Tác giả: Thầy Lawrence
Chuyển ngữ: Tô Linh
từ: basilica.ca
Đức Giáo hoàng Lêô XIV chia sẻ: “Tôi đã nghĩ đến một số cuốn, nhưng một trong số đó là cuốn sách có tên “The practice of the presence of God” (Thực hành sống sự hiện diện của Thiên Chúa). Đó là một cuốn sách rất đơn giản, được viết nhiều năm trước bởi một người thậm chí còn không cho biết họ của mình, Thầy Lawrence.
Nhưng nếu bạn muốn, nó mô tả một kiểu cầu nguyện và tâm linh, nơi người ta chỉ đơn giản dâng hiến cuộc đời mình cho Chúa và để Chúa dẫn dắt. Nếu bạn muốn biết đôi điều về tôi, thì đó là con đường thiêng liêng của tôi trong nhiều năm.
Giữa những thách thức to lớn, sống ở Peru trong những năm tháng khủng bố, được kêu gọi phục vụ ở những nơi mà tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ được kêu gọi. Tôi tin tưởng vào Chúa, và thông điệp đó là điều tôi chia sẻ với tất cả mọi người.”
| LỜI TỰA |
LỜI TỰA
“Tôi tin… các thánh thông công.”
Nếu người ta cần một chứng từ rõ ràng hơn nữa về thực tại ấy, thì chứng từ đó có thể chỉ được tìm thấy cách đại chúng trong kinh nghiệm Kitô giáo thuộc mọi thời đại và ở mọi miền đất. Những trải nghiệm của Thomas à Kempis, Tauler, Madame Guyon, John Woolman và Hester Ann Rogers, đồng nhất và hoà quyện với nhau một cách thật lạ lùng và tuyệt đẹp biết bao. Và nay, Nicholas Herman xứ Lorraine, người mà thư từ và các cuộc đối thoại của ông được chép lại nơi đây cũng làm chứng cho cùng một chân lý ấy.
Một tu huynh Dòng Camêlô, hiệp thông với Rôma, trước đó nhiều năm từng là một người lính sống giữa một thời đại kém tin, giữa một dân tộc hoài nghi. Thế nhưng nơi thầy, việc tập sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa lại là một hiện thực chẳng kém gì thực tại “tỉnh thức” của Hội Bạn hữu.[1] “Hạt giống thánh” trong lòng thầy và những người khác trở thành gốc rễ (Is 6,16) mà từ đó phát triển tinh thần đạo đức bình dân tại gia đình và cho công cuộc truyền giáo vào thế kỷ XVIII, ở Epworth và Moorfields.
“Khi chẳng điểm trang – lại đẹp vô cùng”, lời này khiến người biên tập không dám thêm thắt hay giải thích gì vào bản văn, ngoài đôi dòng tiêu đề nhỏ giúp định hướng. Ước gì “Đức Kitô sống trong anh em” trở nên “niềm hy vọng vinh quang” cho mỗi người đọc những trang này.
* * * * *
CUỘC ĐỐI THOẠI ĐẦU TIÊN
* Hoán cải và những việc làm trước
* Sự thoả lòng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
* Tin, bổn phận của chúng ta.
* Phó thác, hoa trái của sự tỉnh thức.
Lần đầu tiên tôi gặp thầy Lawrence là ngày 3 tháng Tám năm 1666. Thầy kể rằng Thiên Chúa đã thương ban cho thầy một hồng ân đặc biệt khi thầy hoán cải ở tuổi mười tám. Vào một ngày mùa đông, nhìn thấy một cái cây đã trơ trụi lá, rồi nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa lá sẽ lại mọc, rồi hoa và trái sẽ xuất hiện, thầy bỗng nhận được một cái nhìn rất sâu xa về sự Quan phòng và Quyền năng của Thiên Chúa. Cái nhìn ấy in dấu vào linh hồn thầy cho đến hôm nay. Chính kinh nghiệm ấy đã khiến thầy buông bỏ mọi quyến luyến thế gian, và nhen nhóm lên trong lòng thầy một tình yêu mạnh mẽ dành cho Thiên Chúa. Kể từ đó, tình yêu ấy mạnh đến mức, sau hơn bốn mươi năm, thầy cũng không biết tình yêu ấy có thể tăng thêm nữa không!
Trước khi vào dòng, thầy từng làm đầy tớ cho ông Fieubert, một nhà quản lý ngân khố; và thầy đã vô cùng vụng về, làm hư hỏng mọi thứ. Thầy đã ao ước được nhận vào tu viện, vì nghĩ rằng ở đó thầy sẽ được chỉnh đốn tính vụng về và những lỗi lầm. Thầy muốn dâng chính đời mình, cả những thú vui, như một hy lễ nhỏ dâng lên Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đã không chiều theo điều đó vì thầy chẳng gặp khó khăn gì ngoài sự thoả lòng trong đời tu.
Thầy nói với tôi rằng: chúng ta phải thiết lập một cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa, bằng cách trò chuyện liên lỉ với Ngài. Và thật đáng xấu hổ khi ta bỏ cuộc trò chuyện ấy để tơ tưởng về những điều vụn vặt và ngu ngốc.
Thầy khuyên ta nuôi dưỡng linh hồn bằng những tư tưởng cao đẹp về Thiên Chúa, những tư tưởng đem lại niềm vui lớn lao cho những ai tận tâm với Ngài.
Chúng ta cần phải tiến mau đến chỗ làm sống động đức tin của chính mình. Điều đáng buồn là chúng ta quá yếu. Thay vì để đức tin là quy luật cho đời sống, người ta lại tự chạy theo những việc sùng kính tầm thường, mau đổi thay. Trong khi con đường của đức tin chính là tinh thần của Hội thánh, và chỉ cần con đường ấy thôi cũng đủ đưa ta lên mức trọn lành. Ta hãy phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa, bao gồm cả vật chất và tinh thần, và chỉ thoả lòng khi làm trọn thánh ý Ngài. Dù Ngài dẫn ta qua đau khổ hay ủi an thì với một linh hồn thật sự biết phó dâng, cả hai đều như nhau.
Cần lắm sự trung tín trong những lúc khô khan, nguội lạnh hay chán nản lúc cầu nguyện, những lúc Thiên Chúa thử lòng yêu mến của ta. Đó chính là thời khắc để ta thực hiện những hành vi phó dâng lành thánh và hiệu quả, mà đôi khi chỉ một lần phó dâng cũng đủ đưa ta tiến xa hơn nhiều trên hành trình thiêng liêng.
Hằng ngày, khi nghe về những tội lỗi hay đau khổ đang diễn ra trong thế gian, thầy không ngạc nhiên. Trái lại, thầy lấy làm lạ sao lại không có nhiều hơn nữa, xét theo mức độ xấu xa mà tội nhân có thể phạm tới. Phần thầy, thầy cầu nguyện cho họ, không lo nghĩ quá nhiều, vì biết rằng nếu Thiên Chúa muốn, Ngài có thể sửa chữa mọi sự.
Muốn đạt tới sự phó thác mà Thiên Chúa đòi hỏi, chúng ta phải tỉnh táo quan sát mọi thứ đam mê đang trộn lẫn, cả trong những điều thiêng liêng lẫn việc đời thường. Thiên Chúa luôn chiếu soi vào những ước ao thật lòng muốn phụng sự Ngài. Cuối cùng, thầy nói rằng nếu thật sự tôi muốn phục vụ Thiên Chúa cách chân thành, thì tôi cứ đến gặp thầy bất cứ lúc nào mà không sợ làm phiền. Còn nếu không, thì tôi không nên đến nữa.
* * * * *
CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ HAI
* Yêu thương là động lực của mọi sự.
* Xưa sợ hãi, nay hân hoan.
* Sự siêng năng và tình yêu. Sự giản dị là chìa khóa nhận lãnh ơn phù trợ của Thiên Chúa.
* Lo việc bên ngoài cũng như việc nhà dòng.
* Những giờ cầu nguyện và việc hãm mình không phải là cốt yếu của việc thực hành này.
* Tất cả những lo sợ được dâng lên cho Chúa
Thầy nói rằng thầy luôn được tình yêu dẫn lối mà không tìm kiếm vị kỷ bản thân. Và một khi đã quyết tâm để cho tình yêu Thiên Chúa là cứu cánh cho mọi hành động, thầy tìm được những lý do để hài lòng với phương pháp của mình. Thầy đã vui lòng cúi xuống đất nhặt một cọng rơm vì lòng yêu mến Thiên Chúa, tìm kiếm chính Ngài mà thôi, không tìm gì khác ngay cả những đặc ân.
Có một thời gian dài thầy bị giày vò trong tâm trí vì một niềm tin dai dẳng rằng thầy chắc chắn sẽ bị luận phạt đời đời. Không một ai trên đời có thể thuyết phục thầy nghĩ khác đi. Nhưng chính thầy đã tự tìm được lý lẽ cho điều này: “Tôi không bước vào đời tu vì bất cứ điều gì ngoài tình yêu Thiên Chúa. Tôi đã cố gắng làm mọi sự cho Người. Vậy thì, dù tôi được cứu hay bị hư mất, tôi cũng sẽ tiếp tục thực hiện mọi việc vì lòng yêu mến Chúa. Ít nhất tôi sẽ có được điều tốt đẹp này, là cho tới lúc chết, tôi biết rằng tôi đã hoàn thành tất cả trong tôi để yêu mến Người.” Thử thách ấy kéo dài bốn năm. Với thầy, đó là một khoảng thời gian đau khổ vô cùng.
Nhưng kể từ đó, Thiên Chúa đã cho thầy bước vào một đời sống hoàn toàn tự do và vui tươi liên lỉ. Thầy đặt tội lỗi của mình trước Chúa, như nó đã từng và nói với Ngài rằng thầy đã bất xứng với ân huệ Chúa ban nhưng Thiên Chúa vẫn tiếp tục tuôn đổ trên thầy ân huệ dư tràn.
Để định hình một tập quán trò chuyện liên lỉ với Thiên Chúa, và quy hướng mọi việc về Ngài, ta phải khấn xin Chúa một chút chuyên cần. Khi ta chuyên chăm một thời gian, ta sẽ thấy tình yêu của Ngài từ bên trong thúc đẩy ta tìm đến Chúa một cách tự nhiên.
Thầy mong đợi rằng sau khi được Thiên Chúa ban cho những ngày dễ chịu thì tới lúc thầy cũng sẽ chịu tổn thương và đau khổ. Dù biết rõ điều đó, thầy cũng không hề lo lắng, vì thầy cũng chẳng thể tự mình làm gì. Bởi lẽ, Thiên Chúa sẽ ban cho thầy sức mạnh để chịu đựng điều đó.
Khi có cơ hội thực hành một nhân đức nào đó, thầy thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con không thể làm điều này nếu Chúa không thêm sức cho con.”
Và thầy nói rằng mỗi lần như vậy, thầy luôn nhận được ơn đủ và dư. Khi thầy lỗi bổn phận, thầy chỉ thú nhận với Thiên Chúa: “Lạy Chúa, nếu Chúa để con một mình, con sẽ chẳng bao giờ khá hơn được. Chính Chúa hãy giữ con khỏi ngã và sửa lại điều hư hỏng trong con.” Sau đó, thầy không để lòng mình băn khoăn nữa.
Thầy khuyên ta phải sống với Thiên Chúa trong sự đơn sơ tuyệt đối, nói với Ngài cách thẳng thắn, thân tình, xin Ngài trợ giúp trong mọi việc, dù nó như thế nào đi nữa. Thiên Chúa không bao giờ từ chối những lời khẩn cầu đơn sơ ấy, thầy đã nghiệm thấy biết bao lần.
Thầy kể rằng: Mới đây thầy được sai đi Burgundy để mua rượu cho nhà dòng, một nhiệm vụ mà thầy ngại đón nhận, vì thầy vốn không có khiếu buôn bán, đã vậy lại bị đau chân đến mức phải trườn mình qua các thùng rượu để di chuyển trong khoang thuyền. Nhưng thầy không lo lắng gì về sự bất tiện đó cũng như việc mua rượu. Thầy thưa với Chúa rằng đây chính là công việc của Chúa. Và cuối cùng mọi chuyện diễn tiến vô cùng suôn sẻ. Năm trước đó thầy cũng được sai đi Auvergne để làm việc tương tự. Thầy không biết mình xoay xở như thế nào, nhưng mọi thứ đã diễn ra rất tốt đẹp.
