BÀI ĐỌC I: Xh 34, 4b-6. 8-9
Ngày ấy, từ sáng sớm, Môsê chỗi dậy và lên núi Sinai, như Chúa đã truyền dạy cho ông, ông mang theo hai bia đá. Khi Thiên Chúa ngự trên đám mây, Môsê đứng trước mặt Chúa và kêu cầu danh Chúa. Chúa đi qua trước mặt ông và hô: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa thương xót và từ nhân, bao dung, đầy nhân nghĩa và tín thành”. Môsê vội vã sấp mình xuống đất thờ lạy và thưa rằng: “Lạy Chúa, nếu con có ơn nghĩa trước nhan thánh Chúa, thì xin Chúa hãy đi cùng với chúng con, (vì dân này là dân cứng đầu), xin xoá mọi gian ác và tội lỗi chúng con, xin nhận chúng con làm cơ nghiệp của Chúa”.
BÀI ĐỌC II: 2 Cr 13, 11-13
Anh em thân mến, anh em hãy vui lên, hãy nên trọn lành, hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí, và hoà thuận với nhau, thì Thiên Chúa, nguồn sự bình an và tình yêu, sẽ ở với anh em. Anh em hãy chào nhau bằng cái hôn thánh thiện. Tất cả các thánh ở đây gởi lời chào anh em. Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh em. Amen.
PHÚC ÂM: Ga 3, 16-18
Khi ấy, Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô rằng: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai tin ở Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin Người Con ấy, thì không bị luận phạt. Ai không tin thì đã bị luận phạt rồi, vì không tin vào danh Con Một Thiên Chúa”.
Suy Niệm 1: LỄ CHÚA BA NGÔI: LỄ TÌNH YÊU ĐÚNG NGHĨA NHẤT
Cùng với thánh Phao lô, chúng ta cầu chúc cho nhau điều quí nhất và quan trọng nhất trong ngày Lễ Tình Yêu thần linh này: “Nguyện xin ân sủng Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em” (x. 2Cr 13,11-13).
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
……………………….
SUy Niệm 2: HIỆP THÔNG TRONG TÌNH YÊU VÀ SỰ SỐNG
Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng lễ Chúa Ba Ngôi. Trong niềm tin của Giáo Hội, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm. Giáo Hội nói về điều này trong những lời sau: “Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu. Đây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, cội nguồn phát sinh mọi mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Đây là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo ‘phẩm trật các chân lý đức tin’ (DCG 43). ‘Trọn lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử về đường lối và các phương tiện mà Thiên Chúa chân thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mạc khải, để giao hòa và kết hợp với Người những ai từ bỏ tội lỗi’” ( DCG 47). Điều đáng để chúng ta lưu ý trong những lời giáo huấn trên của Giáo Hội là việc mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là “mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Kitô hữu.” Điều này có thật sự như thế không? Trên thực tế, chúng ta biết về mầu nhiệm Chúa Kitô, hoặc biết về Đức Mẹ và các thánh còn nhiều hơn mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúng ta thường nghĩ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm thật xa với đời sống con người. Điều chúng ta cần lưu ý là: Chúng ta không thể hiểu mầu nhiệm này nếu chỉ dùng lý trí của mình để suy luận. Chỉ những ai yêu và sống ý nghĩa của mầu nhiệm này trong đời sống thường ngày, thì mới hiểu sự thâm sâu của mầu nhiệm. Chúng ta hãy để lời Chúa hướng dẫn chúng ta hầu tìm thấy ý nghĩa để sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi trong đời sống thường ngày.
Bài đọc 1 hôm này vẽ lên cho chúng ta hình ảnh của Thiên Chúa chúng ta tôn thờ. Ngài là Thiên Chúa của Giao Ước, là Thiên Chúa trung thành. Mạc khải về Thiên Chúa của Israel được thực hiện trên núi Xinai: “Đức Chúa ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. Đức Chúa đi qua trước mặt ông và xướng: ‘Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín’” (Xh 34:5-6). Thiên Chúa mạc khải cho Môsê biết Ngài là Đấng nhân hậu và từ bị, chậm giận, giàu tình thương và lòng thành tín. Đây là hình ảnh thật đẹp về Thiên Chúa, khác với hình ảnh của một Thiên Chúa luôn chấp tội và phạt khi con người sai lỗi. Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình. Được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, chúng ta phải tỏ ra nhận hậu, từ bi, chậm giận và giàu tình thương và lòng thành tín với anh chị em của mình. Nhiều lần chúng ta đã quên điều này vì chúng ta không biết Thiên Chúa của mình là ai. Để biết Chúa, chúng ta cần phải xin Ngài đồng hành với chúng ta như Môsê đã xin: “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài” (Xh 34:8-9). Thật vậy, Môsê chỉ xin Chúa đồng hành với ông và nhận mọi người làm cơ nghiệp của Ngài. Hãy xin Chúa đồng hành và nhận chúng ta làm gia nghiệp của Ngài.
Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu Côrintô sống trong niềm vui và nỗ lực đạt đến sự thánh thiện: “Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em” (2 Cr 13:11). Những lời này chỉ ra cho chúng ta những nét đặc trưng mà khi sống chúng ta làm phản chiếu mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, đó là “đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà.” Như chúng ta biết, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm của tương quan, của hiệp nhất yêu thương. Sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa được Thánh Phaolô diễn tả trong lời chào các tín hữu Côrintô: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giêsu Kitô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. Amen” (2Cr 13:13). Khi chúng ta sống trong sự hiệp nhất của tình yêu và sự sống với anh chị em mình, chúng ta đang sống và làm cho mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi được biết đến. Nhìn từ khía cạnh này, chúng ta thấy mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa không phải là một mầu nhiệm cao siêu không thể hiểu thấu, nhưng là một mầu nhiệm được sống và cảm nghiệm trong đời sống yêu thương, hiệp nhất của đời sống thường ngày.
Chúng ta chỉ hiểu bài Tin Mừng hôm nay khi đặt nó vào trong bối cảnh, đó là cuộc đối thoại với Nicôđêmô về việc được sinh ra trong sự sống mới, sự sống muôn đời. Thánh Gioan đã đưa trình thuật Tin Mừng hôm nay vào trong cuộc đối thoại đó để cho chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa khi sai con Ngài đến thế gian. Thật vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến để ban sự sống. Một cách tổng quát, chúng ta tìm thấy niềm tin vào sự sống đời sau được hiện thực hoá nơi Đức Giêsu. Niềm tin vào sự sống đời sau trong thần học của Thánh Gioan được diễn tả cách rõ ràng trong sự liên kết giữa niềm tin vào Người Con và không bị phán xét, nhưng có sự sống đời đời (x. Ga 12:46-48). Một số các nhà chú giải đề nghị rằng có một sự tương đồng của Cựu Ước hoạt động trong bản văn này. Ngoài phần dẫn nhập (x. Ga 1:16,18), chỉ có những câu này nói về người con như là monogenes [Con Một]. Các nhà chú giải có thể nghĩ đến Isaác như là “con một,” người mà Ápraham yêu nhưng sẵn sàng dâng làm hy lễ cho Thiên Chúa. Mặc dầu Tin Mừng Thứ Tư không tập trung vào cái chết của Chúa Giêsu như một hy tế, lối diễn tả “Ngài [Thiên Chúa] đã ban Con Một” (câu 16) có thể được hiểu rằng Chúa Giêsu bị trao nộp hầu chết cho nhân loại (x. Gal 1:4; 2:20; Rom 8:32). Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại ơn gọi cao quý của mình. Trong ngày rửa tội [theo công thức Ba Ngôi], chúng ta cũng trở nên con Thiên Chúa. Chúng ta cũng “bị trao nộp” cho anh em chúng ta được sống. Nói cách khác, chúng ta phải chết đi những gì là của con người mình, để chỉ sống cho Chúa và cho anh chị em mình.
Chúng ta có thể suy gẫm về bài Tin Mừng hôm nay dựa trên hai hướng: Từ hành động của Thiên Chúa và từ hành động của con người. Nhìn từ phía Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy Ngài thực hiện điều sau đây cho con người: Ban con Một cho thế gian (câu 16) hoặc Sai Con Một đến thế gian (câu 17). Động lực Thiên Chúa ban hoặc sai Con Một mình là vì yêu (câu 16) nên Ngài không lên án thế gian (câu 17), nhưng muốn cứu thế gian qua Người Con. Chúng ta học được gì từ hành động của Thiên Chúa? Khi làm mọi sự vì tình yêu, chúng ta sẽ chỉ nghĩ đến làm việc tốt cho người khác và dễ dàng tha thứ, không lên án người khác. Còn khi động lực làm việc không phải là tình yêu, thì chúng ta thường lên án, loại trừ, ghen tỵ và giết hại những ai cản trở công việc của chúng ta. Học nơi Chúa Ba Ngôi, chúng ta làm mọi sự vì tình yêu.
