Lễ Vượt Qua được tiếp tục trong hành trình 40 năm sa mạc và về sau trong đời sống của Ít-ra-en tại Đất Hứa, dưới thời các vua cũng như sau thời lưu đày (Gs 5,10-12; 2 V 23,21-23; Er 6,19-22). Lễ này vẫn được cử hành cho đến thời Tân Ước và cả ngày nay. Tuy nhiên, hình thức cử hành lễ này đã có nhiều thay đổi kể từ năm 70 khi Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và dân Ít-ra-en tản mác khắp nơi. Trình thuật Tin Mừng theo thánh Gio-an cho chúng ta biết rằng khi thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, Gio-an Tẩy Giả giới thiệu Người với những người chung quanh: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Máu chiên trong quá khứ là hình ảnh báo trước máu của Đức Giê-su, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian bằng chính hy lễ dâng một lần thay cho tất cả (Dt 7,27; 1 Pr 3,18).
3.3 Tự Do Của Con Cái Thiên Chúa
Trong cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô vào ban đêm, Đức Giê-su nói rằng con người cần phải được sinh lại bởi nước và Thần Khí để được vào Nước Thiên Chúa (Ga 3,1-5). Truyền thống Ki-tô Giáo đọc lời này trong tương quan với Bí Tích Rửa Tội của Giao Ước Mới, làm cho con người trở thành con cái Thiên Chúa nhờ nước và Thần Khí. Đức Giê-su giải thích thêm cho Ni-cô-đê-mô để ông được rõ: “Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: Các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên. Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Ga 3,6-8). Trong Kinh Thánh, từ Híp-ri ‘רוּחַ’ (rûaḥ) có thể mang nghĩa ‘gió’, ‘hơi thở’ hay ‘thần khí’, và chính sự đa nghĩa này giúp diễn tả cách sống động hoạt động tự do và nhiệm mầu của Thần Khí. Có nhiều hình ảnh diễn tả Thần Khí (Chúa Thánh Thần) trong Cựu Ước, chẳng hạn như nước, lửa, mây và dầu. Tuy nhiên, một trong những hình ảnh căn bản diễn tả Thần Khí trong Cựu Ước là gió hay hơi thở. Nói đến gió là nói đến tự do, muốn thổi đâu thì thổi; người được sinh ra bởi nước và Thần Khí, nghĩa là trở thành con cái Thiên Chúa, cũng được hưởng sự tự do đích thực.
Tự do của con cái Thiên Chúa khác biệt với các hình thức tự do khác. Theo đó, hình thức tự do này được hiểu dưới hai chiều kích phân biệt nhau: Về phương diện cá nhân, mỗi người trở nên tự do nhờ được kết hợp cách mật thiết với Đức Giê-su; về phương diện cộng đoàn, mọi người trở thành con cái trong gia đình Giáo Hội. Như vậy, mỗi Ki-tô hữu không chỉ là cá nhân đơn lẻ mà còn là chi thể trong Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô là Giáo Hội. Họ được mời gọi ý thức về vị trí và vai trò bản thân trong cộng đoàn con cái Thiên Chúa giữa dòng đời. Đồng thời, họ được mời gọi liên kết với nhau, phục vụ lẫn nhau và cùng nhau diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh Đức Giê-su trong môi trường sống của mình (1 Cr 12,12-30).
Trong bữa ăn cuối cùng với các môn đệ trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với họ: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,14-15). Cũng trong bối cảnh này, Người ban cho họ giới răn mới là giới răn yêu thương theo cách thức Người đã yêu và dặn họ hãy noi gương Người: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Đức Giê-su giải thích về giới răn này như sau: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15,13-14). Là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, các Ki-tô hữu là con cái tự do của Thiên Chúa và được sống trong tình yêu của Người. Đồng thời, họ trở nên bạn hữu của Đức Giê-su và là anh em với Người cũng như với nhau bởi vì Người là “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).
Nhờ Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, hiện diện giữa gia đình nhân loại mà con người được hưởng tự do đích thực, nghĩa là được trở thành con cái Thiên Chúa. Đức Giê-su phục sinh nói với Ma-ri-a Mác-đa-la: “Hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17). Như vậy, nhờ Đức Giê-su mà con người được giải thoát khỏi những thế lực mà tự thân mình không thể thoát khỏi. Đấng giải thoát và người được giải thoát luôn hiệp thông với nhau. Nhờ đó, con người vốn dễ bị tổn thương và vướng mắc trong tội lỗi lại được hiệp thông với Thiên Chúa: Hiệp thông trong đời sống hiện tại cũng như trong sự sống vĩnh cửu.
Thánh Phao-lô chia sẻ kinh nghiệm về ‘mất tự do’ và ‘được tự do’ trong chính đời sống của ngài. Theo đó, vì Tin Mừng về tự do mà ngài đón nhận và thành tâm loan báo, ngài mất tự do bên ngoài, kể cả phải chịu bách hại và tù đày, nhưng ngài vẫn giữ được tự do nội tâm trong Đức Giê-su. Trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, ngài viết: “Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt” (2 Cr 4,8-9). Thánh nhân ý thức rằng chương trình Thiên Chúa thực hiện để đem lại tự do cho con người xem ra mâu thuẫn với cách suy nghĩ của con người nhưng lại biểu lộ sức mạnh vạn năng của Thiên Chúa, Đấng muốn con người được tự do như những con cái hiếu kính của Người. Qua đó, thánh nhân giúp mọi người biết phân biệt giữa tự do theo đường lối người đời và tự do theo đường lối Thiên Chúa.
Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết: “Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13). Tương tự như vậy, trong thư gửi tín hữu Ga-lát, ngài viết: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3,27-28). Mặc lấy Đức Ki-tô nghĩa là mặc lấy sự tự do đích thực để được biến đổi và trở nên con người mới theo khuôn mẫu của Người (Ep 4,24).