Cũng tương tự như thế với công việc bếp núc (điều mà thầy bình thường rất ngán ngẩm), thầy đã quen dần để làm mọi việc ở đó vì tình yêu Thiên Chúa. Và trong mọi hoàn cảnh, nhờ lời cầu nguyện, Thiên Chúa ban ân sủng cho thầy làm tốt mọi việc và quả thực, mọi sự đã trở nên dễ dàng trong suốt mười lăm năm thầy phục vụ tại đó.
Thầy rất hài lòng với bổn phận hiện tại, nhưng thầy cũng sẵn sàng từ bỏ nó như nhiệm vụ trước đây. Bởi lẽ thầy luôn tìm thấy sự thỏa lòng trong mọi hoàn cảnh, bằng cách làm những việc nhỏ bé vì lòng mến Chúa.
Với thầy, giờ cầu nguyện cũng chẳng khác gì giờ làm việc. Thầy lui về cầu nguyện theo sự sắp xếp của Bề trên, nhưng thầy không chủ ý tìm kiếm hay xin thêm giờ ấy, bởi lẽ ngay cả những công việc bận rộn nhất cũng chẳng thể tách thầy xa khỏi Chúa.
Thầy chia sẻ rằng: vì biết bổn phận của mình là yêu mến Chúa trong mọi sự, nên thầy không cần một người linh hướng dẫn dắt, nhưng thầy rất cần một cha giải tội để ban ơn tha thứ. Thầy ý thức rất rõ với những thiếu sót của mình nhưng không nản lòng. Thầy xưng thú với Thiên Chúa và không tìm cách biện minh. Khi đã xưng thú xong, thầy lại bình an và tiếp tục yêu mến và thờ phượng Người.
Thầy nói rằng trong những lúc khủng hoảng nội tâm, thầy chẳng hỏi ý kiến ai, mà chỉ nương theo ánh sáng đức tin rằng Thiên Chúa đang hiện diện. Thầy thỏa lòng với việc quy hướng mọi hành động về Thiên Chúa, và thực hiện chúng với ước ao làm đẹp lòng Người, mặc cho mọi sự ra sao thì ra.
Thầy khẳng định rằng những tư tưởng vô ích làm hư hỏng mọi sự; rắc rối bắt nguồn từ chính đó. Vì thế, ta phải gạt bỏ chúng ngay khi nhận thấy chúng chẳng dính dáng gì đến công việc đang làm hay ơn cứu độ của chúng ta, để quay về hiệp thông với Thiên Chúa.
Thuở ban đầu, thầy thường phải dành giờ cầu nguyện chỉ để xua đuổi những chia trí, rồi lại sa đà vào chúng. Thầy không thể rập khuôn lòng đạo đức của mình theo những phương pháp nhất định như người khác. Dù rằng lúc đầu thầy có thực hành suy niệm một thời gian, nhưng sau đó việc ấy tự nhiên dứt đi theo cách mà thầy cũng chẳng giải thích được tại sao.
Thầy cho rằng mọi việc hãm mình phạt xác hay các bài thực hành khác đều là vô ích, ngoại trừ việc chúng giúp ta kết hợp với Thiên Chúa qua tình yêu. Sau khi suy xét kỹ, thầy nhận ra con đường ngắn nhất để đến với Chúa chính là đi thẳng vào việc yêu mến Ngài và làm mọi sự vì Ngài.
Thầy nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt giữa hoạt động của trí tuệ và hoạt động của ý chí. Những hoạt động của trí tuệ có giá trị chẳng là bao, trong khi những hoạt động của ý chí mới là tất cả.
Bổn phận duy nhất của chúng ta là yêu mến và tìm thấy niềm vui trong Thiên Chúa.
Mọi việc hãm mình nếu thiếu vắng tình yêu thì chẳng thể tẩy xóa nổi một tội mọn. Đừng băn khoăn lo lắng, chúng ta hãy nương nhờ Bửu Huyết Chúa Giêsu Kitô để xin ơn tha thứ, và hãy chỉ nỗ lực yêu mến Người hết lòng. Thiên Chúa dường như ban đặc ân lớn lao cho những kẻ tội lỗi nhất, như một cách biểu lộ lòng thương xót của Ngài.
Những đau khổ hay lạc thú của thế gian chẳng thể nào sánh được với những gì thầy đã nghiệm thấy trong đời sống thiêng liêng. Thầy chẳng hề bối rối hay sợ hãi gì, chỉ ước ao một mình Thiên Chúa mà thôi, và sợ nhất là làm mất lòng Ngài.
Thầy chia sẻ thêm: Tôi chẳng sợ hãi khi thấy mình lỗi bổn phận. Tôi sẵn sàng nhận lỗi và thưa với Chúa rằng: Con vốn dĩ là thế; nếu Ngài để mặc con một mình, con sẽ chẳng bao giờ làm khác được. Còn nếu tôi không sa ngã, tôi tạ ơn Chúa vì biết rằng sức mạnh ấy đến từ Ngài.
* * * * *
CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ BA
* Đức tin hành động nhờ đức mến.
* Công việc bên ngoài không gây tổn hại.
* Sự phó thác trọn vẹn là con đường chắc chắn.
Thầy nói với tôi rằng nền tảng đời sống thiêng liêng của thầy là một ý thức cao cả và lòng tôn kính sâu xa đối với Thiên Chúa trong đức tin. Một khi đã thấu triệt điều ấy, thầy chẳng còn mối bận tâm nào khác ngoài việc trung thành gạt bỏ mọi tư tưởng không thuộc về Thiên Chúa, để có thể làm mọi sự chỉ vì lòng yêu mến Ngài. Đôi khi, dù không suy tưởng đến Thiên Chúa một hồi lâu, thầy cũng chẳng vì thế mà bối rối. Nhưng sau khi đã thú nhận sự khốn cùng của mình với Thiên Chúa, thầy quay lại với Ngài với lòng cậy trông còn mãnh liệt hơn, bởi thầy càng thấy mình khốn cùng vì đã lãng quên Chúa bao nhiêu, thì lại càng tín thác vào Ngài bấy nhiêu.
Lòng tín thác ta đặt nơi Thiên Chúa làm tôn vinh Ngài rất nhiều, và kéo xuống muôn vàn ân sủng. Thầy quả quyết rằng: Thiên Chúa chẳng thể nào lừa dối, và Ngài cũng chẳng nỡ để một linh hồn phải chịu đau khổ mãi, khi linh hồn ấy đã trọn vẹn phó thác và quyết tâm chịu đựng mọi sự vì Ngài.
Thầy kể rằng thầy đã bao lần nghiệm thấy sự trợ giúp kịp thời của ân sủng Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, đến nỗi từ những kinh nghiệm ấy, thầy chẳng còn bận tâm lo tính trước về những việc phải làm. Nhưng khi tới lúc hành động, thầy lại tìm thấy nơi Thiên Chúa, như thể soi vào một tấm gương trong ngần, tất cả những gì thầy cần phải thực hiện. Dạo gần đây, thầy thường hành động như vậy mà chẳng cần lo toan tính toán trước. Nhưng trước khi đạt thấu kinh nghiệm này, thầy đã từng phải lo toan hơn trong các công việc của mình.
Khi những công việc bên ngoài làm thầy có chút xao lãng khỏi việc nhớ đến Chúa, thì một sự nhắc nhớ mới mẻ từ chính Thiên Chúa lại ùa đến chiếm trọn linh hồn thầy, làm tâm hồn thầy rực cháy mãnh liệt đến nỗi khó lòng chứa nổi ngọn lửa ấy.
Ngay cả trong những công việc bên ngoài, thầy kết hợp với Thiên Chúa còn nhiều hơn là những lúc thầy lui về cầu nguyện riêng.
Thầy còn mong đợi sau này sẽ chịu những đau đớn lớn lao nơi thể xác hay tâm hồn. Điều tệ hại nhất có thể xảy đến, chính là đánh mất cảm thức về Thiên Chúa, điều mà nhờ đó thầy đã hưởng trọn niềm vui bền lâu. Nhưng sự tốt lành của Thiên Chúa bảo đảm với thầy rằng: Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi thầy hoàn toàn, và sẽ ban cho thầy sức mạnh để chịu đựng bất kỳ sự dữ nào Ngài cho phép xảy ra.
Vì thế, thầy chẳng sợ hãi chi, và cũng thấy không cần phải hỏi ai về tình trạng linh hồn mình. Bởi lẽ mỗi khi thử làm thế, thầy chỉ càng thấy bối rối hơn. Thầy ý thức rằng mình luôn sẵn sàng hy sinh mạng sống vì tình yêu Thiên Chúa, nên thầy chẳng nề chi hiểm nguy. Sự phó thác trọn vẹn cho Chúa là con đường chắc chắn dẫn về Thiên Đàng, một con đường mà ở đó ta luôn có đủ ánh sáng cho cuộc hành trình.
Thầy nói rằng: Để khởi đầu đời sống thiêng liêng, ta phải từ bỏ chính mình và trung thành chu toàn bổn phận. Sau đó sẽ là những niềm vui khôn tả; bởi vì trong những lúc gian nan, ta chỉ cần chạy đến nương nhờ Đức Giêsu Kitô và xin ân sủng nơi Người, thì mọi sự sẽ trở nên dễ dàng.
Thầy nhận định: Nhiều người không thăng tiến trên con đường nhân đức Kitô giáo, bởi vì họ chỉ chăm chăm vào việc sám hối và các thực hành đạo đức riêng rẽ, mà lại bỏ qua cùng đích là Tình Yêu Thiên Chúa. Điều này lộ rõ nơi chính các công việc của họ, và đó là lý do tại sao ta thấy có quá ít nhân đức vững bền.
Thầy khuyên: Chẳng cần đến nghệ thuật hay khoa học cao siêu nào để đến cùng Thiên Chúa; ta chỉ cần một trái tim quyết tâm gắn bó với Ngài, làm mọi sự chỉ vì Ngài và vì yêu mến Ngài mà thôi.
* * * * *
CUỘC ĐỐI THOẠI THỨ TƯ
* Con đường đến với Thiên Chúa.
* Sự từ bỏ trọn vẹn.
* Cầu nguyện và chúc tụng gìn giữ linh hồn khỏi chán nản.
* Thánh hóa các công việc thường ngày.
* Cầu nguyện và sự hiện diện của Thiên Chúa.
* Cốt lõi của đời sống đạo.
* Sự nhìn nhận chính mình.
* Thêm những kinh nghiệm riêng tư khác.
Rất nhiều lần, thầy trò chuyện với tôi bằng tấm lòng hoàn toàn cởi mở về con đường đến với Thiên Chúa, như tôi đã kể lại ở trên.
Thầy nói rằng: Tất cả cốt tại một điều duy nhất, đó là dứt khoát từ bỏ một cách chân thành mọi sự mà ta nhận thấy không dẫn ta đến cùng Thiên Chúa. Để từ đó, ta có thể tập cho mình thói quen trò chuyện liên lỉ với Ngài, trong sự tự do và giản dị. Ta chỉ cần nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện cách mật thiết với mình, rồi ngỏ lời với Ngài trong từng giây phút: để xin Ngài soi sáng thánh ý trong những việc còn hồ nghi; để thực hiện cho đúng đắn những điều ta thấy rõ Ngài đòi hỏi; và để dâng lên Ngài các việc trước khi làm, cũng như tạ ơn Ngài khi đã hoàn tất.
Trong cuộc tâm giao ấy với Thiên Chúa, ta cũng hãy không ngừng chúc tụng, thờ lạy và yêu mến Ngài vì lòng nhân hậu và sự trọn hảo vô cùng của Ngài.
Thầy khuyên: ta chớ nản lòng vì những lỗi phạm của mình, nhưng phải cầu xin ơn Ngài với lòng tín thác trọn vẹn, cậy dựa vào công nghiệp vô cùng của Đức Kitô. Thiên Chúa chẳng bao giờ từ chối ban ơn cho ta trong từng hành động. Thầy nghiệm thấy điều ấy rất rõ: Ngài chỉ không ban ơn khi tư tưởng thầy xao nhãng khỏi sự hiện diện của Ngài, hay khi thầy quên cầu xin sự trợ giúp của Ngài mà thôi.
