spot_img
Thêm

     CN 4 PS. Chúa Nhật Chúa Chiên Lành

    BÀI ĐỌC I: Cv 2, 14a. 36-41

    Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: “Xin toàn thể nhà Israel hãy nhận biết chắc rằng: Thiên Chúa đã tôn Đức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Đấng Kitô”.

    Nghe những lời nói trên, họ đau đớn trong lòng, nói cùng Phêrô và các Tông đồ khác rằng: “Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?” Phêrô nói với họ: “Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người trong anh em hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần. Vì chưng, đó là lời hứa cho anh em, con cái anh em, và mọi người sống ở phương xa mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi đến”. Phêrô còn minh chứng bằng nhiều lời khác nữa, và khuyên bảo họ mà rằng: “Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này”. Vậy những kẻ chấp nhận lời ngài giảng, đều chịu phép rửa, và ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo.

    BÀI ĐỌC II: 1 Pr 2, 20b-25

    Anh em thân mến, khi làm việc lành, nếu anh em phải nhẫn nhục chịu đau khổ, đó mới là ân phúc trước mặt Thiên Chúa. Anh em được gọi làm việc đó, vì Đức Kitô đã chịu đau khổ cho chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người. Người là Đấng không hề phạm tội, và nơi miệng Người không thấy điều gian trá. Bị phỉ báng, Người không phỉ báng lại; bị hành hạ, Người không ngăm đe; Người phó mình cho Đấng xét xử công minh; chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống cho sự công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành. Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.

    PHÚC ÂM: Ga 10, 1-10

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ”. Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào”.

    Suy Niệm 1: CHÚA CHĂN NUÔI TÔI, TÔI CHẲNG THIẾU THỐN CHI

    -“Thiên Chúa đã tôn Ðức Giêsu mà anh em đã đóng đinh, lên làm Chúa và làm Ðấng Kitô”.
    -“Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?”
    -“Anh em hãy ăn năn sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Ðức Giêsu Kitô để được tha tội; và anh em nhận lãnh ơn Thánh Thần”.
    Mẩu thoại này trong Bài đọc sách Công vụ cho thấy hiệu năng đầy khích lệ của việc rao giảng thuở ban đầu. Trình thuật còn cho biết rằng ngày hôm ấy có thêm chừng ba ngàn người gia nhập đạo (x. Cv 2,14a.36-41).
    Cộng đoàn tín hữu, tức đoàn chiên của Chúa, đã hình thành và tăng số khá nhanh. Họ kinh nghiệm gì? Thánh vịnh 22 (Đáp ca) nói lên kinh nghiệm của đoàn chiên Chúa. Họ cảm nghiệm tình thương và sự chăm sóc ân cần của Chúa:
    “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi; trên đồng cỏ xanh rì, Người thả tôi nằm nghỉ. Tới nguồn nước, chỗ nghỉ ngơi, Người hướng dẫn tôi; tâm hồn tôi, Người lo bồi dưỡng. Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, sở dĩ vì uy danh Người… Dù bước đi trong thung lũng tối, con không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng con… Chúa dọn ra cho con mâm cỗ ngay trước mặt những kẻ đối phương; đầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa… Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài”…
    Một kinh nghiệm tuyệt vời! Càng tuyệt vời hơn nữa khi hình ảnh vị Mục Tử tốt lành là chính Thiên Chúa được hình tượng hoá ấy đã trở nên rất thực, rất hữu hình nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng tuyên bố “Ta là Mục Tử Tốt Lành… Ta đến cho chiên được sống, và sống dồi dào” (x. Ga 10,10-11).
    Và để cho chúng ta “được sống dồi dào”, Vị Mục Tử Tốt Lành đã chịu chết! Như thánh Phê rô khẳng định:
    “Ðức Kitô đã chịu đau khổ vì chúng ta, lưu lại cho anh em một gương mẫu để anh em theo vết chân Người… Chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá, để một khi đã chết cho tội lỗi, chúng ta sống một đời công chính; nhờ vết thương của Người, anh em đã được chữa lành”…
    Phần chúng ta, hãy đáp lại kỳ vọng của Chúa: “Xưa kia, anh em như những chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị Mục Tử và Ðấng canh giữ linh hồn anh em” (x. 1Pr 2,20b-25).
    Ngày Chúa nhật hôm nay, vì thế, được dành để suy tôn Chúa Giêsu Mục tử Tốt lành. Chúng ta cầu nguyện cho các mục tử trong Giáo hội, và cầu nguyện cho các ơn gọi tận hiến, được cảm hứng sâu xa từ hình ảnh của Chúa Giêsu, Mục tử Tốt lành, trở nên hiện thân của Người: hết lòng yêu thương và phục vụ đoàn chiên của Chúa!
    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
    ………………………….
    Suy Niệm 2: CHÚA GIÊSU VỊ MỤC TỬ NHÂN LÀNH 

    Hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội mừng Chúa Nhật Chúa Chiên lành. Chúa Nhật hôm nay cũng thường dành riêng để cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục [và tu sĩ nam nữ]. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần biết rằng, mỗi người chúng ta đều được mời gọi làm những người mục tử theo gương Chúa Giêsu: cha mẹ là mục tử cho con cái, bạn bè là mục tử của nhau. Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đến với những mẫu gương mục tử như lòng Chúa mong ước. Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta mẫu gương mục tử của Thánh Phêrô. Một cách cụ thể, trong bài đọc 1, chúng ta thấy thái độ sám hối của những người Do Thái trước lời giảng của Phêrô về Chúa Giêsu: “Toàn thể nhà Israel phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2:36). Chúng ta thấy, Phêrô khẳng định họ là những người đã treo Chúa Giêsu lên thập giá. Điều này cũng đúng cho mỗi người chúng ta vì những ai phạm tội là ‘góp phần’ vào việc đóng đinh Chúa Giêsu. Chúng ta cũng phải có thái độ sám hối như những người Do Thái: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi.” (Cv 2:38-39). Lời mời gọi này của Phêrô đã làm cho nhiều người bỏ lối sống cũ để tin vào Thiên Chúa hầu hưởng lời hứa của sự sống muôn đời Ngài ban qua Đức Giêsu Kitô. Chúng ta có đáp lại lời mời gọi này để bắt đầu một đời sống mới trong Đức Kitô không?

    Bài đọc 2 trình thuật cho chúng ta về lời khuyên của Thánh Phêrô cho những ai được mời gọi làm mục tử, những nhân chứng của Chúa Giêsu: “Anh em thân mến, nếu làm việc lành và phải khổ mà anh em vẫn kiên tâm chịu đựng, thì đó là ơn Thiên Chúa ban” (1 Pr 2:20). Thánh nhân đã đặt trước họ mẫu gương của Chúa Giêsu: “Anh em được Thiên Chúa gọi để sống như thế. Thật vậy, Đức Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bình. Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Vì Người phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2:21-24). Trong những lời này, chúng ta thấy hình ảnh của một vị mục tử sẵn sàng chịu đau khổ cho đàn chiên của mình được ấm no hạnh phúc. Bên cạnh đó, đây là hình ảnh của người mục tử hướng dẫn đàn chiên không chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng chính gương sáng của mình. Người ta thường nói: Hành động nói lớn hơn lời. Hãy là những người mục tử tốt bằng hành động, chứ không chỉ bằng lời nói xuông!

    Bài Tin Mừng hôm nay gồm có hai phần: Phần 1 (Ga 10:1-6) thuật lại cho chúng ta dụ ngôn về ràn chiên và phần 2 (Ga 10:7-10) là lời giải thích của Chúa Giêsu về dụ ngôn. Trong dụ ngôn về ràn chiên, Chúa Giêsu chỉ ra hai loại người ra vào ràn chiên: “Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ” (Ga 10-1-5). Loại thứ nhất là những người không đi qua cửa mà vào. Những người này không phải là mục tử mà là những kẻ trộm, kẻ cướp. Còn loại thứ hai là những người đi qua cửa mà vào, họ là mục tử. Chúng ta lưu ý ở đây là những người mục tử được ‘người giữ cửa’ mở cửa cho. Chúng ta không được cho biết là chiên có phải của anh ta hay không. Điều chúng ta biết ở đây là chiên nghe tiếng anh vì anh gọi tên từng con một. Trong những lời trên, chúng ta có thể rút ra những đặc tính sau của một mục tử: (1) đi qua cửa mà vào ràn chiên; (2) chiên nghe tiếng mục tử; (3) biết tên từng con và dẫn chiên ra khỏi ràn; (4) luôn đi trước chiên. Là những người được gọi làm mục tử, chúng ta đã sở hữu được bốn đặc tính trên chưa và chúng ta đã sống chúng như thế nào trong đời sống hằng ngày của mình.