Trong các thư của mình, thánh Phao-lô thường nối kết sự tự do của con cái Thiên Chúa với Chúa Thánh Thần, chẳng hạn như: “Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: Áp-ba! Cha ơi! Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Ki-tô” (Rm 8,14-17a). Tương tự như vậy, trong thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh nhân viết: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: ‘Áp-ba, Cha ơi!’ Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,6-7). Trong thư thứ hai gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh nhân viết: “Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do” (2 Cr 3,17). Như vậy, sự tự do của con cái Thiên Chúa là sự tự do của những người được hiệp thông với Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần.
Khi con người được thoát khỏi ách nô lệ tội lỗi cũng là lúc con người trở thành những người được quyền thừa hưởng gia nghiệp của con cái Thiên Chúa, một gia nghiệp sẽ đạt tới viên mãn trong sự sống vĩnh cửu. Tự do của con cái Thiên Chúa là tự do của các ‘thụ tạo mới’ được biến đổi nhờ ân sủng Người. Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: “Tạ ơn Thiên Chúa! Trước kia anh em làm nô lệ tội lỗi, nhưng nay anh em đã hết lòng vâng theo quy luật đạo lý đã đào tạo anh em. Anh em đã được giải thoát khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ sự công chính” (Rm 6,17-18). Cũng trong thư này, ngài viết: “Những ai ở trong Đức Ki-tô Giê-su, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Ki-tô Giê-su, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết” (Rm 8,1-2). Như vậy, đối với thánh Phao-lô, ai trở thành con cái Thiên Chúa thì được biến đổi từ trạng thái ‘nô lệ tội lỗi’ sang trạng thái ‘nô lệ sự công chính’, một kiểu nói nghịch lý diễn tả việc được giải thoát khỏi quyền lực tội lỗi để tự nguyện sống phục vụ sự công chính và nhờ đó được thông phần vào sự sống Người. Đặc biệt, sự đối lập giữa ‘luật của tội dẫn đến sự chết’ và ‘luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Giê-su’ trở thành một trong những giáo huấn trọng tâm của thánh nhân đối với các Ki-tô hữu.
Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái viết về Đức Giê-su là Thượng Tế Siêu Phàm như sau: “Người đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình, Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta” (Dt 9,12). Trong Tông Huấn ‘Bí Tích Tình Yêu’ (Sacramentum Caritatis), Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI viết: “Nơi thân xác chịu đóng đinh của Đức Ki-tô, tự do của Thiên Chúa và tự do của con người đã gặp nhau một cách chung quyết trong một giao ước bất khả xâm phạm, có giá trị vĩnh viễn. Đồng thời, nhờ Con Thiên Chúa, tội lỗi của nhân loại đã được cứu chuộc một lần thay cho tất cả” (Pope Benedict XVI, Sacramentum Caritatis 9). Nơi Đức Giê-su, tự do của Thiên Chúa và tự do của con người gặp gỡ nhau theo cách sâu xa nhất và vượt quá mọi kinh nghiệm vốn có của con người. Bởi vì, trong thân phận con người, Đức Giê-su đã chịu chết để thông phần sự chết của con người hầu giải thoát con người khỏi ách nô lệ của sự chết và ban tặng cho con người sự sống dồi dào, sự sống vĩnh cửu. Đây là sự gặp gỡ vô tiền khoáng hậu trong lịch sử thế giới thụ tạo.
4. THEO ĐƯỜNG KIỆN TOÀN TỰ DO CỦA ĐỨC GIÊ-SU
4.1 Đức Giê-su – Đường Kiện Toàn Tự Do
Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, trả lời câu hỏi của ông Tô-ma về đường đến nơi Người sẽ đến, Đức Giê-su khẳng định: “Chính Thầy là con đường” (Ga 14,6). Những trình bày trên đây cho phép chúng ta hiểu rằng Đường của Đức Giê-su là Đường Kiện Toàn Tự Do. Quả thật, Thiên Chúa ban tặng cho con người sự tự do gắn liền với phẩm giá và bản tính của con người. Tuy nhiên, vì tội lỗi, tự do con người bị tổn thương, khiến con người không thể tự sức mình đạt tới sự tự do viên mãn. Cụ thể là con người thường thực thi tự do của mình cách lệch lạc theo những nẻo đường thế gian. Đó là lý do tại sao Đức Giê-su đã đến thế gian theo thánh ý Chúa Cha để kiện toàn tự do của con người và đã thể hiện tự do của Người một cách hoàn hảo nhất, đó là tự do trong sự vâng phục Chúa Cha và thực thi thánh ý Người.
Lời rao giảng cũng như việc làm của Đức Giê-su minh chứng rằng Người là Đường Kiện Toàn Tự Do và Người mời gọi mọi người hãy đi trên Đường của Người để đến với Thiên Chúa, đến với nhau và đến với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Người không chỉ là người chỉ đường hay dẫn đường mà chính là Đường; Người không chỉ dạy con người cách thức thoát khỏi ách nô lệ và sự chết mà chính Người giải thoát con người khỏi ách nô lệ và sự chết. Ai đến với Người, đi với Người và thực thi huấn lệnh Người thì được hưởng sự tự do mà thế gian không thể ban tặng. Đường của Đức Giê-su cũng chính là lối sống của Người, lối sống mà Người mời gọi mọi người hãy theo đuổi để được hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa trong sự sống vĩnh cửu.
Đức Giê-su kiện toàn tự do của con người trong Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, con người biết ý thức về sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, nhận ra những dấu chỉ về sự hoạt động của Người và hành động theo những dấu chỉ đó cách trung tín nhất. Chính Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và hoạt động cùng với Đức Giê-su theo thánh ý Chúa Cha. Nói cách khác, ở đâu có Đức Giê-su, ở đó có Chúa Thánh Thần và ở đâu có Chúa Thánh Thần, ở đó Lời Thiên Chúa được đón nhận, thánh ý Thiên Chúa được thực hiện, tự do đích thực được tỏ bày và sự sống Thiên Chúa được thông ban cho con người. Nhờ đó, con người có thể diễn tả phẩm giá cao quý của mình cách xứng hợp nhất.