Thiên Chúa không bao giờ ngừng ánh sáng trong những điều ta còn hồ nghi, miễn là ta không có ý định nào khác ngoài việc làm đẹp lòng Ngài.
Thầy khẳng định: việc thánh hóa bản thân không hệ tại ở việc thay đổi các việc làm, mà cốt ở chỗ: ta làm vì Thiên Chúa những điều mà người đời thường làm vì bản thân. Thật đáng thương khi thấy biết bao người lầm lẫn phương tiện với cứu cánh, cứ mải mê bám víu vào những việc đạo đức nào đó, mà lại thực hiện chúng một cách rất bất toàn, vì những động cơ nhân loại hay lòng vị kỷ.
Cách thế tuyệt hảo nhất mà thầy tìm được để đến với Thiên Chúa, là chu toàn các công việc thường ngày, không nhằm làm đẹp lòng người đời (x. Gl 1,10; Ep 6,5–6), mà là làm hết sức có thể hoàn toàn vì lòng yêu mến Thiên Chúa.
Thầy chia sẻ: thật là một ảo tưởng lớn khi cho rằng giờ cầu nguyện phải khác biệt với các giờ khác. Bởi lẽ, ta có bổn phận phải gắn bó với Thiên Chúa qua hành động trong giờ làm việc, cũng nghiêm ngặt hệt như qua việc cầu nguyện trong giờ cầu nguyện vậy.
Lời cầu nguyện của thầy chẳng là gì khác, ngoài cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa; khi ấy, linh hồn thầy chẳng còn cảm thấy điều gì khác, ngoại trừ Tình Yêu Thần Linh. Và khi những giờ cầu nguyện đã qua, thầy không thấy có gì khác biệt, bởi thầy vẫn tiếp tục ở lại với Thiên Chúa, chúc tụng và ngợi khen Ngài hết sức mình. Chính vì thế, thầy sống trọn đời trong niềm vui liên lỉ; dù thầy vẫn hy vọng rằng khi mình đã trở nên vững mạnh hơn, Thiên Chúa sẽ cho thầy được chịu chút đau khổ nào đó.
Thầy xác tín: một lần cho mãi mãi, ta phải đặt trọn niềm tín thác nơi Thiên Chúa và toàn hiến cho Ngài, với niềm xác tín rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ lừa dối ta. Ta chớ nản lòng khi làm những việc rất nhỏ bé vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Bởi lẽ, Thiên Chúa không xét giá trị công việc dựa trên vẻ lớn lao của nó, nhưng dựa trên tình yêu mà ta đặt vào đó. Ta cũng đừng ngạc nhiên nếu lúc đầu ta thường thất bại trong những cố gắng của mình. Bởi rồi đây, một thói quen sẽ được hình thành, và chính thói quen ấy sẽ khiến mọi hành động diễn ra một cách tự nhiên, chẳng cần ta phải gắng sức nhiều, mà lại đem đến niềm vui rất đỗi lớn lao.
Toàn bộ cốt lõi của đời sống đạo nằm trọn trong Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Nhờ thực hành ba nhân đức ấy, ta được kết hợp với thánh ý Thiên Chúa. Mọi sự khác đều là thứ yếu, và chỉ là phương tiện giúp ta đạt tới cứu cánh, để rồi nhờ Đức Tin và Đức Mến, ta được hòa mình trọn vẹn vào cứu cánh ấy.
Mọi sự đều có thể đối với người tin; mọi sự sẽ bớt khó khăn hơn đối với người cậy trông; mọi sự trở nên dễ dàng hơn với người yêu mến; và mọi sự càng dễ dàng hơn nữa với người biết kiên trì thực hành ba nhân đức ấy.
Thầy nói rằng: Mục đích cuối cùng ta phải đặt ra cho đời mình là trở nên những người thờ phượng Thiên Chúa cách trọn hảo nhất có thể ngay trong đời này, như ta vẫn hy vọng sẽ được như thế trong cõi vĩnh hằng.
Khi bước vào đời sống thiêng liêng, ta phải xét mình tận đáy lòng để nhận ra thực trạng tâm hồn của mình. Khi ấy, ta sẽ thấy mình xứng đáng chịu mọi sự khinh chê, và quả thật chẳng xứng đáng mang danh Kitô hữu. Ta là kẻ phải chịu đủ mọi cảnh khốn cùng và vô vàn biến cố; những điều luôn gây ra những thay đổi thất thường về sức khỏe, về tâm tính, cũng như về các trạng thái bên trong và bên ngoài của ta. Tóm lại, ta là những con người mà Thiên Chúa muốn làm cho khiêm nhường bằng nhiều đau khổ và lao nhọc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Sau khi nhận thức được điều ấy, ta sẽ chẳng còn ngạc nhiên khi gặp phải những thử thách, cám dỗ, hay những sự trái ý từ phía người đời. Trái lại, ta phải đón nhận và chịu đựng những điều ấy bao lâu Thiên Chúa muốn, và xem chúng như những điều rất hữu ích cho ta.
Linh hồn càng khao khát sự trọn lành bao nhiêu, thì càng phải lệ thuộc vào ân sủng Thiên Chúa bấy nhiêu.
Khi một người trong cộng đoàn, người mà thầy có bổn phận phải mở lòng, hỏi thầy rằng bằng cách nào thầy đã đạt tới một cảm thức thường xuyên về sự hiện diện của Thiên Chúa, thầy trả lời rằng: Ngay từ bước chân đầu tiên vào tu viện, thầy đã đặt Thiên Chúa làm Cứu Cánh của mọi tư tưởng và ước muốn, làm Đích Điểm mà tất cả phải quy hướng về và dừng lại nơi đó.
Trong thời gian tập viện, thầy đã tận dụng những giờ cầu nguyện riêng để hướng lòng về Thiên Chúa, hầu thuyết phục tâm trí và in sâu vào lòng sự hiện hữu của Đấng Thần Linh. Thầy làm điều này không bằng những suy lý trau chuốt hay những bài suy niệm cầu kỳ, nhưng bằng những tâm tình sốt sắng và sự quy phục dưới ánh sáng đức tin. Nhờ phương thế ngắn gọn và chắc chắn này, thầy tự luyện tập việc nhận biết và yêu mến Thiên Chúa. Thầy quyết tâm sống liên lỉ trong cảm thức về sự hiện diện của Ngài, và nếu có thể, chẳng bao giờ lãng quên Ngài nữa.
Thầy chia sẻ: Khi việc cầu nguyện đã giúp tâm trí thầy thấm nhuần những tâm tình cao cả về Đấng Vô Cùng, thầy đi vào làm công việc được giao trong bếp (vì thầy là người nấu ăn cho cộng đoàn). Tại đó, sau khi đã xem xét từng việc bổn phận đòi hỏi, việc nào phải làm, lúc nào và cách nào, thầy dành mọi khoảng thời gian trống, cả trước lẫn sau công việc, để cầu nguyện.
Khi bắt đầu công việc, thầy thưa với Thiên Chúa, với lòng tín thác của người con: “Lạy Thiên Chúa của con, vì Chúa đang ở cùng con, và giờ đây con phải vâng lệnh Chúa mà lo toan những việc bên ngoài này; con nài xin Chúa ban ơn để con vẫn được ở lại trong sự hiện diện thánh của Ngài. Xin Chúa giúp con chu toàn công việc này cho tốt đẹp; xin đón nhận mọi việc con làm, và ôm trọn mọi tâm tình của con.”
Trong khi làm việc, thầy tiếp tục cuộc trò chuyện thân tình với Đấng Tạo Hóa, nài xin ơn Ngài và dâng lên Ngài mọi hành động.
Khi đã xong việc, thầy xét mình xem đã chu toàn bổn phận ra sao: Nếu làm tốt, thầy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, nếu không, thầy xin Ngài tha thứ nhưng chẳng hề nản chí. Thầy điều chỉnh lại lòng mình, và tiếp tục thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa như thể mình chưa từng đi lạc khỏi Ngài. Thầy nói: “Chính nhờ biết đứng dậy sau những lần sa ngã, và nhờ những hành vi đức tin và đức mến được lặp đi lặp lại không ngừng, mà tôi đã đạt tới trạng thái này: Giờ đây, đối với tôi, việc không nghĩ đến Thiên Chúa còn khó khăn hơn nhiều so với việc phải tập nghĩ đến Ngài lúc ban đầu.
Vì Thầy Lawrence đã tìm được những lợi ích lớn lao khi bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, nên điều tự nhiên là thầy tha thiết khuyên người khác cũng sống như vậy. Tuy nhiên, gương sống của thầy còn thuyết phục hơn mọi lý lẽ mà thầy có thể đưa ra. Chính dung mạo của thầy đã là một lời giáo huấn, nơi đó toát ra một vẻ đạo đức dịu dàng và bình an, khiến những ai nhìn thấy không thể không xúc động. Người ta nhận xét rằng, ngay cả trong lúc công việc bếp núc hối hả nhất, thầy vẫn giữ được sự hồi tâm và hướng thượng. Thầy không bao giờ hấp tấp, cũng chẳng lười biếng; thầy làm mọi sự đúng lúc, với một sự điềm tĩnh và an hòa không gián đoạn. Và thầy nói: “Giờ làm việc đối với tôi không khác gì giờ cầu nguyện. Giữa những tiếng ồn ào, lanh canh trong nhà bếp, khi nhiều người cùng lúc gọi tôi vì những việc khác nhau, tôi vẫn gặp gỡ Thiên Chúa trong một sự bình an sâu thẳm, chẳng khác gì khi tôi quỳ gối trước Thánh Thể.”
* * * * *
THƯ THỨ NHẤT
*Về cách thức đạt tới cảm thức thường hằng về sự hiện diện của Thiên Chúa
Vì anh đã ao ước một cách quá thiết tha việc tôi chia sẻ cho anh phương thế mà tôi đã dùng để đạt tới cảm thức thường hằng về sự hiện diện của Thiên Chúa, điều mà Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, đã thương ban cho tôi, nên tôi phải thú thật rằng: Tôi đã rất khó khăn mới chiều theo lời nài xin của anh.
Và giờ đây, tôi viết những dòng này với một điều kiện duy nhất: Anh đừng cho bất cứ ai xem bức thư này. Bởi nếu tôi biết rằng anh sẽ để người khác đọc được, thì dù tôi có mong muốn cho sự thăng tiến thiêng liêng của anh đến đâu đi nữa, tôi cũng chẳng đời nào quyết định viết ra những điều này.
Những gì tôi có thể thuật lại cho anh là thế này:
Tôi đã tìm thấy trong nhiều cuốn sách vô vàn phương pháp khác nhau để đến cùng Thiên Chúa và thực hành đời sống thiêng liêng.
Nhưng tôi nghĩ rằng những điều ấy chỉ làm đầu óc tôi thêm rối rắm, hơn là giúp tôi đạt tới điều mình thực sự tìm kiếm; mà điều ấy chẳng là gì khác hơn là làm sao để trở nên hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.
Điều đó khiến tôi quyết tâm dâng trọn tất cả cho Đấng là Tất Cả.
Vì thế, sau khi đã phó dâng trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa, hầu đền bù phần nào những tội lỗi của mình, thì vì lòng yêu mến Ngài, tôi đã từ bỏ mọi sự không phải là Ngài. Và tôi bắt đầu sống như thể trên đời này chỉ còn có Ngài và tôi mà thôi.
Có lúc, tôi tự đặt mình trước mặt Ngài như một tội nhân nghèo hèn dưới chân vị Thẩm Phán. Lúc khác, tôi lại chiêm ngắm Ngài trong lòng mình như người Cha, như Thiên Chúa của tôi. Tôi thờ lạy Ngài nhiều nhất có thể, gìn giữ tâm trí ở lại trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài, và kéo nó quay về mỗi khi nhận ra nó đã lang thang xa Ngài.
Việc tập luyện này chẳng phải là không khó nhọc, tuy vậy, tôi vẫn kiên trì thực hành, bất chấp mọi khó khăn xảy đến, và không để lòng mình xao xuyến hay bối rối mỗi khi trí khôn vô tình xao lãng.
Tôi coi việc này là bổn phận chính yếu của mình, không chỉ trong những giờ cầu nguyện đã ấn định, mà là suốt cả ngày dài. Bởi trong mọi lúc, mọi giờ, mọi phút, ngay cả khi công việc bận rộn nhất, tôi đều xua đuổi khỏi tâm trí mọi điều có thể làm gián đoạn việc tưởng nhớ đến Thiên Chúa.