    Sau khi nói cho đám đông về dụ ngôn ràn chiên, nhưng vì “họ không hiểu những điều Người nói với họ” (Ga 10:6), nên Chúa Giêsu phải giải thích cho họ dụ ngôn ám chỉ điều gì: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào. Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ. Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào” (Ga 10:7-10). Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định chính Ngài là cửa ràn chiên và chỉ qua Ngài, người mục tử mới có thể đến được với chiên. Chi tiết này cho thấy, những người mục tử chân chính là những người trước tiên phải qua Chúa Giêsu, phải có một mối tương quan mật thiết với Ngài, phải là những người nghe tiếng Ngài trước, phải hoàn toàn trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài mới có thể mang lại sự sống cho chiên vì ràn chiên không phải là của mình mà là của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng thấy trong những lời trên chỉ ra hai loại ‘mục tử’ – những người mục tử nào đến để giết hại và phá huỷ, gây chia rẽ và tìm lợi ích cho cá nhân mình là những ‘mục tử giả.’ Còn những mục tử mang chiên đến đồng cỏ xanh tươi, làm cho chiên có sứ sống và sự hiệp nhất là những mục tử nhân lành theo gương Chúa Giêsu, vị Mục Tử Tốt Lành. Nhìn lại cuộc sống của mình, nhiều lần chúng ta cũng là những “mục tử giả” vì sự hiện diện của chúng ta mang lại sự chết chóc và chia rẽ giữa anh chị em mình. Hôm nay, chúng ta được mời gọi chiêm ngưỡng mẫu gương Chúa Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành, chúng ta quyết tâm sống thân tình với Ngài, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài hầu trở thành những mục tử tốt cho những con chiên được giao phó cho chúng ta.

    Lm. Anthony, SDB.

     

    ……………………….

    Suy Niệm 3: Mục tử nhân lành

    Chiên là hình ảnh quen thuộc khi đi dọc bờ đê bên sông hay chạy xe ngang qua những cánh đồng thuộc vùng Bắc Đức. Nhưng cho dù kiếm mỏi cả mắt cũng không ai tìm thấy người chủ của chúng. Ngày nay người ta dùng hàng rào điện để canh giữ đàn chiên. Bởi vậy hình ảnh người mục tử chăn dắt đàn chiên mặc dầu cảm thấy quen thuộc nhưng dường như đã trở thành xa lạ nơi các nước văn minh! Phải chăng hình ảnh này cũng phản ánh hiện trạng của Giáo hội trong thế giới văn minh ngày nay: Chiên sống rải rác khắp nơi nhưng ơn gọi linh mục ngày càng khan hiếm?

    Lời của Đức Giêsu giúp khối ký ức của chúng ta trở nên sinh động. Chiên nhận biết tiếng của chủ, đi theo sau chủ và dường như luôn thầm cám ơn người đã chăm sóc chúng. Chúng không theo người lạ nhưng ngược lại sẽ trốn chạy. Chúng có đôi tai nhạy bén. Điều đáng ngạc nhiên hơn chính là, chúng bất chấp tất cả, nhất mực đi theo tiếng của người đã dẫn chúng đến đồng cỏ tươi và dòng suối mát. Người ta thường ví: Ngu như bò, hiền như chiên con. Nhưng Đức Giêsu giúp chúng ta có một ấn tượng khác về loài chiên. Trên thực tế chúng là loài rất tinh khôn: “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi.

    Chiên có một cảm nhận thiên phú thuộc về bản năng: Chúng biết rõ ai chúng có thể tin tưởng. Mặc dù kẻ trộm sống gần kề, luôn rình rập tìm cách dụ dỗ nhưng chúng không theo người lạ, chúng chỉ đi theo người giúp chúng có một cuộc sống an lành. Chúng có tai để nghe, nhưng chúng chỉ nghe những gì chúng nên nghe và cần phải nghe. Thật thú vị khi quan sát đàn chiên và biết rõ chúng làm thế nào để tìm được đồng cỏ xanh. Loài chiên có một khả năng mà con người cảm thấy ghen tỵ! Hằng ngày chúng ta phải nghe vô vàn vô số tin tức. Trong đầu của chúng ta chứa đủ mọi thứ tốt xấu lẫn lộn như một mớ bòng bong. Chúng ta cảm thấy hỗn loạn và bất an! Nên nghe theo ai và biết tin ai đây? Chúng ta phải phân biệt: Ai là mục tử, ai là kẻ trộm? Phương tiện truyền thông ngày nay giúp cách lừa đảo của con người ngày càng tinh vi hơn. Không biết có bao nhiêu lời dụ dỗ ngọt ngào được quảng cáo và phổ biến rộng rãi trên mạng, báo chí, truyền thanh và truyền hình. Và khả năng chúng ta bị lừa cũng ngoài sức tưởng tượng! Dựa vào hình ảnh trong Phúc âm thì chúng ta có thể nói: Trộm cướp sống giữa thanh thiên bạch nhật, nhan nhản khắp mọi nơi! Chúng không giúp chúng ta sống an nhàn. Chúng giống như một liều thuốc phiện nhằm ru ngủ lòng người, làm giảm sức nhạy cảm của đôi tai, không còn khả năng nhận biết tiếng của vị mục tử chân chính.