Trong gia đình nhân loại, tự do của con người nhiều khi bị xâm phạm và suy giảm nghiêm trọng. Công Đồng Vatican II khẳng định: “Sự tự do của con người nhiều lúc suy giảm đi, một khi con người rơi vào cảnh quá cùng cực, cũng như tự do ấy bị hạ giá một khi buông thả theo những dễ dãi quá mức trong cuộc sống, con người dường như tự khép mình trong thứ lâu đài cô đơn ngà ngọc” (GS 31). Trong Thông Điệp ‘Đấng Cứu Chuộc Con Người’ (Redemptor Hominis, 1979), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Sau hai ngàn năm, chúng ta vẫn nhìn nhận Đức Ki-tô là Đấng mang đến cho con người sự tự do đặt nền tảng trên chân lý; Người giải thoát con người khỏi tất cả những gì làm hạn chế, làm suy giảm và như thể cắt đứt tự do ấy ngay từ cội rễ của nó trong tâm hồn, trái tim và lương tâm con người” (Pope John Paul II, Redemptor Hominis 12). Nhờ Đức Giê-su giải thoát, con người ý thức sâu sắc hơn về thân phận mỏng giòn, yếu đuối của mình và cộng tác với Người để mọi tư tưởng, lời nói và việc làm luôn phù hợp với thánh ý Thiên Chúa.
Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định: “Bao lâu chưa dứt khoát gắn chặt vào Thiên Chúa là sự thiện hảo tối hậu của mình, thì tự do còn bao hàm khả năng chọn lựa giữa thiện và ác; do đó, con người có thể tiến tới trên đường hoàn thiện hoặc thoái lui và phạm tội. Tự do là đặc tính của hành vi nhân linh. Vì có tự do, nên con người được khen ngợi hay bị chê trách, có công hay có tội” (GLGHCG 1732). Cũng theo Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: “Càng làm điều thiện, con người càng trở nên tự do. Chỉ có tự do đích thực khi con người phục vụ cho điều thiện và công bằng. Khi bất tuân ý Chúa và chọn điều ác, con người lạm dụng tự do và trở nên nô lệ tội lỗi” (GLGHCG 1733). Như vậy, càng làm điều thiện, con người càng sống phù hợp với phẩm giá cao quý của mình là được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được sống trong ánh sáng của Người.
Đức Giê-su là Ánh Sáng đến trần gian để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và đem lại cho con người tự do đích thực. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Đức Ki-tô cứu chuộc chúng ta! Điều đó có nghĩa là Người đã ban cho chúng ta khả năng sống trọn vẹn chân lý về chính con người mình” (Pope John Paul II, Veritatis Splendor 103). Do đó, mọi người được mời gọi hướng về Đức Giê-su, đi trên Đường Kiện Toàn Tự Do của Người để đến với Thiên Chúa, đến với anh chị em và đến với muôn vật muôn loài. Trong mọi hoàn cảnh, con người được mời gọi ý thức hơn về sự tự do của bản thân, đồng thời hướng về Đức Giê-su là Sự Thật viên mãn, Sự Thật giải thoát con người và làm cho con người được lớn lên trong tự do đích thực.
Sứ mệnh chính yếu của Đức Giê-su trong hành trình trần thế không phải là thay đổi các cơ cấu xã hội nhưng là loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Chẳng hạn, trả lời những người Pha-ri-sêu và phái Hê-rô-đê về chuyện nộp thuế, Đức Giê-su nói: “Của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” (Mc 12,17); trả lời cho Phi-la-tô, Người nói: “Nước tôi không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36). Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết: “Bạn là nô lệ khi được kêu gọi ư? Chớ bận tâm! Ngay cả khi có thể được tự do, tốt hơn hãy lợi dụng thân phận nô lệ. Thật thế, người đang làm nô lệ mà được Chúa kêu gọi, thì là người được Chúa giải phóng. Cũng vậy, người đang tự do mà được kêu gọi, thì là nô lệ của Đức Ki-tô… Khi được kêu gọi ở địa vị nào, mỗi người cứ ở địa vị đó trước mặt Thiên Chúa” (1 Cr 7,21-24). Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Sự trưởng thành đích thực của con người hệ tại ở việc sử dụng trọn vẹn hồng ân tự do đã lãnh nhận từ Đấng Tạo Hóa, khi Người kêu gọi con người hiện hữu và dựng nên họ theo hình ảnh và họa ảnh của Người” (Pope John Paul II, Redemptor Hominis 21). Quả thật, sự tự do Đức Giê-su mang lại không lệ thuộc vào những phân biệt đẳng cấp trong xã hội loài người. Do đó, phẩm giá và tự do căn bản của các Ki-tô hữu trong Đức Ki-tô không bị xoá bỏ bởi những khác biệt về truyền thống, văn hóa, xã hội và pháp lý.