Đó là lối sống thường xuyên của tôi kể từ khi bước vào đời tu. Dẫu tôi đã thực hành điều ấy rất bất toàn, nhưng tôi vẫn nhận ra những ích lợi lớn lao phát sinh từ đó.
Tôi biết rất rõ rằng tất cả những điều ấy chỉ có thể quy về lòng thương xót và nhân hậu của Thiên Chúa, bởi vì không có Ngài, ta không thể làm được gì; huống hồ là tôi, kẻ kém cỏi hơn hết mọi người.
Nhưng khi ta trung thành giữ mình trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài, và luôn đặt Ngài trước mắt, thì điều ấy không những ngăn cản ta xúc phạm đến Ngài, giữ ta không cố ý làm phiền lòng Ngài, mà còn sinh ra trong ta một sự tự do thánh thiện.
Và nếu tôi được phép nói như vậy, thì đó như là một sự thân mật với Thiên Chúa, nhờ đó ta có thể khẩn xin và lãnh nhận cách hữu hiệu những ân huệ ta cần đến.
Sau cùng, nhờ lặp đi lặp lại những hành động ấy, chúng sẽ trở thành thói quen, và sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ trở nên gần như tự nhiên đối với ta.
Nếu anh vui lòng, xin cùng với tôi dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, vì lòng nhân hậu lớn lao Ngài dành cho tôi, điều mà tôi không bao giờ có thể chiêm ngắm cho đủ, trước muôn vàn ân huệ Ngài đã ban cho một kẻ tội lỗi khốn cùng như tôi.
Nguyện cho muôn loài chúc tụng Ngài. Amen.
* * * * *
THƯ THỨ HAI
* Sự khác biệt giữa con đường của thầy và người khác.
* Kiên vững trong đức tin đơn thuần.
* Không coi trạng thái này là ảo tưởng.
Vì tôi không tìm thấy lối sống của mình được mô tả trong sách vở, nên tuy bản thân không hề bối rối về điều ấy, nhưng để được vững dạ hơn, tôi vẫn ước mong biết được ý kiến của anh về chuyện này.
Trong một cuộc trò chuyện cách đây ít ngày với một người đạo đức, người ấy nói với tôi rằng đời sống thiêng liêng là một đời sống ân sủng. Nó khởi đầu từ nỗi sợ của kẻ làm tôi, được tăng trưởng nhờ niềm trông cậy vào sự sống đời đời, và đạt tới sự viên mãn trong tình yêu tinh tuyền. Mỗi giai đoạn ấy đều có những cung bậc khác nhau, để rồi sau hết, ta sẽ đạt tới sự viên mãn diễm phúc.
Tôi đã không theo trọn vẹn những phương thế ấy. Trái lại, bởi một thúc đẩy nào đó mà chính tôi cũng không rõ, tôi cảm thấy chúng làm tôi nản chí. Chính vì thế, khi vừa bước vào đời tu, tôi đã quyết tâm phó dâng trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa. Đây là cách đền bù tốt nhất tôi có thể dâng lên Ngài vì những tội lỗi của mình. Và vì lòng yêu mến Ngài, tôi đã từ bỏ mọi sự khác.
Trong những năm đầu, vào những giờ dành riêng cho việc cầu nguyện, tôi thường suy niệm về sự chết, sự phán xét, hỏa ngục, thiên đàng và về tội lỗi của mình. Tôi đã tiếp tục như thế trong vài năm. Nhưng trong những giờ còn lại trong ngày, và ngay cả giữa lúc làm việc, tôi cẩn thận hướng tâm trí về sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng mà tôi luôn coi là đang ở cùng tôi, và thường xuyên ở trong tôi.
Dần dần, tôi bắt đầu thực hành điều ấy một cách rất tự nhiên ngay cả trong giờ cầu nguyện đã định. Và điều đó đem lại cho tôi niềm an ủi cùng hoan lạc lớn lao. Việc thực hành này khơi dậy trong tôi lòng tôn kính sâu xa đối với Thiên Chúa, đến nỗi chỉ cần đức tin thôi cũng đủ làm tôi thỏa lòng. (Tôi hiểu ý thầy là: Mọi khái niệm cụ thể mà thầy có thể hình thành về Thiên Chúa đều không thỏa đáng, vì thầy nhận thấy chúng không xứng hợp với Ngài. Do đó, tâm trí thầy chỉ có thể được thỏa mãn nhờ cái nhìn của đức tin, thứ nắm bắt Thiên Chúa như Ngài là: vô biên và khôn dò, chứ không như con người có thể hình dung.)
Đó là những bước khởi đầu của tôi. Tuy nhiên, tôi phải thú thật với anh rằng: Trong mười năm đầu tiên, tôi đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ: nỗi lo sợ rằng mình chưa tận hiến cho Thiên Chúa được như lòng mong ước, ký ức về những tội lỗi trong quá khứ luôn hiện hữu trong tâm trí, và những ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã ban cho kẻ bất xứng này. Tất cả những điều ấy trở thành nguyên nhân và nguồn gốc cho những nỗi đau khổ của tôi. Trong thời gian ấy, tôi thường xuyên vấp ngã, nhưng cũng đứng dậy ngay lập tức. Tôi có cảm tưởng rằng mọi loài thụ tạo, lý trí, và cả chính Thiên Chúa đều chống lại tôi. Chỉ còn lại đức tin là đứng về phía tôi. Có lúc tôi bị dày vò bởi ý nghĩ rằng: Việc tin mình đã lãnh nhận những ân huệ như thế là do sự kiêu ngạo của mình, muốn đạt tới ngay lập tức cái đích mà người khác phải khó nhọc lắm mới tới được. Lúc khác, tôi lại nghĩ rằng tất cả chỉ là một ảo tưởng do mình tự suy diễn, và rằng tôi chẳng có phần rỗi đời đời.
Chính khi tôi nghĩ rằng mình sẽ phải kết thúc đời mình trong những dằn vặt ấy (những dằn vặt vốn không hề làm suy giảm lòng tín thác của tôi nơi Thiên Chúa, mà trái lại chỉ làm gia tăng đức tin của tôi), thì bỗng chốc, tôi thấy mình được biến đổi. Và linh hồn tôi, vốn bấy lâu bị xao động, nay cảm nghiệm được một sự bình an nội tâm sâu thẳm, như thể nó đã tìm được tâm điểm và nơi an nghỉ của mình.
Từ đó trở đi, tôi bước đi trước nhan Thiên Chúa trong sự đơn sơ, trong đức tin, với lòng khiêm nhường và yêu mến. Tôi ra sức không làm và không nghĩ đến bất cứ điều gì có thể làm phiền lòng Ngài. Tôi hy vọng rằng, sau khi tôi đã làm tất cả những gì có thể, Ngài sẽ tùy ý định liệu về tôi theo thánh ý Ngài.
Còn về tình trạng hiện nay của tôi, tôi không thể diễn tả được. Tôi không còn cảm thấy đau đớn hay khó khăn nào, bởi vì tôi không còn ý riêng nào khác ngoài thánh ý Thiên Chúa, ý mà tôi cố gắng thực hiện trong mọi sự. Tôi phó thác cho thánh ý đến mức tôi sẽ chẳng dám nhặt một cọng rơm nào khỏi mặt đất trái lệnh Ngài, hay vì bất cứ động cơ nào khác ngoài lòng yêu mến Ngài.
Tôi đã từ bỏ mọi hình thức đạo đức và những kinh nguyện ấn định, ngoại trừ những điều mà bậc sống của tôi buộc phải giữ. Và tôi chỉ coi một việc duy nhất là bổn phận của mình: kiên trì ở lại trong sự hiện diện thánh thiêng của Người. Tôi giữ mình ở đó bằng một sự chú tâm đơn sơ, và một cái nhìn yêu mến bao quát hướng về Thiên Chúa. Đó là điều mà tôi có thể gọi là sự hiện diện thực sự của Thiên Chúa, hay đúng hơn, một cuộc đối thoại âm thầm, kín đáo và thường hằng của linh hồn với Thiên Chúa. Cuộc đối thoại ấy thường đem lại cho tôi niềm vui và những lần xuất thần nội tâm lớn lao, và đôi khi cả bên ngoài nữa, đến nỗi tôi buộc phải tự kiềm chế, để chúng không lộ ra trước mặt người khác.
Tóm lại, tôi xác tín, không chút nghi ngờ, rằng linh hồn tôi đã ở với Thiên Chúa hơn ba mươi năm nay. Tôi bỏ qua nhiều điều để khỏi làm anh mệt mỏi, tuy nhiên, tôi nghĩ cũng nên cho anh biết cách tôi nhìn chính mình trước mặt Thiên Chúa, Đấng mà tôi chiêm ngắm như Vị Quân Vương của tôi.
Tôi xem mình là kẻ khốn cùng nhất trong loài người, đầy thương tích và hư nát, đã phạm đủ mọi thứ tội lỗi chống lại Vị Quân Vương của mình. Động lòng thống hối cách cảm nhận được, tôi xưng thú trước mặt Ngài mọi sự gian ác của mình, xin Ngài tha thứ, rồi phó mặc mình trong tay Ngài, để Ngài toàn quyền làm nơi tôi điều Ngài muốn. Còn Vị Quân Vương đầy lòng xót thương và nhân hậu, thì rất xa việc trừng phạt tôi, lại ôm lấy tôi trong tình yêu, cho tôi ngồi ăn tại bàn của Ngài, tự tay Ngài phục vụ tôi, trao cho tôi chìa khóa kho tàng của Ngài. Ngài trò chuyện và vui vầy với tôi không ngừng, bằng ngàn vạn cách, và đối xử với tôi như kẻ được Ngài yêu mến nhất. Chính như thế, tôi thường nhìn mình trước nhan Ngài trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài.
Cách thế thường xuyên nhất của tôi là sự chú tâm đơn sơ ấy, và một cái nhìn yêu mến mãnh liệt hướng về Thiên Chúa. Nơi đó, tôi cảm thấy mình được gắn bó với Người bằng một sự dịu ngọt và hoan lạc còn lớn hơn đứa trẻ bên bầu sữa mẹ. Vì thế, nếu tôi dám dùng lối nói ấy, tôi muốn gọi tình trạng này là cung lòng Thiên Chúa, vì sự ngọt ngào khôn tả mà tôi cảm nếm và kinh nghiệm nơi đó.
Nếu đôi khi, vì yếu đuối hay vì những đòi hỏi tất yếu, tư tưởng tôi xao lãng khỏi tình trạng ấy, thì tôi lập tức được kéo trở lại bởi những chuyển động nội tâm dịu dàng và ngọt ngào đến nỗi tôi xấu hổ không dám nói ra.
Tôi ước mong anh chú ý nhiều hơn đến sự khốn cùng lớn lao của tôi, điều mà anh đã biết rõ, hơn là đến những ân huệ lớn lao Thiên Chúa ban cho tôi, dù tôi hoàn toàn không xứng đáng và vô ơn.
Còn về những giờ cầu nguyện đã ấn định, đối với tôi, chúng chỉ là sự tiếp nối của cùng một việc thực hành ấy. Có lúc tôi coi mình như một tảng đá trước tay thợ điêu khắc, để ông ta tạc nên một pho tượng. Tôi dâng mình như thế trước mặt Thiên Chúa, và ước ao Người khắc ghi hình ảnh hoàn hảo của Ngài trong linh hồn tôi, và làm cho tôi nên giống Ngài hoàn toàn.
Có lúc khác, khi tôi cầu nguyện, tôi cảm thấy toàn bộ trí khôn và linh hồn mình được nâng lên, không do công sức hay cố gắng nào của tôi mà đã ở lại như được nâng lên, vững vàng gắn chặt với Thiên Chúa, như là trung tâm và chốn an nghỉ của mình.
Tôi biết rằng có người kết án tình trạng này là thụ động, là ảo tưởng, là tự yêu mình. Tôi thú nhận rằng đó là một sự thụ động thánh, và sẽ là một thứ tự yêu hạnh phúc, nếu linh hồn trong tình trạng ấy còn có khả năng yêu mình. Bởi thực ra, khi linh hồn ở trong sự an nghỉ ấy, nó không còn bị xáo trộn bởi những hành vi mà trước kia nó quen thực hiện, và vốn từng nâng đỡ nó, nhưng nay lại cản trở hơn là trợ giúp.