Về phía con người, hành động cần thiết duy nhất là “tin vào Con của Người” (câu 16 và 18). Những ai tin vào Con Thiên Chúa thì sẽ được những điểu sau: (1) “thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”; (2) không bị lên án” [còn những kẻ không tin, thì bị lên án rồi.” Như chúng ta biết, đức tin là “sự gặp gỡ cá vị giữa chúng ta với Thiên Chúa,” “là sự hoàn toàn đặt mình vào trong bàn tay hiền từ của Thiênn Chúa để Ngài dẫn dắt chúng ta.” Tin là trao ban trọn vẹn con tim của mình cho Thiên Chúa để yêu Ngài một cách không phân chia. Từ những chi tiết này, chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng yêu thương. Ngài trao ban hết mọi sự cho chúng ta ngay cả Con Một của Ngài. Đây là điều chúng ta rút ra từ ý nghĩa của Thánh Lễ hôm nay, là sống đời yêu thương qua việc quảng đại trao ban những gì mình có và mình là cho anh chị em của mình.
Lm. Anthony, SDB.
…………………………….
Suy Niệm 3: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
Có lẽ không có ngày nào trôi qua mà chúng ta không đôi lần làm dấu Thánh Giá: Buổi sáng thức dậy và tối đến; khi bắt đầu các giờ kinh và kết thúc với lời chúc lành; trước và sau khi dùng bữa, … Chúng ta làm dấu chỉ này bởi vì chúng ta được rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Khi đọc Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha là Đấng tác tạo nên chúng ta; Chúa Con là Đấng cứu chuộc chúng ta; Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hoá chúng ta. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm căn bản trong đời sống đức tin, được tóm gọn khi chúng ta làm dấu Thánh Giá. Thoạt nhìn có vẻ đơn giản nhưng ai có thể trả lời cho chúng ta: Thiên Chúa – Ngài là ai? Ngay từ ngàn xưa con người đã đặt ra câu hỏi này. Trong lịch sử đã có không biết bao nhiêu triết gia và thần học gia lỗi lạc suốt đời tìm tòi truy cứu nhưng không ai có thể đưa ra một giải đáp thoả đáng. Thiên Chúa siêu việt hơn những gì chúng ta nghĩ ra và có thể hiểu được. Nếu như con người có thể nói được Thiên Chúa là ai thì Thiên Chúa chẳng còn là Thiên Chúa nữa. Ngài cũng hữu hạn như con người chúng ta. Như vậy, chỉ có Thiên Chúa mới có thể nói Ngài là ai. Con người chỉ có thể lần theo dấu vết và dùng hình ảnh để diễn tả. Con người khám phá ra hình ảnh của Thiên Chúa khi biết nhìn vào bản thân mình và nhìn nhận: Tôi chỉ là một thụ tạo, không có thể tự mình hiện hữu. Tôi là kẻ đã tiếp nhận sự sống từ Thiên Chúa. Trong một thế giới hỗn độn nhưng cũng chứa đầy vẻ lộng lẫy huy hoàng tôi có thể khám phá dấu vết của Đấng sáng tạo và không ngừng phải khấu đầu bái phục.
Lẽ ra con người là ánh sáng của ngọn hải đăng, là hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa. Nhưng ngay từ nguyên thủy con người đã tự tìm cách thoát ra ngoài vòng tay đầy yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Họ không muốn dựa dẫm, sống nương tựa vào tình thương của kẻ khác. Họ muốn chính mình trở nên giống Thiên Chúa. Tuy nhiên thay vì sống thoải mái, thong dong tự tại, con người tự lún sâu vào trong sợ hãi, dối trá và bạo lực. Nỗi sợ hãi khi phải đối diện với Thiên Chúa dần dần xâm lấn, thấm vào tận xương tuỷ. Họ tự trốn chạy và tìm chỗ ẩn nấp trước Đấng hằng yêu thương họ, mặc dầu họ trót lỡ lầm! Một thảm trạng khó bề diễn tả! Không những thế, mối quan hệ giữa con người với nhau cũng bị rạn lứt, rối loạn và từ đây luôn mang dấu tích của nghi kỵ, oán thù!
Thiên Chúa sẽ phản ứng ra sao khi con người ngoảnh mặt làm ngơ trước tình thương mà Ngài dành cho họ? Phải chăng Ngài bỏ mặc con người, không thèm điếm xỉa đến, chỉ đóng kín trong vòng quan hệ tình yêu riêng tư của Ngài? Bài Phúc âm ngày hôm nay nói với chúng ta rằng, sư thật không phải như thế: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” Lời này có sức đánh động con tim chúng ta, giúp chúng ta đưa mắt nhìn qua bức màn huyền nhiệm của mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa không muốn thành kẻ xa lạ, ngoài tầm tay với! Tội lỗi và sự chối từ của con người không có sức làm cho tình yêu của Ngài nên hạn hẹp, đóng kín hay trở nên sát phạt vì giận dữ. Hoàn toàn ngược lại! Bởi vì muốn đưa con người trở về sống trong tình thương, Thiên Chúa đã bước ra ngoài vòng huyền nhiệm, dùng chính ngôn ngữ của con người để mặc khải cho chúng ta biết, Ngài là ai.