Con người là hữu thể nhiệm mầu, nghĩa là con người luôn vượt quá những hiểu biết và siêu việt hơn những gì gia đình nhân loại cũng như mỗi người có thể kinh nghiệm về chính mình. Dưới nhãn quan một số triết gia chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Ki-tô Giáo, trong hành trình trần thế, con người được nhìn nhận như là hữu thể trong tiến trình trở thành và không ngừng hoàn thiện qua từng chọn lựa. Do đó, con người được mời gọi tự do cộng tác với ân sủng Thiên Chúa để ngày càng hoàn thiện hơn nhưng cũng có thể khước từ ân sủng Người và làm cho mình ngày càng xa rời sự thiện. Nói cách khác, chính những chọn lựa của con người giữ vai trò quyết định việc làm cho mình ngày càng trở nên sáng đẹp hơn hoặc dần dần lu mờ đi. Lịch sử Giáo Hội cũng như gia đình nhân loại cho thấy con người chỉ có thể trở nên hoàn thiện hơn khi biết cộng tác với ân sủng Thiên Chúa và sẽ dần xa rời sự viên mãn của mình khi sống như thể không có sự hiện diện và hoạt động của Người. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI khẳng định: “Tự do của chúng ta được định hình cách sâu sắc bởi chính hữu thể mình và những giới hạn vốn có của hữu thể ấy. Không ai có thể tùy tiện tạo dựng lương tâm của mình; đúng hơn, mỗi người xây dựng cái ‘tôi’ của mình trên nền tảng ‘bản ngã’ được ban tặng” (Pope Benedict XVI, Caritas in Veritate 68).
Mặc khải Ki-tô Giáo mời gọi con người nhìn nhận bản thân và muôn vật muôn loài trong tương quan mật thiết với Thiên Chúa, Đấng là Nguồn Gốc và Cùng Đích tất cả. Theo Công Đồng Vatican II: “Nếu ‘sự độc lập của thực tại trần thế’ có nghĩa là: Các tạo vật không lệ thuộc Thiên Chúa và con người có thể sử dụng chúng mà không cần quy hướng về Ðấng Tạo Hóa thì không một ai nhìn nhận Thiên Chúa lại không thấy rằng lập trường đó hết sức sai lầm. Thực vậy, không có Tạo Hóa, tạo vật đều tiêu tan. Ngoài ra mọi tín hữu, dù thuộc tôn giáo nào đi nữa, cũng luôn nghe tiếng Thiên Chúa và thấy Ngài hiển hiện qua tiếng nói của tạo vật. Lại nữa, quên mất Thiên Chúa, mọi tạo vật đều trở nên mờ tối” (GS 36). Khi con người dùng ý chí tự do để từ chối Thiên Chúa cũng là lúc con người từ chối chính mình và hậu quả là con người có nguy cơ trở nên vong thân, nghĩa là phải đối diện với sự tha hóa và đánh mất ý nghĩa đích thực của hiện hữu cũng như mục đích của đời mình. Thiên Chúa luôn ban tặng dồi dào ân sủng cho mọi người; do đó, ai biết thành tâm đón nhận và cộng tác với ân sủng Người thì được Người dẫn đưa trên con đường cứu độ.
Qua mọi thời, nhất là trong Kỷ Nguyên Ánh Sáng (Enlightenment, thế kỷ XVII-XVIII), một số trào lưu tư tưởng đã đặc biệt đề cao lý trí và tự do. Kinh nghiệm thực tế cho chúng ta biết rằng lý trí và ý chí tự do không phải là toàn bộ thực tại của con người. Nếu lý trí và ý chí tự do không được hướng dẫn bởi những nền tảng luân lý lành mạnh thì con người có thể trở nên khí cụ của các thế lực sự dữ. Khi con người không quan tâm đến phẩm giá, mục đích và ý nghĩa của đời mình cũng là lúc con người có nguy cơ tuyệt đối hóa tự do và lý trí, biến chúng thành những thực tại tự trị, tách khỏi sự thật và sự thiện. Hậu quả là con người có thể trở thành nô lệ những gì mình góp phần kiến tạo. Dưới nhãn quan Ki-tô Giáo, lý trí và tự do không phải là nguồn mạch sự thật mà là những ân huệ Thiên Chúa ban tặng con người để con người phân định hầu có thể nhận ra sự thật, theo đuổi điều thiện và chọn lựa những điều phù hợp với phẩm giá cao quý của mình.
Đức Giê-su không chỉ mang lại sự tự do đích thực cho con người mà còn mở ra viễn cảnh giải thoát cho toàn thể thụ tạo. Điều này có nghĩa là vạn vật cũng được giải thoát khỏi cảnh hư nát nhờ mối liên đới với con người. Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: “Muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang. Thật vậy, chúng ta biết rằng: Cho đến bây giờ, muôn loài thọ tạo cùng rên siết và quằn quại như sắp sinh nở” (Rm 8,20-22). Quả thật, con người và muôn vật muôn loài liên đới với nhau trong chương trình sáng tạo, cứu độ và thánh hoá. Tội lỗi con người không chỉ gây tổn thương đời sống nội tâm và tương quan của con người với Thiên Chúa, với anh chị em mà còn ảnh hưởng đến tương quan của con người với toàn thể thụ tạo. Do đó, sự giải thoát của con người có liên hệ mật thiết với sự giải thoát toàn thể thụ tạo khỏi cảnh hư nát. Dưới nhãn quan thánh Phao-lô, trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Đức Giê-su đã mang lấy thân phận con người và đi vào thế giới thụ tạo; do đó, thế giới thụ tạo cũng được hướng tới sự biến đổi để cùng con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang.
4.2 Sống Theo Đường Kiện Toàn Tự Do
Sự tự do được Đức Giê-su kiện toàn không chỉ giải thoát con người khỏi tội lỗi mà còn giúp họ sống trong tình yêu Thiên Chúa và diễn tả tình yêu đó cách trung tín nhất. Các Ki-tô hữu được mời gọi không phải để làm bất cứ điều gì mình muốn mà để làm điều lành, điều thiện, đem lại hoa trái lành thánh cho bản thân, mưu ích cho anh chị em đồng loại cũng như vạn vật. Nói cách khác, tự do của các Ki-tô hữu không chỉ gói gọn trong đời sống tôn giáo mà còn được thể hiện trong mọi lĩnh vực khác, sao cho phù hợp với giáo huấn Đức Giê-su, Đấng đem lại tự do đích thực cho con người trên bình diện cá nhân cũng như cộng đoàn.