    Ngày chúa nhật thứ 4 mùa phục sinh theo truyền thống là ngày lễ Chúa Chiên Lành. Toàn thể Giáo hội cầu nguyện cho ơn thiệu triệu, cầu xin Chúa ban cho nhiều thanh niên thiếu nữ sẵn sàng hy sinh sống đời tận hiến. Theo tinh thần Phúc  âm  thì  đây  là những người có khả năng giúp người khác phân biệt và nhận biết tiếng của vị mục tử nhân lành, là người hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. Trước tiên chúng ta phải giúp họ khám phá ra khả năng đang còn ẩn chứa trong tâm thức và ước mơ của họ. Nhưng chúng ta phải làm thế nào đây? Trước tiên chúng ta cần đến những bậc thầy có thể đào luyện đôi tai của chúng ta. Huấn luyện sự nhạy bén của đôi tai trước tiên phải nói đến bậc làm cha làm mẹ. Các ngài luôn lắng nghe, an ủi bảo ban chúng ta. Thứ đến  là  những  gương sáng. Họ giúp chúng ta cảm nhận rõ ràng tiếng của chủ chăn. “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng!” Chúng ta cần bạn bè tốt, lời khuyên dạy của thầy cô giáo, sự tận tâm chăm sóc bệnh nhân của bác sĩ, …

    Không ai là một hòn đảo! Không ai có thể đứng vững một mình! Chúng ta cần đến sự giúp đỡ của kẻ khác. Qua lời khuyên và sự khích lệ của họ chúng ta sẽ phát triển sức nhạy bén và sư lịch duyệt giúp phân biệt giả chân, giúp nhận biết người mục tử giữa đám sói lang. Không cần biết họ có địa vị nào trong xã hội, sang giầu hay nghèo nàn. Người mục tử nhân lành luôn là người hằng ngày dẫn đưa chúng ta đến đồng cỏ xanh. Sống an nhàn không nhất thiết phải có đủ thứ, phú quý giàu sang, … Giống như đàn chiên: đồng cỏ xanh, dòng suối mát chính là những tư tưởng trong sáng, cuộc sống không bị những lo âu trẳn trở vây kín đè bẹp nhưng tràn đầy niềm vui. Thật hạnh phúc nếu ai đó mỗi khi đêm về tìm được cửa vào chuồn chiên.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

    ………………………..

    Suy Niệm 4: ĐỨC KITÔ, MỤC TỬ NHÂN LÀNH 

    A. DẪN NHẬP                

    Trong bài đọc 2 thánh Phaolô nói :”Trước kia anh em đang lang thang như những con chiên lạc, nhưng nay anh em đã quay về cùng vị Mục tử chăm sóc linh hồn anh em”(1Pr 2,25). Theo đó, thánh Phêrô cho chúng ta biết giữa muôn vàn bất công của cuộc sống, chúng ta như bầy chiên lạc đàn. Chia sẻ thân phận với con người chúng ta và chịu đau khổ vì chúng ta, Đức Kitô, con Chiên bị mang đi giết, đã trở nên Chúa Chiên của chúng ta. Lời khẳng định của thánh Phêrô đã được củng cố trong bài Tin mừng hôm nay.

    Đức Kitô đã tỏ mình với chúng ta  dưới hình dáng người chăn chiên lành, lo lắng cho con chiên của mình, và Ngài cũng là cánh cửa mở vào chuồng chiên. Vị chủ chăn nhân lành biết từng người chúng ta, và để dẫn dắt chúng ta về với Chúa Cha và đem chúng ta vào trong Ngài. Ngài đã không do dự trả một giá rất đắt , đó là chính bản thân Ngài và là cái giá cao nhất : giá của Máu. Ngài có thể làm gì hơn nữa ?

    Đức Kitô chính là Mục tử nhân lành của chúng ta. Chúng ta sung sướng và hãnh diện vì có vị Mục tử ở bên. Chúng ta phải đáp trả lại tình thương vô biên của Ngài và mỗi ngày phải tự hỏi mình : chúng ta có tin tưởng rằng có Đấng luôn ở bên cạnh chúng ta  như vị Mục tử tốt lành để bảo vệ, giữ gìn và phù hộ chúng ta không ? Chúng ta có biết lắng nghe tiếng Ngài như đòan chiên lắng nghe tiếng chủ và đi theo Ngài như đàn chiên theo sau chủ mình không ? Chúng ta hãy luôn tin tưởng và gắn bó thân tình với Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống. Càng gặp khó khăn nguy hiểm càng phải tin tưởng và liên kết với Ngài chặt chẽ hơn vì Ngài đã khẳng định :”Phần Ta, Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”(Ga 10,10).

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA 

    + Bài đọc 1 : Cv 2,36-41.

    Tuần trước chúng ta đã được nghe bài giảng của thánh Phêrô trong ngày lễ Ngũ tuần,  hôm nay chúng ta được nghe phần kết của bài giảng ấy. Sau khi đã cho người Do thái biết Đấng Messia mà Thiên Chúa sai đến đã bị người Do thái giết chết, nay Người đã sống lại.  Vậy mọi người hãy ăn năn sám hối, chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu để được ơn tha tội và lãnh được hồng ân cao qúi là Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần sẽ hành động trong Giáo hội. Dân chúng đã đáp lại cách nồng nhiệt. Kết quả là hôm ấy có thêm khoảng 3000 người theo đạo, gia nhập đàn chiên của Đức Giêsu.