Trong biến cố Giáng sinh Ngài trở nên hữu hình, có thể sờ mó, cảm nhận, hiểu được và nghe được. Đức Giêsu đã trở nên phàm nhân, là một người sống giữa chúng ta. Ngài là hình ảnh cụ thể của tình yêu Thiên Chúa. Trong cuộc khổ nạn và sự chết Ngài đã đón nhận sự sợ hãi, nghi kỵ và ác ý của con người vào bản thân mình. Trong biến cố Phục sinh Ngài biến đổi đau khổ và sự chết thành lời chúc lành và ban tặng cho chúng ta cuộc sống mới. Một tạo vật mới sống dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Ở Sternberg, Thuỵ sĩ, có một mô hình có thể mô tả mầu nhiệm lòng thương xót của Chúa Ba Ngôi. Hình ảnh này giúp tôi sống cuộc đời linh mục. Ở chính giữa là một con người sức lực hầu như kiệt quệ. Chúa Cha xốc đôi vai kẻ đó lên. Chúa Con đỡ đôi chân và Chúa Thánh Thần đổ tràn nguồn sinh lực qua ngọn lửa tình yêu.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức
……………………………………….
Suy Niệm 4: THIÊN CHÚA LÀ NGUỒN YÊU THƯƠNG
A. DẪN NHẬP
Chúng ta có thể tuyên xưng với người Do thái giáo và Hồi giáo rằng : Chúng tôi tin một Thiên Chúa duy nhất, Đấng Tạo Hóa, Chủ Tể vũ trụ. Nhưng là người Kitô hữu, được Chúa Kitô soi sáng, chúng ta còn tin Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đó là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm nền tảng của đức tin chúng ta.
Không ai biết được Thiên Chúa nếu Ngài không mạc khải cho. Trong thời Cựu ước, loài người chỉ được biết có sự hiện hữu của một Thiên Chúa Giavê, Ngài là Đấng hằng hữu, nhưng còn Thiên Chúa Ba Ngôi thì chính Chúa Giêsu mạc khải cho trong thời Tân ước này. Theo mạc khải đó, chúng ta biết được có sự hiện hữu của Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Ngài là nguồn yêu thương và bình an, là gương mẫu tuyệt hảo của sự hiệp nhất. Chúng ta hân hạnh được làm con Chúa Ba Ngôi để dám gọi Ngài là Cha : “Abba, Cha ơi”. Đáp lại vinh dự đó, chúng ta phải yêu mến Ngài hết lòng và tuyên xưng danh Ngài cho đến tận cùng thế giới.
Giáo hội muốn dành riêng một ngày Chúa nhật trong năm Phụng vụ để đặc biệt tôn kính và tìm hiểu mầu nhiệm lớn lao này. Chúng ta sẽ không bao giờ thấu hiểu được Chúa Ba Ngôi như thánh Augustinô đã làm, nhưng chúng ta biết Chúa Ba Ngôi là khuôn mẫu của sự yêu thương và hiệp nhất. Trong cuộc sống hằng ngày Chúa Ba Ngôi vẫn ngự trị và hành động trong chúng ta, do đó, chúng ta phải tôn kính Ngài, học đòi bắt chước Ngài mà sống yêu thương và phục vụ.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Xh 34, 4-6.8-9.
Qua đoạn sách Xuất hành hôm nay, chúng ta biết, Thiên Chúa là Đấng giầu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung. Chính Thiên Chúa đã giải thoát Israel khỏi ách nô lệ Ai cập, nhưng dân Chúa lại phản bội Ngài, đi thờ con bò vàng thay Chúa. Tuy thế, qua lời cầu xin của ông Maisen, Thiên Chúa đã tha thứ cho họ và vẫn trung thành thi hành giao ước đối với họ.
Ngay từ thời Cựu ước, Thiên Chúa đã mạc khải cho thấy Ngài là một vì Thiên Chúa của tình yêu. Trong thời Tân ước, việc mạc khải được sáng tỏ hơn với việc Thiên Chúa sai Con Một của Ngài đến cứu độ trần gian là Đức Giêsu Kitô.
+ Bài đọc 2 : 2Cr 13,11-13.
Thánh Phaolô, dựa vào niềm tin : Thiên Chúa là nguồn tình yêu và bình an, đã mời gọi các tín hữu Côrintô hãy vui lên vì mọi người đã được cứu chuộc và được làm con Chúa để mọi người không còn sợ sệt mà dám gọi Thiên Chúa là Cha :”Abba, Cha ơi”.