Một trong những hình thức tự do quan trọng trong Ki-tô Giáo là tự do nội tâm (interior freedom). Đây là hình thức tự do giúp các Ki-tô hữu sống bình an giữa những gian nan của cuộc sống, nhất là khi phải đương đầu với muôn vàn khổ đau, nghịch cảnh và thách đố mà bản thân chưa hề trải qua. Khả năng đương đầu và thích nghi với những biến cố như vậy, đồng thời trung thành với thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, ngày càng làm cho các Ki-tô hữu gắn bó hơn với Người. Đặc biệt, tự do nội tâm giúp họ không ngừng hướng về Thiên Chúa để kín múc nguồn ân sủng dồi dào giữa những áp lực tinh thần cũng như thể xác trong hành trình bước theo Đức Giê-su.
Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái viết: “Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9,14). Câu hỏi đặt ra là tại sao lại phải thanh tẩy lương tâm? Thưa, lương tâm là nơi sâu thẳm và ở đó con người nhận ra cũng như phán đoán điều mình phải làm hay phải tránh trước mặt Thiên Chúa. Lương tâm trở nên ngay thẳng khi biết nội tâm hóa Lời Thiên Chúa và làm cho Lời Người trở thành sức sống cho bản thân mình. Như vậy, lương tâm con người cần hướng về Thiên Chúa luôn mãi để được định dạng theo thánh ý Người. Bằng không, lương tâm có thể trở nên sai lạc hoặc bị che khuất bởi tội lỗi, thành kiến và những ảnh hưởng xấu. Hậu quả là hành động của con người theo lương tâm sẽ sai lạc và có thể làm cho con người lún sâu trong vực thẳm của bóng tối mà con người không thể tự giải thoát được.
Để sống trong tự do của con cái Thiên Chúa, các Ki-tô hữu được mời gọi luôn ý thức về những giới hạn, yếu đuối và bất xứng của mình. Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Thánh nhân chia sẻ kinh nghiệm của mình: “Tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể tôi” (Rm 7,21-23). Tương tự như vậy, thánh Phê-rô khuyên dạy các tín hữu: “Anh em thân mến, anh em là khách lạ và lữ hành, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt, vốn gây chiến với linh hồn” (1 Pr 2,11). Tư tưởng các ngài giúp mọi người ý thức hơn về tình trạng tự do của mình cũng như nhận ra sự cần thiết phải chiêm ngắm và đi trên Đường Kiện Toàn Tự Do mà Đức Giê-su đã mặc khải và thể hiện trong hành trình trần thế của Người.
Đối với thánh Phao-lô, con người được phép làm mọi sự nhưng không phải mọi sự đều đem lại lợi ích tốt đẹp. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, ngài viết: “‘Tôi được phép làm mọi sự’; nhưng không phải mọi sự đều có ích. ‘Tôi được phép làm mọi sự’; nhưng tôi sẽ không để sự gì làm chủ được tôi” (1 Cr 6,12). Cũng theo ngài: “Được phép làm mọi sự; nhưng không phải mọi sự đều có ích. Được phép làm mọi sự; nhưng không phải mọi sự đều có tính cách xây dựng. Đừng ai tìm ích lợi cho riêng mình, nhưng hãy tìm ích lợi cho người khác” (1 Cr 10,23-24). Trong thư gửi tín hữu Ga-lát ngài viết: “Quả thế, thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5,13). Đối với thánh nhân, tự do trong tư tưởng, lời nói và hành động mỗi người cần được định hướng theo khuôn mẫu Đức Giê-su, Đường Kiện Toàn Tự Do. Bằng không, tự do lại trở thành nguyên cớ làm cho con người xa Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu, sự thật và sự thiện trọn hảo.
Trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su cho các môn đệ cũng như những ai gắn bó với Người qua muôn thế hệ biết rằng tự do đích thực là tự do cho đi, tự do hy sinh, tự do quên mình: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8,34-35). Đặc biệt, Người nói về sự cần thiết phải từ bỏ chính mình: “Người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?” (Lc 9,25). Sau này, trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô viết: “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7). Theo thánh Phao-lô, Đức Giê-su đã hoàn toàn tự do vâng phục Chúa Cha, ‘vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự’ (Pl 2,8). Ai trở nên con cái Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su thì cũng được mời gọi từ bỏ chính mình theo gương Người để sống trong tự do giữa những cam go cuộc đời.
Ân sủng Thiên Chúa và ý chí tự do của con người đi đôi với nhau nhưng không đồng nhất. Ân sủng Thiên Chúa thì thượng xuất, nghĩa là từ Thiên Chúa đến với con người; còn ý chí tự do của con người thì được Thiên Chúa ban để đáp lại lời mời gọi của Người. Tuy nhiên, vì tội lỗi, con người không thể đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa cách xứng hợp. Do đó, việc con người tự do đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa cách xứng hợp cũng là nhờ sự trợ giúp của ân sủng Người. Nơi Đức Giê-su, ý chí tự do của con người được thể hiện cách trọn hảo trong sự hòa hợp với thánh ý Thiên Chúa bởi vì Người luôn vâng phục Chúa Cha. Còn nơi con người, tự do có thể chống lại hoặc khước từ sự thúc đẩy của ân sủng vì sự yếu đuối và bất toàn của con người; tuy nhiên, chính ân sủng chữa lành, nâng đỡ và kiện toàn tự do chứ không hủy bỏ tự do. Đó là lý do tại sao con người cần hướng về Thiên Chúa và nhờ Người thông ban ân sủng để không ngừng kiện toàn tự do của bản thân trong hành trình về với Người.