    + Bài đọc 2 : 1Pr 2,20-25.

    Thánh Phêrô nói với dân chúng :”Trước đây anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với vị Mục tử, Đấng săn sóc linh hồn anh em” (Cv 1Pr 2,41).  Vì thế, mọi người hãy theo gương Chúa Giêsu biết đón nhận đau khổ cách xứng đáng và độ lượng theo gương Người.

    Đức Giêsu đã đón nhận và chịu đựng mọi đau khổ mà không phàn nàn kêu trách như con chiên bị đem đi làm thịt.  Đau khổ luôn có trong đời sống của ta dù không muốn.  Đau khổ còn là một huyền nhiệm trong đời sống Kitô hữu. Nếu biết kết hợp đau khổ của ta vào cuộc thương khó của Đức Giêsu thì mọi đau khổ, gian nan khốn khó của ta sẽ có một ý nghĩa cao qúi là đền tội và lập công.

    + Bài Tin Mừng : Ga 10,1-10.

    Để dân chúng hiểu Ngài là Messia được Chúa Cha sai đến, Đức Giêsu dùng hình ảnh người mục tử và đàn chiên.  Hình ảnh này rất quen thuộc và dễ hiểu đối với họ vì họ có nguồn gốc là người du mục.  Mục tử rất yêu thương con chiên, dám hy sinh mạng sống vì chiên. Đáp lại, con chiên phải biết tiếng mục tử và theo tiếng gọi của mục tử.

    Tuy nhiên bài Tin Mừng hôm nay chú trọng đến một hình ảnh mới là “Cửa chuồng chiên”. Chúng ta nên biết rằng ở xứ Palestina, người ta nuôi chiên rất đông. Ban đêm, các mục tử dẫn đoàn chiên của mình vào một cái chuồng chung ở giữa đồng cỏ và chia phiên nhau canh gác ở ngay cửa ra vào. Đến sáng, từng mục tử qua cửa để vào chuồng và gọi các con chiên trong đàn mình. Chúng đã quen tiếng mục tử nên đi theo ra khỏi chuồng đến những đồng cỏ. Những tên trộm cướp không dám qua cửa vì sợ đụng người canh gác nên phải trèo rào mà vào.  Chúa Giêsu chính là mục tử thật, qua cửa mà vào, để gọi và dẫn đàn chiên ra cánh đồng cỏ.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                           Theo chân mục tử nhân lành

    I. ĐỨC GIÊSU LÀ CHỦ CHĂN NHÂN LÀNH 

    Trong lịch sử trước kỷ nguyên, các vua chúa và đại tư tế thường được gọi là mục tử. Pharaon được gọi là người chăn chiên nhân lành. Danh xưng ấy, dân du mục Israel thường dùng cho Thiên Chúa… Cựu ước đã báo trước Đấng Thiên Sai sẽ đến như mục tử, Ngài sẽ chăn dắt (Mk 5,3): “Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất, Ngài sẽ chăn dắt chúng”(Ez 34,23). 

    Xưa rầy những người biệt phái vẫn tự hào là chủ chăn Israel, nhưng Đức Giêsu cho họ thấy, họ là những chủ chăn xấu. Họ không tin Chúa thì chớ, họ còn ngăn cản người khác tin theo. Trong Tân ước, Đức Giêsu đã áp dụng hình ảnh mục tử cho mình. Ngài tự xưng là chủ chăn được sai đến với các chiên lạc của Israel (Mt 15,24; Lc 19,19). Hôm nay Đức Giêsu muốn cho họ thấy rằng Ngài là chủ chăn thực sự. Ngài tự mạc khải qua ba hình ảnh mà bài Tin mừng hôm nay chỉ nói đến có hai thôi.

    1. Hình ảnh chuồng chiên 

    Chăn chiên là một nghề rất quen thuộc đối với người Do thái vì nơi đây có nhiều đồi núi và nhiều cánh đồng cỏ ở sườn núi, thích hợp cho việc chăn nuôi chiên cừu.  Đức Giêsu muốn dùng hình ảnh quen thuộc này để mạc khải về con người của Ngài. Ngài phán :”Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác thì người ấy là kẻ trộm cướp”(Ga 10,1). Qua hình ảnh lề lối chăn chiên này, Đức Giêsu cho biết Ngài là kẻ chăn chiên thật. Ngài có sứ mạng chính đáng, Ngài biết các chiên, và chiên nghe tiếng Ngài. Họ là những người giữ cửa, lẽ ra không được ngăn cản, mà cũng không được cản chiên theo Ngài.