Vì trong cộng đoàn Côrintô có sự lộn xộn bất hoà với nhau, nên thánh Phaolô đã viết thư cảnh cáo và khuyên bảo họ hãy sống đoàn kết thương yêu nhau ; đồng thời cũng cầu chúc họ được tràn đầy ân sủng của Chúa Ba Ngôi.
+ Bài Tin mừng : Ga 3,16-18.
Bài Tin mừng hôm nay nhắc lại tư tưởng đã được đề cập trong bài Cựu ước ở trên : Thiên Chúa là tình yêu, là Đấng giầu lòng thương xót. Tình yêu Thiên Chúa được diễn tả cách cụ thể trong Tân ước : Thiên Chúa tỏ ra là Thiên Chúa yêu thương đã ban Người Con duy nhất cho trần gian, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Điều đó buộc mọi người phải tin vào Con Thiên Chúa, ai không tin thì sẽ bị lên án.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Ba Ngôi yêu thương và hiệp nhất
I. MẦU NHIỆM THIÊN CHÚA BA NGÔI
Đã là mầu nhiệm thì không thể hiểu thấu được, nhất là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm lớn trong Đạo. Câu chuyện của thánh Augustinô sẽ soi sáng thêm cho chúng ta về vấn đề này : Sau một đời ăn chơi trụy lạc và chạy theo tà thuyết, Augustinô đã tìm về với Kitô giáo. Ngài được xem là điển hình của một sự khao khát và tìm kiếm không ngừng. Điều đó được thể hiện qua một giai thoại như sau :
Augustinô thuộc khuynh hướng của những người cho rằng với kiến thức và nỗ lực tìm kiếm, con người có thể múc cạn chân lý về Thiên Chúa. Một hôm, đi dọc theo bờ biển, đầu óc miên man nghĩ đến những bí ẩn về Thiên Chúa, tình cờ Ngài gặp một cậu bé đang ngồi chơi trên cát. Nó dùng một mảnh sò để đào một lỗ nhỏ trên cát, rồi dùng vỏ sò ấy múc nước biển đổ vào.
Nhưng dã tràng xe cát Biển đông, nó cứ đổ nước vào cái lỗ mà vẫn không bao giờ đầy. Ngạc nhiên về cử chỉ của đứa bé, thánh nhân nấn ná gợi chuyện. Ngài hỏi nó đang làm gì, đứa bé trả lời không chút do dự :
– Thưa ông, cháu đang dùng vỏ sò này để tát cho cạn nước bể đại dương.
Thánh nhân lắc đầu bảo nó :
– Cháu không thể làm được chuyện đó đâu.
Đứa bé ngước lên và mỉm cười nói :
– Múc cạn nước đại dương để đổ đầy cái lỗ này còn dễ hơn múc cạn mầu nhiệm về Thiên Chúa.
Thánh Augustinô chợt hiểu được một chân lý : Thiên Chúa là một mầu nhiệm mà con người không thể nào thấu hiểu được (D.Wahrheit, Tìm về cõi phúc, tr 68).
* Thiên Chúa là một mầu nhiệm. Thiên Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm vĩ đại. Khi học giáo lý, ta đã học thuộc lòng về các mầu nhiệm, trong đó có 3 mầu nhiệm lớn nhất trong Đạo :
. Mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể.
. Mầu nhiệm Ngôi Hai cứu chuộc.
. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
* Ta không thể biết mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mà hoàn toàn do Chúa Giêsu mạc khải cho trước khi Ngài về trời, khi Ngài phán :”Mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được ban cho Thầy. Vậy anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,18-19)
* Đây quả là một mầu nhiệm thẳm sâu, chúng ta không thể nào diễn tả được mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, nhưng trong vũ trụ thiên nhiên chúng ta có thể lấy được nhiều hình ảnh cụ thể dùng lối loại suy để hiểu về Chúa Ba Ngôi :
Khi thuyết giảng tại công viên Hyde Park, Frank Sheed đã dùng mưa rơi để cố gắng giúp người ta hiểu được sự vừa đơn nhất vừa đa dạng của Ba Ngôi. Ông thường nói :”Nước đang rơi đây thực là nuớc nhưng nó có thể hiện hữu dưới ba dạng : thể hơi, thể rắn và thể lỏng – nghĩa là dạng hơi nước, dạng băng và dạng nước mưa đang rơi đây”.
Dĩ nhiên tất cả mọi cách loại suy đều không thể nói lên tất cả thực tại, tuy nhiên chúng ta có thể thấy được chủ ý của Frank muốn nói là không phải có ba loại nước, mà chỉ có một loại nước nhưng nó hiện hữu trong ba dạng khác nhau. Chúng ta có thể nghĩ về Thiên Chúa một cách tương tự như thế.