Ý thức về sự tự do bất toàn của bản thân giúp con người biết cộng tác với ân sủng Thiên Chúa trong việc phân định, chọn lựa, quyết định và thực thi mọi công việc. Công Đồng Vatican II khẳng định: “Tự do của con người vì bị tội lỗi làm tổn thương nên chỉ nhờ ơn Chúa trợ lực mới có thể thực hiện việc hướng về Thiên Chúa cách hoàn toàn sống động” (GS 17). Do đó, mỗi người cần ý thức về tình trạng luân lý của mình khi thực thi tự do. Trong Thông Điệp ‘Nhân Tính Cao Cả’ (Magnifica Humanitas, 2026), Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIV biện luận: “Tương lai của một con người không phải là điều có thể tính toán được nhưng phụ thuộc vào tự do của chính mình, được nâng cao bởi ân sủng vô tận của Thiên Chúa, và vào những mối tương quan mà người ấy đã vun đắp” (Pope Leo XIV, Magnifica Humanitas 128). Chỉ có tự do trong Đức Giê-su mới có thể giải thoát con người khỏi các hình thức nô lệ, giúp con người gắn bó với Thiên Chúa và cảm nghiệm được tình thương của Người giữa muôn thử thách, sóng gió và đau khổ cuộc đời. Đồng thời, tự do trong Đức Giê-su giúp con người hướng về tương lai viên mãn trong đó con người được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, với nhau và với muôn vật muôn loài đã được đổi mới.
Với thế giới kỹ thuật số (the digital world), nhất là sự phát triển vượt bậc của trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence), nhiều người cho rằng con người sẽ được giải phóng khỏi nhiều nỗi lao nhọc, áp bức và được tự do hơn. Quả thật, không ai có thể phủ nhận những giá trị tích cực của thế giới này. Tuy nhiên, nếu gia đình nhân loại không quan tâm đúng mức đến những hệ lụy của thế giới kỹ thuật số, thay vì được giải phóng và được tự do hơn, con người lại phải đối diện với các hình thức nô lệ mới. Chẳng hạn, thế giới kỹ thuật số làm cho con người có thể sung túc hơn về mặt vật chất nhưng không có gì bảo đảm rằng thế giới này cho con người có được sự tự do đích thực. Phẩm giá con người nói chung, nhất là phẩm giá con người trong đời sống xã hội, có thể bị tổn thương nghiêm trọng khi thời gian, tốc độ và lợi nhuận trở thành những tiêu chí tối thượng chứ không phải là văn minh tình thương và văn hóa sự sống. Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIV quả quyết: “Trong Đức Ki-tô, chúng ta được mời gọi cộng tác vào công trình sáng tạo, thay vì chỉ là những người quan sát thờ ơ trước các tiến trình công nghệ đang giới hạn tự do và trách nhiệm của chúng ta” (Pope Leo XIV, Magnifica Humanitas 233). Như vậy, con người cần ý thức về sự tự do của bản thân cũng như những nguy cơ và hậu quả tiêu cực có thể nảy sinh từ thế giới kỹ thuật số.
Tự do của Ki-tô Giáo là ‘tự do có hướng’, nghĩa là tự do hướng về Thiên Chúa, hướng về anh chị em và hướng về toàn thể thụ tạo. Đức Giê-su đã thể hiện hình thức tự do này trong hành trình trần thế của Người và mời gọi mọi người ý thức về nét đặc thù của tự do mà Người thể hiện giữa các hình thức và ý nghĩa khác nhau của tự do mà con người quan niệm. Điều này có nghĩa là khi con người quy chiếu về Đức Giê-su, quy chiếu về Thiên Chúa trong tư tưởng, lời nói và việc làm cũng là lúc con người biết tự do chọn lựa theo cách thức đúng đắn và phù hợp nhất. Công Đồng Vatican II khẳng định: “Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới kết hiệp với Thiên Chúa” (GS 19). Do đó, mọi người trong gia đình nhân loại được mời gọi luôn hướng về Người để điều chỉnh lối sống và cách thức thực thi tự do của mình.
4.3 Loan Báo Tin Mừng Đường Kiện Toàn Tự Do
Ngay từ buổi đầu loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ cộng tác với Người và họ đã tự do, thành tâm đáp lại lời mời gọi ấy. Họ theo Đức Giê-su vì đã cảm nhận nơi Người những điều kỳ diệu mà họ chưa bao giờ kinh nghiệm nơi người nào khác. Hơn ai hết, chính họ là những nhân chứng sống động về đời sống, sứ điệp cũng như sứ mệnh của Người. Càng ngày họ càng thâm tín rằng chính Đức Giê-su đã giải thoát họ khỏi muôn hình thức nô lệ. Sau Biến Cố Vượt Qua của Người, họ càng hiểu biết sâu sắc hơn về căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người giữa gia đình nhân loại. Đặc biệt, với sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, họ đã mạnh dạn loan báo Tin Mừng cứu độ của Người, nghĩa là Tin Mừng giải thoát và đem lại tự do cho nhân loại. Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II viết: “Trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tự tỏ mình cho con người; chính sự tự tỏ mình ấy vừa mặc khải vừa ban cho con người, là thụ tạo của Người, sự viên mãn của tự do” (Pope John Paul II, Dominum et Vivificantem 51).
Thánh Phao-lô, vị Tông Đồ được Đức Giê-su phục sinh tuyển chọn, đã cảm nhận được sự cần thiết của việc sống theo Thần Khí và tiến bước trong Thần Khí để làm chứng cho Đức Giê-su, Đường Kiện Toàn Tự Do, và Tin Mừng của Người. Trong thư gửi tín hữu Ga-lát, thánh Phao-lô viết: “Tôi xin nói với anh em là hãy sống theo Thần Khí” (Gl 5,16). Ngài cũng nói với họ: “Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa” (Gl 5,18). Ai sống theo Thần Khí thì sinh hoa kết quả dồi dào cho bản thân và anh chị em đồng loại. Câu hỏi đặt ra: ‘Hoa quả của Thần Khí là gì?’ Thánh Phao-lô cho chúng ta câu trả lời: “Hoa quả của Thần Khí là: Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Không có luật nào chống lại những điều như thế” (Gl 5,22-23). Đặc biệt, thánh nhân mời gọi mọi người tiến bước nhờ Thần Khí: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25). Như vậy, để có thể loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người, các Ki-tô hữu được mời gọi sống theo Thần Khí và tiến bước nhờ Thần Khí trong các mối tương quan của mình.