    1. Hình ảnh cửa chuồng chiên

    Đức Giêsu nói tiếp :”Ta là cửa chuồng chiên, tất cả những kẻ đến trước đều là trộm cướp”(Ga 10,7-8). Đức Giêsu dùng hình ảnh này thật khó hiểu.  Chúng ta có thể diễn tả câu nói trên thế này cho dễ hiểu : cũng như những kẻ vào chuồng chiên mà vào qua cửa là kẻ chăn đích thực, còn trèo vào lối khác là kẻ ăn trộm.

    Ở đây khi nói đến mục tử giả hiệu, và theo tòan thể mạch văn, Đức Giêsu có ý nhắm tới người biệt phái và luật sĩ là những kẻ từ lâu đã tự đặt mình làm thủ lãnh và linh hướng của dân chúng mà không qua vị canh giữ tối cao, không lãnh nhận từ Thiên Chúa ủy nhiệm nào để thi hành sứ mệnh mục tử, như bọn trộm cướp, họ đã chiếm đọat đám tín hữu vì háo danh và óc thống trị  hơn là vì quan tâm đến thiện ích thiêng liêng của tín hữu.

    Nhưng có người hiểu chữ “Những kẻ đến trước” theo một chiều hướng khác. Theo họ, những kẻ đến trước đây không phải là những luật sĩ và biệt phái vì đã có lần Đức Giêsu nhận họ ngồi trên tòa Maisen cách chính đáng (Mt 23,2). Hình như Ngài có ý nói đến những “Messia giả”, những kẻ phiêu lưu chính trị thường nổi lên ở Palestine hứa hẹn, nếu dân chúng theo họ, họ sẽ đưa đất nước  đến thời đại hòang kim. Tất cả những người này đều là những người nổi lọan, dùng bạo lực để chiếm đọat chính quyền : ví dụ Juđa người xứ Galilêa, 6 năm sau Đức Giêsu (Cv 5,37), Thơ-đa (Cv 5,36), họ dấy lọan làm nhiều người phải chết mà tôn giáo không được nhờ gì.

    Trái lại, người mục tử chân chính là người đã được ủy nhiệm chính thức. Ở đây Đức Giêsu muốn nói đến chính sứ mệnh của Ngài, vì Ngài chỉ đến theo lệnh và ủy nhiệm thần linh mà Ngài đã nhận từ Chúa Cha khi chịu phép rửa (Ga 1,31-34).


    II. HÃY ĐI THEO ĐỨC GIÊSU MỤC TỬ ĐÍCH THẬT

    1. Thế nào là cửa chuồng chiên

    Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “cửa chuồng chiên”. Đây là một hình ảnh hơi lạ,  chúng ta cần tìm hiểu xem tại sao Chúa Giêsu lại ví mình là cửa chuồng chiên.

    Trong ẩn dụ này, Đức Giêsu đề cập đến hai loại chuồng chiên.  Tại các làng mạc và thị trấn, có những đàn chiên cộng đồng, tất cả các bầy chiên tại địa phương đó đều được nhốt chung khi chúng trở về buổi tối. Các chuồng chiên ấy được bảo vệ bằng một khung cửa thật chắc chắn mà chỉ có người canh cửa mới được giữ chìa khóa mà thôi. Đó là loại chuồng chiên mà Chúa đề cập đến trong câu (2-3).

    Nhưng đến mùa nắng ấm, khi chiên được thả trên núi, đêm đến không lùa về làng, thì chúng được nhốt trong các chuồng chiên ngoài sườn đồi. Các chuồng chiên trên sườn núi này chỉ là một khoảng đất trống có rào chung quanh, có một chỗ trống cho chiên ra vào, không có cửa rả gì cả. Đêm đến người chăn chiên nằm ngay tại khoảng đất trống làm chỗ ra vào, không có chiên nào ra vào được, trừ phi nó bước qua anh ta.

                                          Truyện : Cửa chuồng chiên.

    George Smith kể lại một loại chuồng chiên như trên khi ông đi du lịch Đông phương , lúc đó người chăn chiên cũng ở đó nên ông hỏi :

    – Có phải đó là chuồng chiên không ?
    Người ấy đáp :
    – Dạ, vâng.
    Rồi Geoge nói :
    – Tôi thấy chỉ có một lối đi vào.
    Giơ tay chỉ khoảng trống hàng rào, người ấy đáp :
    – Vâng, ở đàng kia là cái cửa.
    Ông Geoge rất ngạc nhiên bảo :
    – Nhưng ở đó đâu có cửa ?
    Người chăn chiên vội đáp :
    – Dạ, tôi là cửa.
    Geoge chợt nhớ câu truyện trong Gioan kể rồi nói với người chăn chiên :
    – Anh muốn nói gì khi bảo chính anh là cái cửa ?
    Người chăn chiên giải thích :
    – Chiên vào chuồng xong, tôi đến nằm ngay ngưỡng cửa, và không có con chiên nào có thể đi ra hoặc con chó sói nào có thể vào chuồng trừ phi nhảy qua người tôi.