Một phương pháp khác giúp ta hiểu được sự vừa đơn nhất vừa đa dạng của Ba Ngôi là ví dụ mà thánh Ignatiô Loyola thường dùng. Có lần trong lúc cầu nguyện, Ngài bỗng nhận ra Ba Ngôi dưới hình dạng ba nốt nhạc tạo nên một hợp âm duy nhất.
Và cuối cùng, chúng ta cũng thấy thánh Patrick thường dùng ba lá của loại xa trục thảo (3 lá ghép thành một) để diễn tả ý niệm Ba Ngôi.
Làm thế nào chúng ta có thể áp dụng tất cả những điều nói trên vào hành động cụ thể ? Chúng ta có thể làm gì để Ba Ngôi sống động hơn trong cuộc sống riêng tư của chúng ta ? Có phương pháp mà một số người cho là hữu ích đó là cầu nguyện mỗi tối trước khi đi ngủ. Họ dùng ba phút để hồi tâm về một ngày vừa chấm dứt… (M. Link. Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 179-180).
II. BÀI HỌC RÚT RA TỪ CHÚA BA NGÔI
Nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi thì không bao giờ cùng. Các nhà thần học có nghiên cứu, có tìm hiểu đến đâu, có tranh luận đến khô bọt mép đi nữa thì cuối cùng cũng chỉ đi đến một kết luận chung :”TÔI TIN”, vì đây là một mầu nhiệm cao cả trong Đạo mà ! Ngay trong thế giới tâm linh của con người cũng còn có biết bao điều bí ẩn lớn lao mà không khám phá ra như người ta vẫn nói :
Dò sông dò biển dễ dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người.
(Ca dao)
Có ai dám tự phụ cho rằng mình hoàn toàn hiểu được chính mình không ? Khi hai người khác phái được kết hợp với nhau trong hôn nhân, tình vợ chồng dù có thâm sâu đến đâu, cũng không bao giờ con người có thể hiểu được tường tận người phối ngẫu của mình. Mãi mãi cho đến bên kia cõi chết, mỗi người vẫn là một mầu nhiệm đối với nhau.
Nếu những bí ẩn của đời sống con người còn chưa hiểu hết được, làm sao ta có thể hiểu tường tận mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi ? Ta chỉ có thể rút ra được vài bài học từ mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi để áp dụng vào cuộc sống của ta.
- Bài học về yêu thương
Thánh Gioan tông đồ đã khẳng định :”Thiên Chúa là Tình thương” (1Ga 4,8). Thánh Grêgôriô Cả nói :”Để giữ vững cương vị thì tình thương phải lan tràn sang người khác”. Nói khác đi, tình thương phải bắt nguồn nơi mình và phải kết thúc nơi người khác, chẳng vậy nó chỉ còn là ích kỷ chứ không còn là tình thương nữa.
Bài Tin mừng hôm nay bắt đầu bằng câu :”Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Con Một Người sẽ không phải chết mà còn được sống đời đời “(Ga 3,16). Yếu tính của tình thương là CHO ĐI và KẾT HỢP. Yêu tức là CHO tất cả. Thiên Chúa yêu thương loài người và đã cho loài người tất cả : trời đất, núi non, sông biển cùng với muôn vàn tạo vật. Thiên Chúa còn cho loài người sự sống – một thứ chỉ có Người mới cho được. Thiên Chúa cho loài người một linh hồn – một thứ làm cho loài người nên giống Thiên Chúa (Rm 8,17).
Thiên Chúa đã ban cho loài người tất cả rồi. Còn một điều cao qúi nhất mà Thiên Chúa cũng ban, đó là ban chính Con Một Người :”Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Người cho thế gian”.
Chúng ta biết do đức tin : Thiên Chúa là Đấng duy nhất nghĩa là chỉ có một bản thể, trong bản thể ấy lại có Ba Ngôi – Ba Ngôi đúc lại thành một Thiên Chúa duy nhất. Thiên Chúa yêu thương thế gian… cho nên đã phó Con Một Người cho thế gian, nghĩa là đã ban trót mình cho thế gian. Không những ban Chúa Con là ngôi thứ Hai mà là ban chính mình, trong đó gồm cả bản tính Thiên Chúa ở trong Ba Ngôi, cho nên ban Con Một Người tức là đã ban tất cả Thiên Chúa – tất cả mình – và chính mình cho thế gian. Và như vậy là Thiên Chúa đã THƯƠNG thế gian, và đã giữ đúng nghĩa chữ THƯƠNG là cho TẤT CẢ (Lm Nguyễn duy Tôn, Lời Chúa, năm A, t II, tr 9).
Truyện : Tình yêu hiến thân.