Là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, nhờ Bí Tích Rửa Tội, các Ki-tô hữu là những người được tháp nhập vào Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Người. Họ là những người được tự do nhờ ân sủng Người và được ủy thác sứ mệnh loan báo Tin Mừng cho anh chị em đồng loại. Một trong những nội dung cốt yếu của Tin Mừng Đức Giê-su là giải thoát con người khỏi mọi hình thức nô lệ. Bởi vì, ngoài Đức Giê-su, không ai có thể đem lại cho con người sự tự do đích thực và ơn cứu độ vĩnh cửu (Cv 4,12). Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô viết: “Không ai có thể đặt nền móng nào khác ngoài nền móng đã đặt sẵn là Đức Giê-su Ki-tô” (1 Cr 3,11). Còn trong thư thứ nhất gửi Ti-mô-thê, ngài viết: “Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1 Tm 2,5-6).
Các Ki-tô hữu loan báo Tin Mừng với niềm xác tín như Công Đồng Vatican II khẳng định: “Không một luật lệ nào có thể đảm bảo phẩm vị và tự do con người cách thích đáng bằng Phúc Âm Chúa Ki-tô, đã được trao phó cho Giáo Hội. Thực vậy, Phúc Âm loan báo và công bố sự tự do của con cái Thiên Chúa, phủ nhận mọi hình thức nô lệ vì mọi ách nô lệ rốt cuộc đều bởi tội lỗi mà ra” (GS 41). Tự do đích thực của con người được thể hiện khi con người biết hướng về Thiên Chúa theo gương Đức Giê-su và sống trong ân sủng Người. Hiệu quả của cuộc gặp gỡ giữa tự do và ân sủng không chỉ dừng lại nơi mỗi cá nhân mà còn lan tỏa đến mọi người trong gia đình nhân loại. Các Ki-tô hữu luôn xác tín rằng, là con người, ai cũng cần được Đức Giê-su giải thoát, được sống trong tự do đích thực và được Người hướng dẫn trong hành trình trần thế. Các Ki-tô hữu được mời gọi dấn thân cho tự do theo khuôn mẫu Đức Giê-su để góp phần vào việc giải thoát anh chị em đồng loại khỏi mọi hình thức nô lệ và giúp họ đón nhận ân huệ trở thành con cái Thiên Chúa.
Các Ki-tô hữu làm chứng cho Đức Giê-su, Đường Kiện Toàn Tự Do, và Tin Mừng của Người với niềm xác tín rằng con người cần ở lại trong Lời Đức Giê-su. Quả thật, giữa thế giới đa cực và nhiều lời khác nhau, con người được mời gọi phân định và chọn lựa những lời thúc đẩy tâm hồn mở ra với Thiên Chúa, với anh chị em và với muôn vật muôn loài. Những lời như thế giúp con người không ngừng hướng về Đức Giê-su và đào sâu ý nghĩa Lời Người, Lời đáp ứng cách trọn vẹn những khát vọng sâu xa của con người về sự thật, tình yêu và công lý. Đồng thời, Lời Người đem lại cho con người sự sống đời đời. Trong diễn từ về công việc của Chúa Con tại hồ Bết-da-tha, gần Cửa Chiên (Giê-ru-sa-lem), Đức Giê-su nói với những người Do-thái bắt bẻ Người vì Người chữa bệnh trong ngày Sa-bát: “Tôi bảo thật các ông: Ai nghe lời tôi và tin vào Đấng đã sai tôi, thì có sự sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng đã từ cõi chết bước vào cõi sống” (Ga 5,24). Trong diễn từ tại hội đường Ca-phác-na-um, miền Ga-li-lê, Đức Giê-su nói: “Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống” (Ga 6,63). Thánh Phê-rô cũng nhân danh các môn đệ để thân thưa với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).
Các Ki-tô hữu loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người với niềm xác tín rằng đức tin vừa là hồng ân Thiên Chúa ban tặng, vừa là sự đáp lại của mỗi người trong việc đón nhận, sống và diễn tả. Khi loan báo Tin Mừng, các Ki-tô hữu cần ý thức rằng, trong mọi hoàn cảnh, ân sủng Thiên Chúa luôn đi bước trước và trợ giúp sự tự do đáp lại của con người. Do đó, các Ki-tô hữu được mời gọi tôn trọng tự do của những ai tiếp cận đức tin Ki-tô Giáo và kiên nhẫn chờ đợi hoa trái như lời thánh Phao-lô trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô: “Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể” (1 Cr 3,6-7). Nói cách khác, các Ki-tô hữu loan báo Tin Mừng bằng lời mời gọi chứ không phải bằng sự áp đặt. Thánh Phê-rô khuyên dạy các tín hữu: “Luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em. Nhưng phải trả lời cách hiền hòa và với sự kính trọng” (1 Pr 3,15-16). Theo thánh Au-gút-ti-nô, ân sủng Thiên Chúa và tự do của con người cần được nhìn nhận, bởi vì: Không ai được cứu độ nếu không nhờ ân sủng Thiên Chúa và sự tự do cộng tác với ân sủng ấy; cũng không ai bị luận phạt nếu không có tự do khước từ Thiên Chúa và bất tuân thánh ý Người (St. Augustine, Letter 214,1-2).