Tuy nhiên, tôi không thể chấp nhận việc gọi tình trạng này là ảo tưởng. Bởi linh hồn được hưởng nếm Thiên Chúa như thế chỉ ước muốn một mình Người mà thôi. Nếu điều ấy là ảo tưởng nơi tôi, thì phần còn lại thuộc về Thiên Chúa để sửa chữa. Xin Người làm nơi tôi điều Người muốn; tôi chỉ ước ao một mình Người, và được hoàn toàn hiến thuộc về Người.
Dẫu vậy, xin anh làm ơn gửi cho tôi ý kiến của anh, điều mà tôi luôn trân trọng. Vì tôi đặc biệt kính trọng anh, và tôi xin tự nhận mình là người anh em của anh trong Chúa chúng ta.
* * * * *
THƯ THỨ BA
*Gửi một người bạn là quân nhân, để khích lệ anh tín thác vào Thiên Chúa.
Chúng ta có một Thiên Chúa vô cùng nhân hậu, và Ngài biết rõ mọi nhu cầu của chúng ta. Tôi vẫn luôn nghĩ rằng Ngài sẽ để anh rơi vào cảnh cùng quẫn. Ngài sẽ đến vào thời điểm của Ngài, và vào lúc anh ít ngờ nhất. Vậy hãy cậy trông nơi Ngài hơn bao giờ hết và hãy cùng tôi dâng lời tạ ơn vì những ân huệ Ngài ban cho anh, đặc biệt là sự kiên cường và lòng nhẫn nại mà Ngài ban trong các thử thách của anh. Đó là dấu chỉ rõ ràng về việc Ngài chăm sóc anh. Vậy hãy tìm nơi Ngài niềm an ủi, và tạ ơn Ngài về mọi sự.
Tôi cũng khâm phục nghị lực và lòng can đảm của ông M. Thiên Chúa đã ban cho ông ấy một tâm tính tốt và một ý chí ngay lành. Tuy nhiên, nơi ông ấy vẫn còn vương vấn tinh thần thế gian, và nhiều nét bồng bột của tuổi trẻ. Tôi hy vọng rằng những thử thách mà Thiên Chúa gửi đến sẽ trở nên một phương dược hữu hiệu, giúp ông ấy trở về với chính mình. Đây là một cơ hội rất thích hợp để thúc đẩy ông ấy đặt trọn niềm tin nơi Đấng luôn đồng hành với ông ở khắp mọi nơi. Ước gì ông ấy nghĩ đến Thiên Chúa nhiều nhất có thể, nhất là trong những lúc nguy nan lớn lao nhất.
Chỉ cần nâng tâm hồn lên một chút cũng là đủ; chỉ cần một chút tưởng nhớ đến Thiên Chúa, một hành vi thờ lạy nội tâm, dù đang trên đường hành quân, tay cầm gươm giáo, thì những lời cầu nguyện ấy, tuy rất ngắn, vẫn vô cùng đẹp lòng Thiên Chúa.
Những điều ấy không hề làm suy giảm lòng can đảm của người lính trong cơn hiểm nguy, trái lại còn là sự củng cố tốt nhất.
Vậy xin anh hãy khuyên ông ấy nghĩ đến Thiên Chúa nhiều nhất có thể, và từng bước một thực hành thói quen nhỏ bé nhưng thánh thiện này. Chẳng ai hay biết điều đó, và cũng không có gì dễ dàng hơn việc lặp lại nhiều lần trong ngày những hành vi thờ lạy nội tâm đơn sơ ấy.
Nếu anh muốn, hãy đề nghị ông ấy, theo như tôi hướng dẫn, rằng hãy nghĩ đến Thiên Chúa nhiều nhất có thể. Điều ấy rất thích hợp và hết sức cần thiết cho một người lính, là người mỗi ngày đều phải đối mặt với nguy hiểm đến tính mạng, và thường là cả phần rỗi của mình nữa.
Tôi hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ trợ giúp ông ấy và cả gia đình. Tôi xin gửi lời kính thăm họ, và xin họ cùng với anh hãy nhận nơi tôi tấm lòng thân ái.
* * * * *
THƯ THỨ TƯ
*Viết về chính mình ở ngôi thứ ba, và khích lệ người nhận thư thăng tiến hơn trong việc thực hành sống sự hiện diện của Thiên Chúa.
Nhân dịp này, tôi muốn chia sẻ với anh những tâm tình của một người trong cộng đoàn chúng tôi, liên quan đến những hiệu quả kỳ diệu và sự trợ giúp liên lỉ mà người ấy lãnh nhận được nhờ sống trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Ước mong sao cả anh và tôi đều biết rút ra ích lợi từ những điều ấy.
Anh nên biết rằng: Mối bận tâm chính yếu của người ấy, suốt hơn bốn mươi năm sống trong đời tu, chỉ là luôn được ở cùng Thiên Chúa; không làm, không nói, và không nghĩ điều gì có thể làm phật lòng Ngài. Người ấy làm vậy không do động cơ nào khác ngoài một tình yêu tinh tuyền, và bởi lẽ Thiên Chúa vô cùng xứng đáng được như thế.
Giờ đây, người ấy đã rất quen thuộc với sự hiện diện thần linh ấy, đến nỗi trong mọi hoàn cảnh, người ấy luôn nhận được những trợ giúp không ngừng. Suốt khoảng ba mươi năm, linh hồn người ấy luôn tràn ngập những niềm vui liên lỉ, đôi khi mãnh liệt đến mức người ấy buộc phải tìm cách tiết chế, để những niềm vui ấy không bộc lộ ra bên ngoài.
Nếu đôi khi người ấy có lơ là sự hiện diện thần linh một chút, thì lập tức Thiên Chúa sẽ cho người ấy cảm nhận được sự hiện diện của Ngài trong linh hồn, để lôi kéo người ấy trở lại. Điều này thường xảy ra ngay khi người ấy đang vô cùng bận rộn với công việc bên ngoài. Người ấy đáp lại những thúc đẩy nội tâm ấy một cách trung tín và trọn vẹn: hoặc bằng việc nâng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa, hoặc bằng một ánh nhìn dịu dàng và yêu mến hướng về Ngài, hoặc bằng những lời nguyện tắt được thốt ra trong những dịp ấy. Chẳng hạn như:
“Lạy Thiên Chúa của con, này con đây, con hoàn toàn thuộc về Chúa.”
“Lạy Chúa, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa.”
Và rồi, đối với người ấy, dường như, và thực sự người ấy cảm nghiệm được rằng: Thiên Chúa của tình yêu, hài lòng với chỉ bấy nhiêu lời, lại tiếp tục an nghỉ nơi chốn thẳm sâu nhất trong linh hồn người ấy. Kinh nghiệm này đem lại cho người ấy một xác tín vững vàng rằng Thiên Chúa luôn hiện diện nơi chốn thẳm sâu của linh hồn mình; và khiến người ấy không còn chút nghi ngờ nào về điều ấy, bất kể trong hoàn cảnh nào.
Anh hãy thử suy xét xem niềm mãn nguyện và thỏa lòng mà người ấy đang hưởng nếm lớn lao dường nào, khi người ấy không ngừng tìm thấy trong chính mình một kho tàng vĩ đại như thế. Người ấy không còn phải lo lắng tìm kiếm nữa, vì kho tàng ấy luôn mở ra trước mặt, và người ấy có thể kín múc tùy ý.
Người ấy thường than phiền về sự mù quáng của mình, và thường thốt lên rằng: Ta thật đáng thương, vì chỉ bằng lòng với chút ít như thế! Người ấy nói: Thiên Chúa sở hữu những kho tàng vô tận để ban phát, còn ta thì lại bằng lòng với một chút sùng mộ thiên về cảm xúc, vốn qua đi trong chốc lát. Chính sự mù quáng ấy đã cản lối Thiên Chúa, và ngăn chặn dòng chảy ân sủng của Ngài. Nhưng khi gặp được một linh hồn thấm đượm đức tin sống động, Ngài tuôn đổ dồi dào ân sủng và lòng mến. Nơi ấy, ân sủng tuôn chảy như một dòng lũ, vốn đã bị chặn lại một cách cưỡng ép khỏi dòng chảy tự nhiên của mình; nhưng khi tìm được lối thoát, nó liền trào tràn một cách mạnh mẽ và phong phú.
Vâng, chính chúng ta thường ngăn chặn dòng chảy này, bằng cách coi thường giá trị của nó. Nhưng từ nay, ta đừng ngăn cản nó nữa: Hãy trở về với chính mình, và phá vỡ con đê đang cản trở nó. Hãy mở lối cho ân sủng, hãy chuộc lại thời gian đã mất, vì có lẽ chúng ta chỉ còn rất ít thời gian. Cái chết đang bám sát gót ta; hãy chuẩn bị kỹ lưỡng cho giờ ấy, bởi chúng ta chỉ chết có một lần, và một sai lầm ở đó là vô phương cứu chữa.
Tôi xin nhắc lại một lần nữa: Hãy trở về với chính mình. Thời giờ đang trôi nhanh, không còn chỗ cho sự chậm trễ; linh hồn ta đang đứng trước nguy cơ hư mất. Tôi tin rằng anh đã thực hiện những phương thế hữu hiệu, để giờ đây không còn phải ngỡ ngàng (khi cái chết đến). Tôi khen ngợi anh vì điều đó; đó là điều duy nhất cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta vẫn luôn phải tiếp tục nỗ lực, bởi vì trong đời sống thiêng liêng, không tiến tức là lùi. Nhưng những ai được làn gió của Chúa Thánh Thần thổi đi, thì ngay cả khi ngủ, họ vẫn đang tiến bước. Nếu con thuyền linh hồn ta còn đang bị gió bão quăng quật, thì hãy đánh thức Chúa. Đấng đang an nghỉ trong đó, và Người sẽ mau chóng làm cho biển lặng.
Tôi mạo muội chia sẻ với anh những tâm tình tốt lành này, để anh lấy đó mà soi mình. Chúng sẽ giúp thắp lên và nung nóng những tâm tình của anh, nếu chẳng may (điều mà Thiên Chúa không cho phép, vì nó thực sự là nỗi bất hạnh lớn) chúng bị nguội lạnh, dù chỉ một chút. Vậy thì, cả hai chúng ta hãy cùng nhau trở về với lòng nhiệt thành ban đầu. Hãy biết rút tỉa ích lợi từ gương sống và tâm tình của người anh em này, kẻ ít được thế gian biết đến, nhưng được Thiên Chúa biết rõ, và được Ngài hết mực yêu thương. Tôi sẽ cầu nguyện cho anh. Còn anh, ngay bây giờ, xin hãy cầu nguyện cho tôi, với tình thương mến trong Chúa chúng ta.
* * * * *
THƯ THỨ NĂM
* Cầu nguyện cho một nữ tu sắp tuyên khấn.
* Nhắc lại cách mới mẻ về sự cần thiết và giá trị của việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa.
Hôm nay, tôi nhận được hai cuốn sách và một lá thư của một nữ tu đang chuẩn bị tuyên khấn. Vì lý do đó, chị ấy xin lời cầu nguyện của cộng đoàn thánh thiện của anh, và của riêng anh. Tôi nhận thấy chị ấy đặt rất nhiều kỳ vọng vào những lời cầu nguyện đó; xin anh đừng để chị phải thất vọng. Hãy cầu xin Thiên Chúa ban cho chị ơn thực hiện hy lễ của mình chỉ vì tình yêu Ngài, và với một quyết tâm vững vàng là hiến dâng trọn vẹn cho Ngài.
Tôi sẽ gửi kèm cho anh một trong những cuốn sách nói về sự hiện diện của Thiên Chúa; một đề tài mà theo tôi, chứa đựng cốt lõi của đời sống thiêng liêng. Và tôi thấy rằng ai thực hành điều ấy cách xứng hợp, thì chẳng bao lâu sẽ trở nên một con người thiêng liêng thực thụ.
Tôi biết rằng để thực hành điều ấy cho đúng, thì trái tim phải trút bỏ mọi sự khác. Bởi vì Thiên Chúa muốn chiếm hữu trái tim ấy cho riêng Ngài. Và bởi lẽ Ngài không thể chiếm hữu trọn vẹn nếu ta không làm cho nó trống rỗng mọi sự khác; Ngài cũng không thể hành động và làm điều Ngài muốn nơi đó, nếu trái tim ấy không được dành một khoảng trống cho Ngài.