Ngày 20.06.1980, chị Brown, một người mẹ trẻ vừa từ trần vì chứng bệnh ung thư khi mới 25 tuổi. Các bác sĩ đề nghị chữa trị bằng quang tuyến, nhưng vì chị muốn cho bào thai đang mang trong bụng không bị nhiễm chất phóng xạ, nên chị từ chối, thà chết còn hơn để cho bác sĩ chữa trị ung thư bằng quang tuyến.
Cuối cùng, chỉ 5 giờ trước khi chết, chị đã sinh được một cháu trai mạnh khỏe, kháu khỉnh. Bản tin của hãng AP nói rằng :”Vào mấy ngày cuối cùng của cuộc đời, chị Brown biết mình bị tử thần đánh bại, nhưng chị vẫn tin tưởng thế nào chị cũng thành công và sinh được một đứa con không bị nhiễm phóng xạ”.
Bác sĩ Ronald Lapin gọi cái chết của chị Brown là “Cái chết của tình mẫu tử, dám hy sinh mạng sống cho đứa con chưa một lần thấy mặt”.
- Bài học về Hiệp nhất
Theo Tân ước, chúng ta thấy có một trường hợp hy hữu mà Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hiện diện và cùng hoạt động. Đó là khi Chúa Giêsu xin ông Gioan làm phép rửa cho mình : lúc Ngài ở dưới sông lên thì trời tự nhiên mở ra, và từ trên không trung có tiếng phán ra rằng :”Đây là Con Ta yêu dấu”. Cùng một trật đó, thấy hiện đến và đỗ trên đầu Chúa Con một chim bồ câu. Đó là lần thứ nhất từ khi có lịch sử loài người, Ba Ngôi hiện diện và hành động trong một lúc : Trước hết là Ngôi Con chịu phép rửa, rồi Ngôi Cha từ trời phán ra, và sau hết Ngôi Thánh Thần dưới hình chim bồ câu hiện đến.
Về niềm tin vào Chúa Ba Ngôi, Hội thánh đã tóm tắt lại trong kinh Tin kính của thánh Athanasiô đại khái như sau : Có một Đức Chúa Trời mà Người có Ba Ngôi : Ngôi nhất khác , Ngôi hai khác, Ngôi ba khác… Đức Chuá Cha là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Thánh Thần là Đức Chúa Trời, nhưng là một Đức Chúa Trời, chứ không phải là ba Đức Chúa Trời… Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng và có từ trước đời đời ; Đức Chúa Con phép tắc vô cùng và có từ trước đời đời ; Đức Chúa Thánh Thần phép tắc vô cùng và có từ trước đời đời… Không có Ngôi nào hơn, Ngôi nào kém, Ba Ngôi đều bằng nhau, như nhau về tất cả mọi phương diện… Đức Chúa Cha không bởi ai sinh ra, Đức Chúa Con bởi Đức Chúa Cha sinh ra. Đức Chúa Thánh Thần bởi Ngôi Cha và Ngôi Con mà ra.
Đó là tất cả những điều về Chúa Ba Ngôi do Chúa Giêsu dạy, các Tông đồ trối lại và các thánh Giáo phụ để lại cho chúng ta.
Trong các câu mở đầu của kinh cầu, Hội thánh luôn xưng hô và ca tụng Ba Ngôi Thiên Chúa mà trong kinh cầu chữ (bằng chữ Hán của ông Cử Thiện ở Bùi chu) được giáo dân đọc trong các ngày giỗ, được dịch là :”Tam vị nhất thể Thiên Chúa giả” : Ba Ngôi cũng là một Đức Chúa Trời, thương xót chúng con. Câu dịch rất vắn gọn và đúng ý nghĩa : Ba Ngôi vị chỉ có một bản tính Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật..
Hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi cùng hoạt động trong Hội thánh và nơi từng người nói lên sự hiệp nhất bền chặt giữa Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây là một mô hình tuyệt vời về sự hiệp nhất mà Chúa ban cho ta để ta cũng phải củng cố sự hiệp nhất trong Hội thánh và trong cộng đoàn chúng ta. Sự hiệp nhất sẽ đem lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích trong đời sống tự nhiên và siêu nhiên.
Truyện : Bài học từ loài ngỗng.
Vào mùa thu, khi bạn thấy bầy ngỗng bay về phương Nam để tránh đông theo hình chữ V , bạn có tự hỏi những lý lẽ khoa học nào có thể rút ra từ đó. Mỗi khi một con ngỗng vỗ đôi cánh của mình, nó tạo ra một lực đẩy cho con ngỗng bay ngay sau nó. Bằng cách bay theo hình chữ V, đàn ngỗng tiết kiệm được 71% sức lực so với khi chúng bay từng con một .