Các Ki-tô hữu được mời gọi loan báo Đức Giê-su là Đường Kiện Toàn Tự Do với niềm xác tín rằng mọi người trong gia đình nhân loại có quyền tự do tôn giáo. Bởi vì, theo ‘Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo’ (Dignitatis Humanae) của Công Đồng Vatican II: “Quyền tự do tôn giáo đặt nền tảng trên chính bản tính con người, chứ không phải trên thái độ chủ quan của con người” (DH 2); cũng theo Tuyên Ngôn này: “Giáo lý về tự do tôn giáo còn bắt nguồn từ Mạc Khải của Thiên Chúa, nên người Ki-tô hữu càng phải thành kính tuân theo” (DH 9); đặc biệt: “Tự do tôn giáo phải được bảo vệ nhờ sự hỗ trợ hữu hiệu của luật pháp, cũng như những bổn phận và quyền lợi tối thượng của con người trong việc sống đạo giữa xã hội phải được tôn trọng” (DH 15). Như vậy, quyền tự do tôn giáo đặt nền tảng trên chính phẩm giá và bản tính con người, đồng thời, giáo lý này được củng cố bởi mặc khải Thiên Chúa. Một mặt, Giáo Hội nhìn nhận và ưu tiên sự giải thoát con người khỏi tội lỗi cũng như những gì cản trở sự tự do nội tâm. Mặt khác, Giáo Hội cổ vũ sự tự do của con người trên bình diện xã hội và pháp lý hầu tạo điều kiện cho mọi người được phát triển cách toàn diện.
Khi con người đón nhận tự do đích thực theo Đường Đức Giê-su cũng là lúc họ có thể góp phần của mình vào việc xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Quả thật, các hình thái xã hội trong gia đình nhân loại luôn đối diện với nhiều cuộc khủng hoảng và một trong những nguyên nhân căn bản dẫn tới các cuộc khủng hoảng ấy là con người thực thi tự do theo ý mình hoặc tập thể tự trao cho mình quyền hành xử đối với người khác theo ý muốn chủ quan, thay vì tôn trọng tự do gắn liền với phẩm giá con người mà Thiên Chúa ban tặng. Chẳng hạn, việc thực thi tự do trên bình diện luân lý, xã hội và pháp lý mà không quy chiếu sự thật về con người, phẩm giá, chuẩn mực luân lý khách quan, cũng như các giá trị tôn giáo hay văn hóa nền tảng thì chưa thể được gọi là tự do đúng nghĩa. Khi tự do đích thực không được tôn trọng cũng là lúc con người có thể hành xử sai lệch và gây ra những hậu quả khôn lường. Do đó, mọi người được mời gọi đến với Đức Giê-su và đón nhận Lời Người để có thể sống tự do đích thực trên hành trình trần thế hướng về tình yêu, sự thật và sự sống viên mãn trong Nước Thiên Chúa.
Kết Luận
Giữa muôn vật muôn loài, con người là thụ tạo cao cả vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được Thiên Chúa ban tặng ý chí tự do xứng hợp với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, con người đã lạm dụng tự do, bất tuân huấn lệnh Thiên Chúa và tội lỗi đã xâm nhập trần gian. Vì tội lỗi, con người mất sự thánh thiện và sự công chính nguyên thủy. Đồng thời, ý chí tự do của con người bị tổn thương và con người phải đối diện với những thôi thúc lệch lạc, nghĩa là con người vẫn có khả năng chọn lựa điều thiện nhưng việc chọn lựa ấy gặp muôn vàn khó khăn bởi vì xu hướng nghiêng chiều về sự dữ luôn tác động đến con người cách mãnh liệt. Tự thân, con người khó có thể thoát khỏi tình trạng đó để thực thi thánh ý Thiên Chúa. Kinh nghiệm của gia đình nhân loại nói chung và kinh nghiệm của dân Ít-ra-en trong lịch sử Cựu Ước nói riêng cho phép chúng ta nhận thức điều đó.
Nhờ Đức Giê-su và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa đã thực thi chương trình cứu độ nhằm giải thoát con người khỏi mọi hình thức nô lệ, nhất là ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Trong hành trình trần thế, Đức Giê-su đã mặc khải cho mọi người sự hòa hợp tuyệt đối giữa ân sủng Thiên Chúa và ý chí tự do của con người bởi vì nơi Người, tự do nhân loại được thể hiện cách viên mãn nhất trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha. Qua đó, Người trở nên mẫu gương cho mọi người về việc thực thi tự do của mình. Khi tự do đích thực mà Đức Giê-su diễn tả bén rễ sâu trong tâm hồn con người, đó cũng là lúc con người biết quy hướng về Người, là Sự Thật có sức giải thoát. Nhờ đó, con người biết thể hiện tự do của mình trong đời sống đức tin, đức cậy và đức mến cách xứng hợp nhất.
Những trình bày trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng tự do đích thực là tự do trong ân sủng, đặt nền tảng trên sự thật, hướng về sự thiện và đạt tới sự viên mãn trong Đức Giê-su. Quả thật, Đức Giê-su là Đường Kiện Toàn Tự Do của Thiên Chúa giữa gia đình nhân loại. Mọi người được mời gọi đến với Đường của Người, đi trên Đường của Người và hành động theo Đường của Người cách trung tín nhất. Có như thế, hành trình trần thế của mỗi người cũng là hành trình chứa chan ân sủng Thiên Chúa và sự tự do đáp lại của bản thân trong việc đón nhận và cộng tác vào ơn cứu độ dành cho mình cũng như dành cho anh chị em đồng loại. Lời thánh Phao-lô tiếp tục vang vọng trong thế giới hôm nay: “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Ki-tô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa” (Gl 5,1). Ước gì mọi người có thể cảm nhận và thấm nhuần lời thánh nhân, đồng thời ngày càng ý thức hơn về phẩm giá cao quý của mình: Được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi trở thành con cái Người trong hành trình trần thế cũng như trong Quê Hương Vĩnh Cửu.
Nguồn: hdgmvietnam.com/