Trên thế giới này, không có một đời sống nào ngọt ngào và hoan lạc hơn một đời sống luôn trò chuyện liên lỉ với Thiên Chúa. Chỉ những ai thực hành và kinh nghiệm điều đó mới có thể hiểu được. Tuy nhiên, tôi không khuyên anh thực hành chỉ vì động cơ đó. Niềm an ủi không phải là điều ta phải tìm kiếm trong việc tập luyện này; nhưng hãy làm chỉ vì tình yêu, và bởi vì Thiên Chúa muốn ta làm như thế.
Nếu tôi là một nhà giảng thuyết, thì trên hết mọi điều khác, tôi sẽ rao giảng việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa; và nếu tôi là một nhà linh hướng, tôi sẽ khuyên tất cả mọi người thực hành điều ấy. Vì tôi nhận thấy điều ấy vừa cần thiết bậc nhất, lại vừa dễ dàng biết bao.
Ôi! Giá như chúng ta biết được mình cần đến ân sủng và sự trợ giúp của Thiên Chúa dường nào, thì chúng ta sẽ không bao giờ để Ngài khuất khỏi tầm mắt, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Xin anh tin tôi, hãy lập tức có một quyết tâm thánh thiện và vững chắc: Là từ nay không bao giờ cố ý quên Thiên Chúa nữa, và dành trọn phần đời còn lại để sống trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài; ngay cả khi, vì tình yêu và vì thấy điều đó là tốt, Ngài có tước đi mọi niềm an ủi nơi anh. Hãy làm việc này với cả tấm lòng. Và nếu anh thực hiện đúng như vậy, thì hãy vững tin rằng chẳng bao lâu nữa, anh sẽ nhìn thấy những hoa trái của nó.
Tôi sẽ hỗ trợ anh bằng những lời cầu nguyện của tôi, tuy rất nghèo nàn; và tôi cũng tha thiết phó thác chính mình cho lời cầu nguyện của anh, cùng lời cầu nguyện của cộng đoàn thánh thiện của anh.
* * * * *
THƯ THỨ SÁU
* Gửi một tu sĩ trong dòng, người đã nhận từ thầy một cuốn sách, và với người ấy thầy lại triển khai thêm đề tài quen thuộc của mình.
* Khích lệ sự bền đỗ
Tôi đã nhận được từ bà M. những vật mà anh nhờ bà gửi cho tôi. Tôi lấy làm lạ vì anh chưa cho tôi biết ý kiến của anh về cuốn sách nhỏ tôi đã gửi, mà hẳn anh đã nhận được rồi. Xin anh hãy đem hết lòng mình mà thực hành điều ấy, nhất là trong tuổi xế chiều của anh; bởi vì thà muộn còn hơn không.
Tôi không thể tưởng tượng được làm sao những người sống đời thánh hiến lại có thể bằng lòng sống mà không thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa. Về phần tôi, tôi gìn giữ mình ở lại với Ngài nơi chốn thẳm sâu của linh hồn nhiều nhất có thể; và khi tôi ở với Ngài như thế, tôi chẳng sợ gì cả. Nhưng chỉ cần quay đi khỏi Ngài dù chỉ một chút, tôi đã thấy không thể chịu nổi.
Việc tập luyện này không làm thân xác mệt nhọc bao nhiêu. Tuy nhiên, cũng rất thích hợp khi ta thường xuyên tự tách mình khỏi nhiều thú vui nhỏ,vốn vô hại và hợp luật. Bởi vì Thiên Chúa không cho phép một linh hồn, vốn ước ao hoàn toàn thuộc về Ngài, lại đi tìm kiếm những niềm an ủi nào khác ngoài Ngài. Điều đó có thể hiểu được.
Tôi không nói rằng vì thế ta phải gò ép bản thân một cách thái quá. Không. Ta phải phụng sự Thiên Chúa trong sự tự do thánh thiện. Ta phải chu toàn bổn phận của mình cách trung tín, không muộn phiền hay bối rối. Ta nhẹ nhàng kéo tâm trí mình trở lại với Thiên Chúa một cách an hoà, mỗi khi ta nhận ra nó đã lang thang xa rời Ngài.
Tuy nhiên, điều cần thiết là phải đặt trọn niềm tín thác nơi Thiên Chúa, gạt bỏ mọi mối bận tâm khác, và thậm chí tạm gác sang một bên một vài hình thức đạo đức riêng, tuy tự thân rất tốt, nhưng lại thường được thực hành một cách thiếu khôn ngoan. Bởi lẽ, những việc đạo đức ấy chỉ là phương tiện để đạt tới cứu cánh; nên khi nhờ việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa, ta đã ở với chính Ngài là cứu cánh của ta, thì việc quay lại với các phương tiện ấy trở nên không còn cần thiết nữa. Trái lại, ta có thể ở lại với Ngài trong sự hiệp thông tình yêu, kiên trì trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài: khi thì bằng một hành vi chúc tụng, thờ lạy, hay khao khát; khi thì bằng một hành vi phó thác, hay tạ ơn; và bằng mọi cách thế mà thần trí ta có thể nghĩ ra.
Xin anh đừng nản lòng trước sự kháng cự của bản tính tự nhiên trong việc này; anh phải biết chế ngự bản thân. Lúc ban đầu, người ta thường nghĩ rằng điều đó chỉ uổng phí thời gian. Nhưng anh phải tiếp tục, và quyết tâm kiên trì cho đến chết, bất chấp mọi bề khó khăn có thể xảy đến. Tôi tha thiết phó thác mình cho những lời cầu nguyện của cộng đoàn thánh thiện của anh, và của chính anh cách riêng. Xin gửi đến anh lòng trân quý trong Chúa chúng ta.
* * * * *
THƯ THỨ BẢY
*Ở tuổi gần tám mươi, thầy khuyên người nhận thư (sáu mươi bốn tuổi) hãy sống và chết với Thiên Chúa; hứa cầu nguyện và xin được cầu nguyện.
Tôi thương anh nhiều lắm. Sẽ là điều vô cùng hệ trọng, nếu anh có thể trao phó những việc đời của mình cho người khác, và dành trọn phần đời còn lại chỉ để thờ phượng Thiên Chúa. Ngài không đòi hỏi nơi ta những điều lớn lao: chỉ cần thỉnh thoảng có một chút tưởng nhớ đến Ngài, một chút thờ lạy; khi thì dâng lên Ngài một lời cầu xin ân sủng, lúc thì dâng lên Ngài những đau khổ anh đang chịu, hay đôi khi tạ ơn về những ân huệ Ngài đã và đang tuôn đổ trên anh ngay giữa những khó khăn. Và hãy tìm nơi Ngài niềm an ủi thường xuyên nhất có thể. Hãy nâng tâm hồn anh lên tới Ngài, ngay cả trong bữa ăn, và khi anh ở giữa đám đông: chỉ một chút tưởng nhớ nhỏ bé thôi cũng luôn đẹp lòng Ngài. Anh không cần phải kêu lớn tiếng vì Ngài ở gần chúng ta hơn ta tưởng.
Không cần phải luôn ở nhà thờ mới có thể ở với Thiên Chúa; ta có thể làm nên một nguyện đường trong chính trái tim mình, nơi ta thỉnh thoảng lui vào để trò chuyện với Ngài trong sự hiền hòa, khiêm nhường và yêu mến. Mọi người đều có khả năng sống cuộc trò chuyện thân tình ấy với Thiên Chúa, người thì nhiều hơn, người thì ít hơn: Ngài biết rõ những gì chúng ta có thể làm. Vậy chúng ta hãy bắt đầu. Có lẽ Ngài chỉ đang chờ một quyết tâm quảng đại nơi ta mà thôi. Hãy can đảm lên. Thời gian chúng ta sống chẳng còn bao lâu; anh đã gần sáu mươi bốn tuổi, còn tôi gần tám mươi. Chúng ta hãy sống và chết với Thiên Chúa. Khi chúng ta ở với Ngài, những đau khổ sẽ trở nên dịu ngọt và êm ái đối với chúng ta. Còn những vui thú lớn lao nhất, nếu không có Ngài, sẽ trở thành một hình phạt cay đắng cho chúng ta. Nguyện cho Ngài được chúc tụng trong mọi sự. Amen.
Vậy anh hãy tập dần dần thói quen thờ phượng Ngài như thế: cầu xin ơn Ngài, và thỉnh thoảng dâng lên Ngài tâm hồn anh ngay giữa những công việc của mình; nếu có thể, ngay trong từng khoảnh khắc. Đừng luôn quá câu nệ trong việc gò ép mình vào những quy tắc hay hình thức đạo đức riêng biệt; nhưng hãy hành động với niềm tín thác trọn vẹn nơi Thiên Chúa, trong tình yêu mến và sự khiêm nhường. Anh có thể tin chắc về những lời cầu nguyện hèn mọn của tôi cho họ, và rằng tôi là người phục vụ của họ, và cách riêng của anh.
* * * * *
THƯ THỨ TÁM
* Về những chia trí trong cầu nguyện
Những điều anh nói với tôi chẳng có gì là mới lạ cả: Anh không phải là người duy nhất gặp rắc rối với việc chia trí. Tâm trí chúng ta vốn dĩ rất dễ tản mác; nhưng vì ý chí là bà chủ của mọi quan năng nơi ta, nên chính nó phải triệu hồi tâm trí lại, và quy hướng về Thiên Chúa là cùng đích tối hậu của mình.
Bởi vì tâm trí đã không được rèn luyện nghiêm ngặt để hồi tâm ngay từ khi ta mới bước vào đời sống đạo đức, nên nó đã nhiễm phải thói quen xấu là hay chia trí. Những thói quen ấy rất khó vượt thắng và thường lôi kéo ta hướng về những điều trần tục, thậm chí trái với ý muốn của ta.
Tôi tin rằng một phương thế hữu hiệu để chữa trị là xưng thú những lỗi lầm của mình và khiêm tốn hạ mình xuống trước mặt Thiên Chúa. Tôi không khuyên anh dùng nhiều lời trong cầu nguyện; bởi việc nói nhiều và những bài diễn giải dài dòng thường là nguyên nhân làm trí khôn tản mác. Hãy giữ mình trước mặt Thiên Chúa trong cầu nguyện như một người nghèo câm lặng, hay một kẻ ăn xin trước cổng nhà phú hộ. Việc của anh là giữ tâm trí mình trong sự hiện diện của Thiên Chúa.
Nếu đôi khi anh chia trí và rời xa Ngài, thì đừng quá bối rối vì điều đó. Bởi sự xao xuyến và bối rối chỉ làm tâm trí tản mác thêm chứ không giúp nó tập trung lại được. Ý chí phải đưa nó trở về trong sự yên bình và tĩnh lặng. Nếu anh kiên trì thực hành như vậy, Thiên Chúa sẽ đoái thương anh.
Một phương thế để dễ dàng hồi tâm trong giờ cầu nguyện, và giữ cho tâm trí được an tĩnh hơn, là đừng để nó lang thang quá xa vào những lúc khác. Anh cần nghiêm cẩn gìn giữ tâm trí mình trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Và khi đã quen với việc tưởng nhớ đến Ngài thường xuyên, anh sẽ thấy dễ dàng giữ cho tâm trí bình an trong giờ cầu nguyện, hoặc ít nhất là dễ dàng kéo nó trở về từ những cơn chia trí.
Tôi đã nói với anh khá nhiều trong các thư trước về những lợi ích lớn lao mà ta có thể kín múc được từ việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy nghiêm túc thực hành điều ấy, và cầu nguyện cho nhau.
* * * * *
THƯ THỨ CHÍN
* Kèm theo một bức thư gửi cho một nữ tu quen biết, người mà thầy kính trọng và nể vì.
* Đề tài quen thuộc được trình bày vắn tắt.
Bức thư kèm theo đây là lời hồi đáp cho lá thư tôi đã nhận được từ chị…; xin anh vui lòng chuyển đến tay chị ấy. Tôi nhận thấy nơi chị ấy một thiện chí rất đáng quý; tuy nhiên, chị ấy dường như muốn tiến nhanh hơn ân sủng. Người ta không thể trở nên thánh chỉ trong một sớm một chiều.
