Sau 15 năm tích góp, ông Paul Vũ Nguyễn cuối cùng đã mua được một mảnh đất nhỏ ở Huế.
Khác với nhiều bậc cha mẹ cùng thế hệ, người cha Công giáo 46 tuổi và có hai con này không xây nhà cho con cái.
Ông xây ngôi nhà đó cho chính mình và vợ.
“Chúng tôi không muốn trở thành gánh nặng cho con cái,” Ông Nguyễn chia sẻ; hàng ngày ông làm nghề lái xe tải giao hàng, còn vợ ông kiếm thêm thu nhập nhờ công việc chăm sóc trẻ sơ sinh.
“Nếu chúng tôi chuẩn bị chu đáo cho tuổi già, các con có thể tự xây dựng cuộc sống riêng của chúng,” ông nói.
Hai vợ chồng đang tích lũy tiền cho tuổi hưu, mua bảo hiểm y tế và thiết kế ngôi nhà sao cho sau này có thể tạo ra thu nhập từ việc cho thuê.
Quyết định của họ có lẽ đã bị coi là khác thường nếu diễn ra chỉ một thế hệ trước.
Trong nhiều thế kỷ, Huế — cố đô của Việt Nam dưới triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) — là nơi tiêu biểu cho những ý tưởng Nho giáo về đời sống gia đình; ở đó, nhiều thế hệ thường chung sống dưới một mái nhà và con cái khi trưởng thành được kỳ vọng sẽ trực tiếp chăm sóc cha mẹ già yếu.
Kỳ vọng đó vẫn được trân trọng sâu sắc. Tuy nhiên, khi dân số Việt Nam già hóa, những gia đình đang âm thầm tìm ra những cách thức mới để thực hành chính những giá trị ấy.
Thực tế xã hội thay đổi
“Lòng hiếu thảo đang thay đổi chứ không hề mất đi,” Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Joseph Nguyễn Minh Phước, ngài đã dành nhiều năm hướng dẫn những cặp đôi chuẩn bị hôn nhân tại thành phố miền Trung này, nhận định.
“Trước đây, hiếu thảo nghĩa là chăm sóc cha mẹ ngay tại nhà,” Linh mục Phước nói. “Ngày nay, điều đó còn bao hàm cả việc cha mẹ tự chuẩn bị cho tuổi già vì tình yêu thương dành cho con cái.”
Đối với vị linh mục, Điều răn thứ Tư không hề thay đổi. Điều thay đổi chính là thực tế xã hội mà người Công giáo đang sống và thực hành điều răn ấy.
Ngài cho biết, những cặp vợ chồng trẻ vẫn mong muốn chăm sóc cha mẹ già, nhưng nhiều người đang chịu áp lực lớn từ chi phí sinh hoạt leo thang, công việc bận rộn và tình trạng di cư khiến những thành viên gia đình phải sống xa cách nhau, cả trong nước lẫn ngoài nước.
“Việc chuẩn bị tài chính cho tuổi già không có nghĩa là mất niềm tin yêu vào con cái,” Linh mục Phước nói. “Đó là cách giảm bớt gánh nặng cho chúng, để tình cảm gia đình không bị biến thành nghĩa vụ nặng nề.”
Ông Nguyễn đã chứng kiến những áp lực kinh tế làm thay đổi diện mạo đời sống gia đình.
“Ngày nay mọi người bận rộn hơn và có ít thời gian hơn để chăm sóc cha mẹ già yếu,” ông chia sẻ. Dù vậy, ông và năm anh chị em vẫn góp tiền hàng tháng để lo cho người mẹ 90 tuổi được sống tại chính ngôi nhà của bà cùng với người chăm sóc.
“Ở viện dưỡng lão, bà sẽ được chăm sóc y tế tốt hơn,” ông thừa nhận. “Nhưng bà sẽ không cảm thấy hạnh phúc hơn.”
Mùa hè nào bà cũng mong ngóng các cháu trở về. Vào dịp Tết Nguyên Đán hay những ngày giỗ chạp, con cháu lại đông đủ, lấp đầy không gian ngôi nhà cũ.
“Đó là những ngày bà trân trọng nhất,” ông nói.
‘Mong con cái nhớ đến mình’
Bà Theresa Đỗ Thị Lành, 45 tuổi, cũng đang chuẩn bị cho tuổi già theo cách tương tự.