    Nói theo nghĩa đen thì người chăn chiên chính là cái cửa, không có lối nào để ra vào được chuồng chiên, ngoại trừ bước qua chính người chăn. Hình ảnh về cửa chuồng chiên này đối với chúng ta thì rất lạ, còn đối với người Do thái lại là hình ảnh rất quen thuộc.

    1. Chúa Giêsu là cửa chuồng chiên

    Sách có chữ rằng :”Thùy năng xuất tất do hộ” : Ai ra vào nhà cũng đều phải qua cửa.

    Nhà thì phải có cửa để ra vào, ngay nhà tù cũng phải có cửa ra vào. Chuồng trại cũng phải có cửa, không ai trèo hay chui qua hàng rào mà vào. Ai trèo qua hàng rào mà vào thị bị coi là kẻ trộm, ai chui qua mà vào thì được coi hèn như chó, phải lén lút, không dám công khai. Nếu Đức Giêsu xưng mình là cửa thì Ngài có ý nói rằng mọi người phải qua Ngài mới được vào Nước Trời.

    a) Chúa Giêsu là mục tử nhân lành

    Chúa Giêsu xưng mình là mục tử nhân lành vì mục tử biết và gọi đích danh từng con chiên, các con chiên theo sau người chăn vì biết tiếng người ấy. Các từ ngữ này diễn tả một tình yêu cá biệt. Thiên Chúa yêu thương mọi nguời và từng người một, biết rõ hoàn cảnh từng người một.  Tình yêu đi đến cao điểm là thí mạng vì đàn chiên. Cho nên giữa Thiên Chúa và loài người có một tình yêu cao qúi và một sự gắn bó tuyệt vời.

    b) Đức Giêsu là cửa chuồng chiên 

    Đức Giêsu không những xưng mình là mục tử nhân lành, Ngài còn tự cho mình là “cửa chuồng chiên”.  Bằng hình ảnh này, Đức Giêsu khẳng định rõ ai muốn vào Nước Trời, muốn lãnh ơn cứu độ bắt buộc phải đi qua Ngài ; muốn đến với Chúa Cha đều phải qua Ngài.  Như Ngài đã từng nói :”Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”. 

    Tác giả thư Do thái viết :”Người đã mở cho chúng ta con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác Người” (Dt 10,20). Đức Giêsu đã mở ra một con đường đến với Thiên Chúa. Trước khi Đức Giêsu đến, loài người chỉ có thể suy nghĩ về Thiên Chúa như một người xa lạ, hoặc tệ hơn thì như một kẻ thù. Nhưng Đức Giêsu đã đến bảo cho loài người biết, chứng minh cho loài người thấy rõ Thiên Chúa là thế nào, và mở ra con đường đến với Thiên Chúa.  Đức Giêsu đã mở ra cánh cửa để loài người đến được với Thiên Chúa. Ngài là cánh cửa duy nhất cho loài người đến với Thiên Chúa.

    Để mô tả  một phần ý nghĩa của việc vào ra mắt Thiên Chúa, Đức Giêsu dùng câu nói rất quen thuộc của người Do thái, Ngài bảo rằng qua Ngài “chúng ta có thể đi vào và đi ra”. Được đi vào, đi ra tự do không có gì trở ngại, là cách người Do thái dùng để mô tả một đời sống được bảo đảm an toàn.  Khi một người có thể đi ra đi vào mà không chút sợ hãi, điều đó có nghĩa là đất nước người đó đang có hoà bình.

    c) Phải lắng nghe tiếng mục tử 

    Từ dân Israel khi xưa cho đến trong xã hội hôm nay, luôn có những người tin theo Đức  Giêsu và những kẻ không tin theo Người. Tin theo Người thì được cứu rỗi, còn ngược lại thì không. Tin theo Đức Giêsu là biết sống và thực thi lời Người :”Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”. 

    Chúng ta thường đọc thánh vịnh đáp ca với câu “Chúa là Đấng chăn dắt tôi” để cầu nguyện, để đặt hết tin tưởng vào đó.  Vậy ở đâu chúng ta có thể nghe được tiếng Chúa Kitô, Đấng chăn dắt chúng ta ?

    Chúng ta nghe tiếng Ngài trong Kinh thánh, đặc biệt khi đọc công khai ở đây trong nhà thờ. Chúa Kitô đã nói gì ? Chúa Kitô đã làm gì ? Bạn hãy đọc những câu hỏi này. Bạn hãy tìm câu trả lời. Rồi hãy bước theo tiếng gọi của Đấng chăn dắt linh hồn bạn.

    Cái gì là thật ? Cái gì là giả ? Cái gì đúng ? Cái gì sai ? Hãy lắng nghe những vị lãnh đạo của Giáo hội mà Chúa Kitô đã thiết lập. Ngài đã hứa ở cùng Giáo hội cho đến tận thế. Ngài đã hứa gìn giữ Giáo hội cho khỏi lầm lạc.