Tôi phó thác chị ấy cho anh: chúng ta phải giúp đỡ nhau bằng lời khuyên bảo, và còn hơn thế nữa là bằng những tấm gương sáng đời sống. Xin anh thỉnh thoảng cho tôi biết tin về chị, và liệu chị có thật sự sốt sắng và vâng phục hay không.
Ta hãy thường xuyên tâm niệm rằng: công việc duy nhất của ta trong đời này là làm đẹp lòng Thiên Chúa, và có lẽ mọi sự khác chỉ là phù vân và hư ảo. Anh và tôi đã sống hơn bốn mươi năm trong đời tu. Phải chăng chúng ta đã dùng những năm tháng ấy để yêu mến và phụng sự Thiên Chúa, Đấng bởi lòng thương xót đã gọi chúng ta vào bậc sống này, đúng như mục đích đó? Về phần tôi, tôi đầy hổ thẹn và bối rối, khi một mặt nhìn lại những ân huệ lớn lao mà Thiên Chúa đã ban và vẫn không ngừng ban cho tôi; còn mặt khác lại nghĩ đến việc tôi đã sử dụng chúng một cách tồi tệ, và sự chậm tiến của tôi trên con đường trọn lành.
Vì bởi lòng thương xót, Ngài vẫn còn ban cho ta chút thời gian, thì hãy thực sự bắt đầu lại. Hãy chuộc lại thời giờ đã mất; hãy trở về với lòng tín thác trọn vẹn nơi Người Cha giàu lòng xót thương, Đấng luôn sẵn sàng đón nhận ta với tình yêu dịu dàng. Hãy từ bỏ, vâng, hãy quảng đại từ bỏ, vì lòng yêu mến Ngài, tất cả những gì không phải là chính Ngài; bởi lẽ Ngài xứng đáng hơn thế vô cùng. Hãy nghĩ đến Ngài luôn mãi. Hãy đặt trọn niềm tín thác nơi Ngài: tôi không nghi ngờ rằng chẳng bao lâu chúng ta sẽ thấy hoa trái của điều ấy, khi lãnh nhận sự phong phú của ân sủng Ngài. Với ân sủng ấy, ta có thể làm được mọi sự; còn nếu không, ta không thể làm gì khác ngoài phạm tội.
Ta không thể thoát khỏi những hiểm nguy vây quanh trong cuộc sống, nếu không có sự trợ giúp thực tế và liên lỉ của Thiên Chúa; vậy chúng ta hãy không ngừng cầu xin Ngài. Nhưng làm sao chúng ta có thể cầu nguyện với Ngài mà không ở với Ngài? Và làm sao ở với Ngài nếu không thường xuyên nghĩ đến Ngài? Và làm sao có thể thường xuyên nghĩ đến Ngài, nếu không tập cho mình một thói quen lành thánh? Anh sẽ bảo rằng tôi cứ lặp đi lặp lại mãi một điều. Đúng vậy, bởi vì đó là phương thế tốt nhất và dễ dàng nhất mà tôi biết. Và vì tôi không dùng phương thế nào khác, nên tôi khuyên tất cả mọi người thực hành điều ấy. Ta phải nhận biết trước khi có thể yêu mến. Để biết Thiên Chúa, ta phải thường xuyên nghĩ đến Ngài; và khi đã yêu mến Ngài, ta sẽ lại càng thường xuyên nghĩ đến Ngài, vì trái tim ta sẽ ở nơi kho tàng của mình. Đó là điều rất đáng để anh suy ngẫm.
* * * * *
THƯ THỨ MƯỜI
* Gặp khó khăn nhưng hy sinh ý riêng để viết theo ý nguyện.
* Việc mất một người bạn có thể dẫn đến việc gặp gỡ Người Bạn đích thực.
Tôi đã phải rất khó khăn để vượt thắng chính mình mà viết thư cho Ông…; và hôm nay tôi làm điều ấy chỉ vì anh và bà đã yêu cầu. Xin anh vui lòng viết lại những lời chỉ dẫn này và gửi cho ông ấy.
Tôi rất vui khi thấy lòng tín thác mà anh đặt nơi Thiên Chúa; tôi ước mong rằng Thiên Chúa sẽ làm cho lòng tín thác ấy ngày càng lớn lên nhiều hơn nơi anh. Không bao giờ là quá nhiều khi ta đặt trọn niềm tin nơi một Người Bạn tốt lành và tín trung như thế, Đấng không bao giờ bỏ rơi ta, cả trong đời này lẫn đời sau.
Nếu ông M. biết biến sự mất mát mà ông vừa trải qua thành điều có ích cho mình, và đặt trọn niềm tín thác nơi Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ sớm ban cho ông một người bạn khác, quyền năng hơn và sẵn lòng phục vụ ông hơn. Thiên Chúa xoay chuyển lòng người theo ý Ngài muốn.
Có lẽ ông M. đã quá gắn bó với người bạn đã mất. Ta phải yêu mến bạn hữu, nhưng không được để tình yêu ấy lấn át tình yêu dành cho Thiên Chúa, vốn phải là điều quan trọng nhất.
Hãy nhớ điều tôi đã khuyên anh, đó là hãy thường xuyên nghĩ về Thiên Chúa, cả ngày lẫn đêm, trong công việc và cả những lúc giải trí. Ngài luôn ở gần anh và với anh; đừng bỏ mặc Ngài một mình. Anh sẽ thấy thật bất lịch sự nếu bỏ mặc một người bạn đến thăm mình: vậy tại sao lại phải bỏ mặc Thiên Chúa? Đừng quên Ngài, mà hãy thường xuyên nghĩ về Ngài, tôn thờ Ngài không ngừng, sống và chết cùng Ngài; đó là công việc vinh hiển của một người Kitô hữu; nói tóm lại, đó là đức tin của chúng ta, nếu chúng ta không biết điều đó thì chúng ta phải học hỏi. Tôi sẽ cố gắng trợ giúp anh bằng những lời cầu nguyện của tôi, và tôi thuộc về anh chị em trong Chúa.
* * * * *
THƯ THỨ MƯỜI MỘT
* Gửi cho một người đang chịu nhiều đau đớn.
* Thiên Chúa là Thầy Thuốc của thân xác và linh hồn.
* Thầy cảm thấy mình sẵn lòng chịu đau khổ nếu đó là ý Ngài.
Tôi không cầu xin cho anh được thoát khỏi những đau đớn của mình; nhưng tôi tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban cho anh sức mạnh và lòng kiên nhẫn để chịu đựng chúng bao lâu Ngài muốn. Hãy tìm nguồn an ủi nơi Ngài, Đấng đang giữ anh gắn chặt vào thập giá: khi Ngài thấy là thời điểm thích hợp, Ngài sẽ tháo gỡ anh ra. Hạnh phúc thay những ai cùng chịu đau khổ với Ngài! Hãy tập quen với việc chịu đau khổ theo cách ấy, và hãy tìm nơi Ngài sức mạnh để chịu đựng bao nhiêu và bao lâu Ngài xét là cần thiết cho anh.
Những người thuộc thế gian không hiểu được những chân lý này, và điều đó cũng chẳng có gì lạ; bởi họ gánh chịu đau khổ với tâm thế của người đời, chứ không mang tâm thế của một Kitô hữu. Họ coi bệnh tật chỉ là nỗi đau của bản tính tự nhiên, chứ không phải một ân huệ đến từ Thiên Chúa; và vì chỉ nhìn nó qua lăng kính ấy, nên họ chẳng thấy trong đó gì khác ngoài buồn sầu và sầu não. Nhưng những ai coi bệnh tật như đến từ tay Thiên Chúa, như hoa trái của lòng thương xót của Ngài, và như phương thế Ngài dùng để cứu độ họ, thì thường tìm thấy trong đó một sự ngọt ngào lớn lao và những niềm an ủi cảm nhận được.
Tôi ước gì anh có thể xác tín rằng Thiên Chúa thường (theo một nghĩa nào đó) ở gần chúng ta hơn, và hiện diện một cách sống động hơn với chúng ta trong lúc đau bệnh so với khi khỏe mạnh. Đừng cậy dựa vào một vị thầy thuốc nào khác; bởi theo nhận định của tôi, Thiên Chúa muốn giữ việc chữa lành của anh cho riêng Ngài. Vậy hãy đặt trọn niềm tín thác nơi Ngài, và anh sẽ sớm thấy được hiệu quả của điều ấy khi được hồi phục. Nhiều khi, chính ta lại làm chậm quá trình hồi phục ấy, chỉ vì ta đặt lòng tin nơi thuốc men nhiều hơn là nơi Thiên Chúa.
Dù anh có dùng bất cứ phương thuốc nào, chúng cũng chỉ có hiệu quả trong mức độ Ngài cho phép. Khi những đau đớn đến từ Thiên Chúa, chỉ một mình Ngài mới có thể chữa lành chúng. Ngài thường gửi đến những căn bệnh của thể xác, để chữa lành những căn bệnh của linh hồn. Hãy tìm niềm an ủi nơi Vị Lương Y tối cao của cả linh hồn và thân xác.
Tôi biết trước là anh sẽ nói với tôi rằng tôi đang vô cùng hạnh phúc, rằng tôi đang được ăn uống nơi bàn tiệc của ĐỨC CHÚA. Anh có lý. Nhưng anh thử nghĩ xem: đối với kẻ tội phạm lớn nhất trên đời, việc được ngồi ăn nơi bàn của nhà vua, lại còn được chính Ngài phục vụ, mà dẫu nhận được những đặc ân như thế vẫn không có gì bảo đảm rằng mình đã được tha thứ; thì đó chẳng phải là một nỗi khổ tâm nhỏ bé đâu, đúng không? Tôi tin rằng người ấy sẽ cảm thấy một nỗi bất an sâu xa mà không gì có thể làm dịu đi được, ngoại trừ lòng tín thác vào sự nhân từ của vị quân vương mình. Vì thế, tôi xin đoan chắc với anh rằng: dù tôi có nếm hưởng bao nhiêu niềm hoan lạc nơi bàn tiệc của Đức Vua của tôi, thì những tội lỗi của tôi, vốn luôn hiện diện ngay trước mắt, cùng với sự bất định về ơn tha thứ, vẫn luôn dằn vặt tôi; dẫu rằng, quả thực, chính sự dằn vặt ấy lại mang một nỗi dịu ngọt riêng.
Hãy bằng lòng với tình cảnh mà Thiên Chúa đã đặt để nơi anh. Dù anh có nghĩ rằng tôi hạnh phúc đến đâu đi nữa, tôi vẫn ghen tị với anh. Những đau đớn và thử thách sẽ là thiên đàng đối với tôi, nếu tôi được chịu chúng cùng với Thiên Chúa. Còn những vui thú lớn lao nhất sẽ là hỏa ngục đối với tôi, nếu tôi nếm hưởng chúng mà không có Ngài. Tôi tìm thấy trọn vẹn sự an ủi khi được chịu một điều gì đó vì lòng yêu mến Ngài.
Chắc chắn, ít lâu nữa tôi sẽ đi về cùng Thiên Chúa. Điều an ủi tôi trong đời này là nhờ đức tin mà tôi nhìn thấy Ngài. Và tôi thấy Ngài theo cách mà đôi khi tôi có thể thốt lên rằng: Tôi không còn tin nữa, nhưng tôi thấy. Tôi cảm nghiệm được những điều mà đức tin dạy chúng ta; và trong sự xác tín cùng việc thực hành đức tin ấy, tôi sẽ sống và chết với Ngài.
Vậy anh hãy luôn ở lại với Thiên Chúa: đó là nguồn nâng đỡ và an ủi duy nhất trong cơn thử thách của anh. Tôi sẽ khẩn xin Ngài ở cùng anh. Sẵn lòng phục vụ anh!
* * * * *
THƯ THỨ MƯỜI HAI
* Có thể được gửi cho cùng một người.
* Thầy bày tỏ niềm an ủi bền vững của mình nhờ đức tin.
Nếu chúng ta làm quen với việc thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa một cách trọn hảo, thì nhờ đó, mọi đau yếu phần xác sẽ được làm dịu đi rất nhiều. Thiên Chúa thường cho phép chúng ta chịu đau khổ đôi chút để thanh luyện linh hồn chúng ta, và thúc đẩy chúng ta tiếp tục ở lại với Ngài.