Vợ chồng bà Lành đã hoàn tất việc xây mộ cho cha mẹ và hiện đang dành dụm tiền để xây mộ phần cho chính mình.
“Chúng tôi tin tưởng con cái,: Bà Lành nói. “Chúng tôi chuẩn bị cho tuổi già vì không muốn trở thành gánh nặng cho các con.”
Với hai cô con gái đang làm việc tại Nhật Bản, bà Lành hiểu rằng các con có thể không phải lúc nào cũng ở gần bên.
Bà Lành vẫn không khỏi lo lắng.
Bà nhớ đến những người họ hàng từng bán hầu như mọi tài sản để lo chi phí cho con trai sang nước ngoài làm việc, nhưng rốt cuộc lại bị bỏ rơi sau khi người con đó định cư ở xứ người.
“Chúng tôi chỉ mong con cái nhớ đến mình,” bà nói. “Chỉ cần một chuyến ghé thăm hay một cuộc điện thoại là đủ.”
Bất chấp những nỗi lo đó, bà và các anh chị em vẫn không từ bỏ những truyền thống mà họ được thừa hưởng.
Sáu anh chị em thay phiên nhau chăm sóc hàng ngày cho người mẹ 87 tuổi; bà nhất quyết không chịu rời khỏi ngôi nhà cũ kỹ của gia đình – nơi đã gắn bó với phần lớn cuộc đời bà.
“Chúng tôi biết ơn vì bà vẫn còn ở bên mình,” Bà Lành chia sẻ. “Chăm sóc bà là cách chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn.”
Những câu chuyện như vậy đang ngày càng trở nên phổ biến khi Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học thuộc hàng nhanh nhất Á châu.
Cả nước hiện có gần 27 triệu người trong độ tuổi từ 40 đến 59, với khoảng 700.000 người gia nhập nhóm dân số cao tuổi mỗi năm. Tuổi thọ tăng cùng tỷ lệ sinh giảm đang gia tăng áp lực lên “thế hệ kẹp giữa”– những người phải chăm sóc cả cha mẹ lẫn con cái.
Tuổi già không phụ thuộc vào con cái
Đối với Ông Phước, thực tế này đòi hỏi sự thích nghi thay vì nuối tiếc.
“Ở vùng nông thôn, nhiều thế hệ vẫn thường sống chung dưới một mái nhà,” ông nói. “Ở nhuhng74 đô thị, điều đó đang trở nên khó khăn hơn nhiều. Tuy nhiên, sống xa nhau không có nghĩa là tình cảm bị nhạt phai.”
Ông cho biết nhiều giáo xứ đang hỗ trợ người Công giáo cao tuổi duy trì sự kết nối thông qua những hội đoàn giáo dân chuyên tổ chức những chuyến thăm hỏi, cầu nguyện và hỗ trợ thiết thực.
Ông Lê Xuân, người đang làm việc tại một trung tâm công lập dành cho người già bị bỏ rơi và trẻ mồ côi ở Huế, đã chứng kiến những hệ quả khi sợi dây gắn kết gia đình bị đứt gãy.
“Những người buồn tủi nhất không phải là những người có con cái không thể chăm sóc mình,” ông nói. “Đó là những người mà con cái chẳng bao giờ đoái hoài cha mẹ.”
“Điều họ mong mỏi nhất trước khi nhắm mắt xuôi tay là được gặp lại gia đình.”
Bà Đoàn Thị Mường, 88 tuổi, thấu hiểu sâu sắc cảm giác đó.
Dù sống một mình trong khi con cái làm việc ở nơi xa, bà khẳng định mình không hề mong đợi các con phải chăm sóc bà mỗi ngày.
“Tôi thích sống ở nhà mình,” bà nói. “Tôi chỉ mong họ quay lại viếng thăm.”
Có lẽ đó là cách mà lòng hiếu thảo đang được định hình lại ở Việt Nam.
Không phải bằng cách từ bỏ những giá trị cũ, mà bằng cách cho phép chúng mang những hình thức mới.
Ông Nguyễn đang chuẩn bị cho tuổi già mà không cần phụ thuộc vào con cái.
Dù vậy, ông vẫn cùng gia đình về nhà mẹ đẻ vào mỗi dịp Tết và những ngày lễ tưởng nhớ gia đình.
“Mẹ tôi hạnh phúc nhất khi mọi người trong gia đình đoàn viên,” ông nói.
Nguồn: thanhlinh.net/