    Bạn sẽ nghe tiếng Ngài từ bàn thờ này. Bạn sẽ nghe tiếng Ngài trong các báo chí Công giáo.  Những Giáo hội Kitô giáo cũng có nhiều Chân lý mà Chúa Kitô đã dạy, nhưng chỉ có Giáo hội Công giáo có trọn vẹn những điều Chúa Kitô đã dạy, có dồi dào tiếng nói chính thức của Ngài.

    Bạn hãy chăm chú lắng nghe tiếng Ngài.  Bạn hãy đổi mới lòng trung thành với Đấng chăn chiên chân thật theo lời thánh Phêrô trong bài đọc II :”Hãy trở về cùng vị Mục tử, Đấng canh giữ linh hồn bạn”. Rồi chúng ta sẽ có sự sống dồi dào.
    (GM Arthur Tonne, Bài giảng Tin Mừng Chúa nhật năm A, tr 62).

    d) Phải yêu mến mục tử nhân lành

    Người mục tử bao giờ chũng yêu thương con chiên, gắn bó với chúng từng giây phút, biết tên từng con một, dẫn chúng đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước mát. Tất cả vì đàn chiên. Đấy là hình ảnh của Đức Giêsu, vị Mục tử nhân lành, đối với từng người chúng ta. Vậy chúng ta phải là đàn chiên ngoan ngoãn, yêu mến Chúa, lắng nghe tiếng Chúa, tin theo Chúa mặc dầu phải hy sinh đau khổ.  Chúng ta phải biết rằng Chúa thương yêu chúng ta trước, còn ta, ta chỉ việc đáp lại tình yêu nhưng không ấy.

                                             Truyện minh hoạ

    Một vị mục sư trung thành, đạo đức, đang đau nặng. Anh em tín đồ qùi cạnh bên giường, cầu xin Chúa cứu chữa ông. Họ nhắc với Chúa rằng ông coi sóc đàn chiên của Ngài rất tận tâm và họ lặp đi lặp lại câu này :”Chúa biết không, mục sư yêu mến Ngài biết bao”!

    Nghe vậy, vị mục sư bèn xoay qua phía họ mà nói :

    – Xin anh em đừng cầu nguyện như thế. Khi Maria và Marta sai người đi mời Đức Giêsu, thì họ không nói :”Lạy Chúa, này kẻ yêu Chúa”, nhưng nói :”Lạy Chúa, này kẻ Chúa yêu đang bị đau nặng”. Tôi được yên ủi chẳng phải vì tôi yêu Chúa cách bất toàn, nhưng vì Chúa yêu tôi cách trọn vẹn. (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, năm A, tr 204).

    Nhiều khi chúng ta cảm thấy hãnh diện vì đã yêu Chúa nhiều.  Chúng ta tưởng mình yêu Chúa nhưng chính Chúa mới là người yêu thương ta trước, yêu vô điều kiện, không bờ bến.  Nhiều khi chúng ta hãnh diện mà kể công với Chúa : ta đã làm được những việc này việc nọ cho Chúa nhưng Chúa bảo chúng ta đừng có cao ngạo như thế, trái lại khi làm xong việc gì thì hãy thưa với Chúa :”Chúng con chỉ là những đầy tớ vô dụng, chúng con đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi” (Lc 17, 10). 

    Chúng ta vui sướng vì có Chúa là vị Mục tử nhân lành, Đấng chăn dắt linh hồn chúng ta. Chúng ta chỉ cần trở thành những con chiên ngoan ngoãn, đừng bao giờ trở nên những con chiên bướng bỉnh hay như người ta nói là những con chiên “ghẻ”. Chúng ta sống an bình trong tay Đấng chăn chiên lành, tin tưởng vào Ngài trong mọi trạng huống của cuộc sống. Ngài sẽ lo cho mọi sự vì Ngài đã nói :”Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào”. 

    Đồng thời hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho ơn thiên triệu Linh mục và tu sĩ. Chúng ta cầu nguyện cho có nhiều tâm hồn quảng đại, biết dấn thân vô điều kiện, và phục vụ vô vị lợi cho đàn chiên Chúa. Vì đàn chiên không thể thiếu chủ chăn.

    Lạy Chúa, Chúa là mục tử tốt lành, xin dẫn dắt chúng con đi trên nẻo đường của Chúa, để chúng con được no thỏa ân tình của Ngài.

    Xin ban cho chúng con những chủ chăn nhân lành, chỉ biết say mê Chúa và say mê con người, chỉ biết yêu thương, phục vụ và chăm lo cho đàn chiên Chúa, để chia sẻ với Chúa nỗi bận tâm về một đàn chiên “được sống và sống dồi dào”.

     

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt

                                                                      

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com