Hãy can đảm lên, không ngừng dâng những đau đớn của anh lên Ngài, và cầu xin Ngài ban sức mạnh để chịu đựng chúng. Trên hết, hãy tập cho mình thói quen thường xuyên trò chuyện với Thiên Chúa, và cố gắng càng ít lãng quên Ngài càng tốt. Hãy thờ lạy Ngài trong những cơn đau yếu của anh, thường xuyên dâng hiến bản thân cho Ngài. Và ngay giữa những cơn đau cùng cực, hãy khiêm tốn và trìu mến khẩn cầu Ngài — như thưa chuyện với Người Cha của mình — xin Ngài uốn nắn anh theo Thánh ý Ngài. Tôi sẽ cố gắng nâng đỡ anh bằng những lời cầu nguyện nghèo nàn của tôi.
Thiên Chúa có nhiều cách để kéo chúng ta đến gần Ngài. Đôi khi Ngài ẩn mình khỏi ta; nhưng chỉ duy đức tin, thứ sẽ không bao giờ bỏ rơi ta trong lúc cần thiết, phải là điểm tựa và là nền tảng cho sự tự tin của chúng ta, sự tự tin này phải hoàn toàn đặt nơi Chúa.
Tôi không biết Thiên Chúa sẽ định liệu về tôi thế nào: nhưng tôi luôn luôn hạnh phúc. Cả thế gian đều đau khổ; còn tôi, kẻ đáng ra phải chịu những hình phạt nghiêm khắc nhất, lại cảm thấy những niềm vui liên lỉ và lớn lao đến nỗi tôi hầu như không thể chứa đựng cho xuể.
Tôi sẵn lòng xin Thiên Chúa cho tôi được chia sẻ một phần đau khổ của anh. Nhưng tôi biết sự yếu đuối của bản thân là quá lớn; lớn đến nỗi nếu Ngài rời bỏ tôi dù chỉ trong một khoảnh khắc thôi, tôi sẽ trở thành kẻ khốn khổ nhất trên đời.
Tuy nhiên, tôi chẳng thể mường tượng được làm sao Ngài có thể bỏ mặc tôi một mình được; bởi đức tin ban cho tôi một xác tín mạnh mẽ rằng: Ngài không bao giờ bỏ rơi ta, trừ phi ta đã rời bỏ Ngài trước.
Vậy, chúng ta hãy sợ việc lìa bỏ Ngài. Hãy luôn ở với Ngài. Hãy sống và chết trong sự hiện diện của Ngài. Xin anh hãy cầu nguyện cho tôi, như tôi vẫn hằng cầu nguyện cho anh.
* * * * *
THƯ THỨ MƯỜI BA
* Cũng gửi cho người ấy; thầy khuyên hãy đặt niềm tín thác đầy đủ và trọn vẹn hơn nơi Thiên Chúa, cho cả hồn lẫn xác.
Tôi rất đau lòng khi thấy anh phải chịu đựng đau khổ quá lâu; điều duy nhất mang lại cho tôi chút nhẹ nhõm, và làm vơi đi phần nào nỗi xót xa trước những đau đớn của anh, là vì chúng chính là những bằng chứng về tình yêu Thiên Chúa dành cho anh. Hãy nhìn nhận chúng qua lăng kính ấy, và anh sẽ gánh chịu mọi sự một cách dễ dàng hơn.
Dựa theo tình cảnh hiện tại của anh, tôi nghĩ rằng anh nên ngưng cậy dựa vào những phương thuốc của người đời, và hãy phó mặc bản thân hoàn toàn cho sự quan phòng của Thiên Chúa. Có lẽ Ngài chỉ đang chờ đợi nơi anh một sự phó thác và niềm tin tưởng trọn vẹn để ban ơn chữa lành.
Bởi lẽ, mặc cho mọi nỗ lực lo liệu của anh, thuốc men cho đến nay vẫn không mang lại kết quả, và bệnh tình thì ngày một gia tăng. Vậy thì, việc phó thác mình trong tay Thiên Chúa và trông đợi mọi sự nơi Ngài hoàn toàn không phải là đang thử thách Thiên Chúa đâu.
Tôi đã nói với anh trong thư trước rằng: Thiên Chúa đôi khi cho phép bệnh tật phần xác để chữa lành những căn bệnh của linh hồn. Vậy hãy can đảm lên: hãy biến điều bắt buộc thành nhân đức. Hãy xin Thiên Chúa, không phải cho được thoát khỏi đau đớn, nhưng xin ơn sức mạnh để kiên tâm chịu đựng vì lòng yêu mến Ngài, mọi điều Ngài muốn, và trong bao lâu Ngài muốn.
Quả thật, những lời cầu xin như thế hơi ngược với bản tính tự nhiên, nhưng lại được Chúa đón nhận nhiều nhất, và vô cùng dịu ngọt đối với những ai yêu mến Ngài. Tình yêu làm cho đau khổ trở nên ngọt dịu; và khi một người yêu mến Thiên Chúa, họ sẽ chịu đau khổ vì Ngài với niềm vui và lòng can đảm.
Xin anh hãy làm như thế, hãy tìm nơi Ngài niềm an ủi, vì Ngài là Vị Lương Y duy nhất cho mọi tật bệnh của chúng ta.
Ngài là Cha của những kẻ sầu khổ, luôn sẵn sàng nâng đỡ ta. Ngài yêu thương ta vô ngần, vượt quá mọi điều ta có thể tưởng tượng. Vậy hãy yêu mến Ngài, và đừng tìm nguồn an ủi ở nơi nào khác: tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa anh sẽ lãnh nhận được sự an ủi ấy.
Tạm biệt. Tôi sẽ nâng đỡ anh bằng những lời cầu nguyện của tôi, dẫu cho chúng thật hèn mọn; và sẽ mãi mãi sẵn lòng phục vụ anh trong Đức Chúa chúng ta.
* * * * *
THƯ THỨ MƯỜI BỐN
* Tạ ơn vì lòng thương xót Chúa ban cho người nhận thư; và nói về sự thuyên giảm mà chính thầy trải nghiệm khi gần kề cái chết, cùng niềm an ủi giữa muôn vàn đau khổ.
Tôi dâng lời tạ ơn Đức Chúa chúng ta, vì Ngài đã cho anh được thuyên giảm phần nào, đúng như điều anh ước mong. Còn tôi, đã nhiều lần tôi tưởng chừng như sắp tắt thở, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy mãn nguyện đến thế như trong chính những khoảnh khắc ấy. Vì thế, tôi không cầu xin cho được giảm nhẹ, nhưng chỉ cầu xin ơn sức mạnh để gánh chịu đau khổ với lòng can đảm, sự khiêm nhường và tình yêu mến.
Ôi, ngọt ngào biết bao khi được đau khổ cùng với Thiên Chúa! Dù đau khổ có lớn lao đến đâu, hãy đón nhận chúng trong lòng mến. Bởi lẽ, được gánh chịu đau khổ cùng Ngài thì chính là thiên đàng rồi. Nên nếu trong đời này, ta muốn được nếm hưởng trước sự bình an của thiên đàng, thì chúng ta phải tập cho mình một cuộc trò chuyện thân tình, khiêm nhu và trìu mến với Ngài.
Ta phải giữ gìn để tâm hồn không tản mác xa rời Ngài trong bất cứ dịp nào. Ta phải biến trái tim mình trở nên một đền thờ thiêng liêng, nơi ta không ngừng thờ lạy Ngài. Ta phải luôn canh chừng chính mình, để không làm, không nói, hay không suy nghĩ điều gì có thể làm phiền lòng Ngài. Khi tâm trí ta được lấp đầy bởi Thiên Chúa như thế, thì đau khổ sẽ trở nên chan chứa dầu thơm và niềm an ủi.
Tôi biết rằng để đạt tới trạng thái ấy, lúc ban đầu sẽ rất khó khăn, bởi ta phải hành động hoàn toàn nhờ đức tin. Nhưng dẫu khó khăn, ta cũng biết rằng nhờ ân sủng Thiên Chúa, ta có thể làm được mọi sự; và Ngài không bao giờ từ chối ban ân sủng ấy cho những ai tha thiết khẩn cầu. Hãy gõ cửa, hãy kiên trì gõ cửa, và tôi dám đoan chắc với anh rằng đến thời điểm Ngài định, Ngài sẽ mở cửa cho anh, và ban cho anh trong một lần duy nhất tất cả những gì Ngài đã trì hoãn suốt bao năm qua.
Tạm biệt. Xin anh cầu xin Ngài cho tôi, như tôi vẫn hằng cầu xin Ngài cho anh. Tôi hy vọng chẳng bao lâu nữa sẽ được diện kiến Ngài.
* * * * *
THƯ THỨ MƯỜI LĂM
* Viết từ trên giường hấp hối.
* Lặp lại lời khuyên về việc nhận biết Thiên Chúa để yêu mến Ngài.
Thiên Chúa biết rõ nhất những gì là cần thiết cho chúng ta, và mọi sự Ngài thực hiện đều vì lợi ích của ta. Nếu hiểu được Người yêu thương chúng ta dường nào, hẳn chúng ta sẽ luôn sẵn sàng đón nhận từ tay Người, với cùng một tâm tình bình an và phó thác, cả những điều ngọt ngào lẫn cay đắng; vì mọi sự đến từ Người đều đáng quý đối với chúng ta.
Những đau khổ nặng nề nhất chỉ trở nên không thể chịu đựng nổi khi ta nhìn nhận chúng qua lăng kính sai lệch. Nhưng khi ta nhận ra chúng nằm trong tay Thiên Chúa, Đấng phân phát chúng, và khi ta biết rằng chính Người Cha đầy yêu thương của ta đang để ta phải chịu thử thách và khốn khó; thì những đau khổ của ta sẽ mất đi vị cay đắng, và thậm chí còn trở nên nguồn an ủi.
Ước chi toàn tâm toàn ý của ta chỉ hướng về việc nhận biết Thiên Chúa: càng biết Ngài, người ta càng khao khát được biết Ngài hơn nữa. Và vì sự hiểu biết thường là thước đo của tình yêu, nên sự hiểu biết của ta càng sâu xa và rộng lớn bao nhiêu, thì tình yêu của ta càng lớn lao bấy nhiêu. Và nếu lòng yêu mến Thiên Chúa nơi ta đủ mạnh mẽ, thì ta sẽ yêu mến Ngài trong đau khổ cũng như trong vui sướng, thảy đều như nhau.
Chúng ta đừng để mình bị cuốn hút vào việc tìm kiếm hay yêu mến Thiên Chúa chỉ vì những ơn huệ cảm nhận được (dù chúng có cao siêu đến đâu) mà Ngài đã hoặc có thể ban cho ta. Những ơn huệ ấy, dù lớn lao đến mấy, cũng không thể đưa chúng ta đến gần Thiên Chúa bằng một hành vi đức tin đơn sơ.
Chúng ta hãy thường xuyên tìm kiếm Ngài bằng đức tin: Ngài ở ngay trong chính chúng ta, đừng tìm Ngài ở nơi nào khác. Ta há chẳng thô lỗ và đáng trách sao, nếu chúng ta bỏ mặc Ngài ở đó một mình, còn bản thân thì bận bịu với những chuyện nhỏ nhặt, những chuyện không đẹp lòng Ngài, và có lẽ còn xúc phạm đến Ngài nữa? Ta phải biết sợ rằng, một ngày kia những chuyện nhỏ nhặt ấy sẽ khiến chúng ta phải trả giá đắt.
Vậy ta hãy nghiêm túc bắt đầu dâng mình trọn vẹn cho Ngài. Hãy tháo gỡ khỏi trái tim mình mọi vướng bận khác. Ngài muốn chiếm trọn trái tim ấy cho riêng Ngài. Hãy cầu xin Ngài ban cho chúng ta ân huệ ấy. Nếu phần ta làm trọn những gì mình có thể, thì chúng ta sẽ sớm thấy nơi mình một sự đổi thay mà chúng ta hằng khao khát.
Tôi không thể tạ ơn Ngài cho đủ vì sự thuyên giảm mà Ngài đã đoái thương ban cho anh. Tôi hy vọng, nhờ lòng thương xót của Ngài, tôi sẽ nhận được một ân huệ là được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Ngài trong ít ngày tới. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau.
[Hai ngày sau, thầy phải nằm liệt giường, và qua đời trong tuần ấy.]
Nguồn: hdgmvietnam.com/
—————–
[1] Người dịch: Friends – một nhóm Tin lành