Mỗi khi một con ngỗng bay lạc khỏi hình chữ V của đàn, nó nhanh chóng cảm thấy sức trì kéo và những khó khăn của việc bay một mình. Nó sẽ nhanh chóng trở lại đàn để bay theo hình chữ V như cũ, và được hưởng những ưu thế của sức mạnh từ bầy.
Khi con ngỗng đầu đàn mỏi mệt, nó sẽ chuyển sang vị trí bên cạnh và một con ngỗng khác sẽ dẫn đầu.
Tiếng kêu của bầy ngỗng từ đàng sau sẽ động viên những con đi đầu giữ được tốc độ của chúng.
Cuối cùng, khi một con ngỗng bị bệnh hay bị thương và rơi xuống, hai con ngỗng khác sẽ rời khỏi bầy để cùng xuống với con ngỗng bị thương và bảo vệ nó. Chúng sẽ ở lại cho đến chừng nào con bị thương lại có thể bay hoặc là chết, và khi đó chúng sẽ nhập vào một đàn khác để tiếp tục bay về phương nam (Lấy từ internet theo Thùy Trang forward).
- Một vài thực hành
* Kinh Sáng danh : Khi đọc kinh Nhật tụng, mỗi khi đọc kinh Sáng Danh , ta hãy tỏ lòng cung kính, cúi đầu, để ca tụng và tôn vinh Chúa Ba Ngôi trong đời sống ta. Mỗi chục kinh Mân côi, chúng ta cũng đọc một kinh Sáng danh và còn nhiều dịp khác chúng ta có thể đọc được kinh đó.
* Dấu Thánh giá : một trong những kinh nguyện mà người công giáo chúng ta học, là dấu Thánh giá, thật đơn sơ và tốt đẹp. Chúng ta đưa bàn tay phải lên trán, lên ngực, vai trái và vai phải khi chúng ta cầu nguyện :”Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần” . Hành động thánh đó nhắc nhở chúng ta rằng : có Chúa Ba Ngôi trong một Thiên Chúa, và Ngôi Hai đã chết trên thập gíá vì tất cả chúng ta.
Lạy Cha ! Thiên Chúa của con, bây giờ con mới hiểu sâu sắc câu nói của Đức Giêsu :”Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho họ”. Thì ra sự công bằng vô bờ bến của Cha không cho phép Cha làm một cái gì đơn giản hơn để cứu chuộc nhân loại. Và bây giờ con mới hiểu được tình Cha yêu thương nhân loại, trong đó có con, như thế nào ! Xin cho con biết sống xứng đáng với tình yêu ấy ! Cho con biết đáp lại tình yêu vô bờ bến ấy bằng trọn tình yêu của con. Đồng thời cũng cho chúng con được biết thể hiện tình yêu ấy trong cuộc sống hằng ngày bằng cách yêu thương, phục vụ mọi người và hiệp nhất với nhau để xây dựng Hội Thánh.
Truyện : Tình yêu của Thiên Chúa
Một bà kia không biết đến sự yêu thương của đồng lọai. Bà là một người không tôn giáo, nghèo khổ bị bỏ quên, bị ngược đãi, bị đối xử bất công lâu ngày đến nỗi bà thù ghét tất cả mọi người mà mọi người dường như nghịch cùng bà. Một lần kia, cha sở đến gặp bà để nói về tình yêu thương của Thiên Chúa, song bà chẳng hiểu tình yêu là gì cả. Bà bảo :
– Tôi không hiểu ông nói gì. Chưa hề có ai yêu thương tôi và đối với tôi, tôi cũng không hiểu yêu thương là gì cả.
Cha sở về lại nhà xứ mà lòng vẫn canh cánh ray rứt về câu chuyện với người phụ nữ nọ. Ngài cầu nguyện liền mấy ngày rồi chợt nảy ra một ý, ngài cho mời nhóm bạn trẻ Tông đồ trong xứ lại và kể cho các bạn ấy nghe đầu đuôi sự thể. Rồi ngài đề nghị mọi người hãy giúp cho bà ấy biết được tình yêu của Chúa bằng cách mỗi người trong nhóm sẽ lần lượt từng người đến thăm bà, chân thành tỏ cho bà biết trên đời này vẫn có người yêu thương, thăm viếng, an ủi và giúp đỡ bà.
Mấy tháng trôi qua, một ngày kia, khi cha sở lại thăm bà, bà xúc động đến rướm nước mắt:
Thưa cha, bây giờ thì tôi đã hiểu, đã biết yêu thương là gì rồi, và bây giờ tôi đã có thể xin cha cho tôi được đón nhận tình yêu của Thiên Chúa.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt