BÀI ÐỌC I: St 23, 1-4. 19; 24, 1-8. 62-67
Bà Sara được một trăm hai mươi bảy tuổi thì qua đời tại thành Cariatharbê, tức là Hêbron, trong đất Canaan. Ông Abra-ham đến khóc lóc thương tiếc bạn mình. Khi lo việc chôn cất, Abraham chỗi dậy nói với các con ông Hét rằng: “Tôi là ngoại bang, là khách lạ giữa quý ông, xin quý ông nhượng cho tôi một phần mộ để chôn xác người nhà tôi qua đời”. Rồi Abraham chôn cất bà Sara vợ ông trong Hang Ðôi ngoài đồng ruộng, đối diện với Mambrê, tức Hêbron, trong đất Canaan. Khi ấy, Abraham đã già nua, và Chúa đã chúc lành cho ông trong mọi sự. Abraham nói với người đầy tớ lớn tuổi nhất trong nhà, cũng là người quản lý mọi của cải của ông rằng: “Ngươi hãy đặt tay vào dưới bắp vế ta mà thề trước mặt Chúa là Thiên Chúa trời đất, sẽ không cưới cho con ta một người vợ thuộc dân Canaan mà ta đang ở chung với họ đây. Ngươi hãy đi về quê họ hàng ta, mà cưới vợ cho con ta là Isaac”. Người đầy tớ thưa lại: “Nếu người phụ nữ không muốn theo tôi về xứ này, thì tôi có phải đem con trai ông về quê quán của ông chăng?” Abraham trả lời rằng: “Ngươi hãy cẩn thận chớ bao giờ dẫn con ta về đó: Chúa là Thiên Chúa, đã đưa ta ra khỏi nhà cha ta và quê quán ta, đã phán và thề hứa cùng ta rằng: “Ta sẽ ban đất này cho dòng dõi ngươi”. Thiên Chúa sẽ sai thiên thần đi trước mặt ngươi, và ngươi cưới cho con trai ta một người vợ trong xứ đó. Nếu người phụ nữ không chịu theo ngươi về, thì ngươi không còn mắc lời đoan thề mà ta bảo người đây. Chỉ có một điều là đừng dẫn con trai ta về nơi đó”. Khi ấy, Isaac đi bách bộ trên đường dẫn đến cái giếng gọi là “Ðấng Hằng Sống và Trông Thấy”, vì ông cư ngụ tại mạn nam. Lúc gần tối, Isaac đi ra ngoài cánh đồng để suy ngắm. Khi ngước mắt lên nhìn, thấy những con lạc đà đang trở về từ đàng xa. Rêbecca cũng ngước mắt nhìn thấy Isaac, nàng liền nhảy xuống khỏi lạc đà, và hỏi người đầy tớ rằng: “Người đang đi trong cánh đồng để ra đón chúng ta là ai vậy?” Người đầy tớ đáp: “Người đó là chủ tôi đấy”. Nàng vội vàng lấy khăn che mặt. Người đầy tớ lại kể lại cho Isaac hay mọi việc mình đã làm. Isaac đưa Rêbecca vào nhà xếp của Sara mẹ ông, ông lấy nàng làm vợ và yêu thương nàng lắm, cho nên ông tìm được niềm an ủi bớt thương nhớ mẹ đã qua đời.
PHÚC ÂM: Mt 9, 9-13
Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: “Hãy theo Ta”. Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra là khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế?” Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: “Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: “Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải là hy lễ”. Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi”.
Suy Niệm 1: TIẾNG GỌI VÀ SỰ ĐÁP TRẢ TIẾNG GỌI
Bà Sara mất, Abraham chôn cất, rồi phái người lão bộc về quê cũ tìm vợ cho Isaac. Chuyện tìm vợ và đưa sang đất Canaan không đương nhiên dễ dàng, vì còn tuỳ vào ý muốn của chính người phụ nữ đó nữa. Nhưng cuối cùng mọi chuyện đã ổn. Rebecca được đưa sang, và Isaac cưới nàng làm vợ…
Trang này của sách Sáng thế có cả đám tang và đám cưới, những thực tại tự nhiên trong đời thường của con người. Chúng ta thấy câu chuyện của Thiên Chúa được khai triển ngay trong (và xuyên qua) những câu chuyện của con người như thế. Ngay sát đất, rất đời thường, và con người vẫn luôn còn nguyên tự do chọn lựa! Thiên Chúa không hề ‘đạo diễn’ câu chuyện của Ngài ở trên mây, cũng không hề áp chế sự tự do của một người nào.
Câu chuyện tiếng gọi dành cho Máttheu trong Bài Tin Mừng gợi cho ta thấy sự tự do trong lời kêu gọi của Chúa Giêsu cũng như sự tự do trong thái độ đáp trả của Máttheu. Chúa không chọn người ‘xứng đáng’ theo lôgic của chúng ta. Còn về Mattheu, ta có thể đọc được dữ kiện này giữa các dòng chữ: Máttheu vốn khao khát lắm việc vượt qua tình trạng sa lầy và bế tắc của chính mình, nhưng ông không đủ sức, và không ai đủ sức giúp… Thì giờ đây, điều khao khát ấy được hiện thực nơi việc Chúa Giêsu đi ngang qua và lên tiếng gọi. Máttheu “mau mắn đứng dậy và đi theo Người”… âu cũng là điều phải lẽ thôi!
Cần ghi nhận, Chúa Giêsu kêu gọi Máttheu như thầy thuốc chữa lành người đau yếu – nhưng không chỉ thế, Người kêu gọi Máttheu còn bởi vì Người muốn cần đến sự góp phần độc đáo của Mattheu trong câu chuyện của Thiên Chúa mà Người đang xúc tiến thi hành.
Mỗi chúng ta đều có phần của mình trong câu chuyện của Thiên Chúa, như Máttheu vậy.
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
………………………………
Suy Niệm 2: YÊU CHÚA GIÊSU LÀ YÊU TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI NGÀI YÊU
Cuộc ly tan nào cũng mang đến đau buồn. Chúng ta chứng kiến điều này trong bài đọc 1 hôm nay khi bà Xara qua đời. Ông Ápraham đau buồn và than khóc bà Xara (x. St 23:2). Bà Xara sống đến một trăm hai mươi bảy tuổi. Đây là dấu hiệu được chúc lành trong Kinh Thánh. Tư tưởng này không còn hợp thời trong ngày hôm nay. Một đời sống được chúc lành là một đời sống luôn được bình an dù gặp nhiều khó khăn. Ai trong chúng ta cũng được Chúa chúc lành mỗi ngày. Nhưng nhiều khi chúng ta chờ đợi ơn lành đến từ những gì là vĩ đại, thay vì đến từ những gì là đơn sơ nhỏ bé của ngày sống. Người luôn nhận ra ơn lành của Chúa trong mọi sự kiện nhỏ bé của ngày sống là người luôn có lòng tạ ơn và sống hạnh phúc.
Điểm thứ hai trong bài đọc 1 đáng để chúng ta suy gẫm là việc chọn vợ cho Ixaác. Sự kiện này cho thấy Ápraham hoàn toàn để Thiên Chúa hướng dẫn dòng dõi mà Thiên Chúa đã hứa ban cho ông. Điều này được diễn tả qua lời ông nói với người quản lý: “Đức Chúa là Chúa Trời, Đấng đã đưa tôi ra khỏi nhà cha tôi, khỏi quê hương tôi, Đấng đã phán với tôi và thề với tôi rằng: ‘Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất này,’ chính Người sẽ sai sứ thần Người đi trước mặt chú, để từ nơi đó chú cưới vợ về cho con tôi” (St 24:7). Ápraham tin rằng Đức Chúa sẽ sắp xếp hết mọi chuyện theo ý Ngài. Đây là điều thường bị lãng quên trong thời đại hôm nay. Nhiều người xem mình là “chúa” của cuộc đời mình, là người chi phối hết mọi sự. Ngay cả trong việc dựng vợ gả chồng, họ muốn tự do chọn lựa người “mình thích, mình yêu.” Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy chưa có khi nào mà tỉ lệ những người không chung thuỷ với nhau nhiều như trong thời đại chúng ta. Điều này xảy ra vì Thiên Chúa không có chỗ trong mọi quyết định của con người. Thật vậy, khi con người gạt Thiên Chúa ra khỏi những quyết định của mình, họ sẽ trở thành “bạo chúa.” Hãy để Thiên Chúa hướng dẫn đường đời của mình, chúng ta sẽ tìm thấy niềm vui để khoả lấp những mất mát trong đời sống như Ixaác được khuây khoả nỗi buồn mất mẹ khi được Đức Chúa ban cho Rêbêca.
Như chúng ta biết, ba câu chuyện đầu tiên trong chương 9 của Tin Mừng Thánh Mátthêu (câu 1-17) nói về sự chống đối Chúa Giêsu từ ba nhóm khác nhau [nhóm kinh sư, nhóm Pharisêu và nhóm môn đệ của Gioan Tẩy Giả]. Hôm qua chúng ta đã nghe câu chuyện thứ nhất về việc Chúa Giêsu chữa lành người bại liệt và Ngài bị nhóm kinh sư phản đối. Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện thứ hai về việc Chúa Giêsu gọi Mátthêu và ăn uống với “bọn thu thuế và quân tội lỗi.” Điều này đã khơi lên sự chống đối của nhóm Pharisêu. Nhìn từ khía cạnh này, nội dung chính của bài Tin Mừng là cuộc “đối đầu” giữa Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu. Còn câu chuyện về ơn gọi của Mátthêu chỉ là hình ảnh được sử dụng để nói lên quan điểm hay đúng hơn sứ mệnh của Chúa Giêsu mà nhóm Pharisêu không biết.
Câu chuyện về ơn gọi của Thánh Mátthêu được Tin Mừng Nhất Lãm ghi lại (Mc 2:13-17; Mt 9:9-13; Lc 5:27-32). Trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, câu chuyện được chia ra làm hai phần: phần 1 nói đến việc Chúa Giêsu gọi Mátthêu (câu 9) và phần 2 kể về cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu (câu 10-13). Chúng ta cùng nhau phân tích cách chi tiết hai phần này để hiểu rõ hơn điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta.
Cũng như bao ơn gọi khác, Chúa Giêsu gọi Mátthêu đang khi ông làm công việc thường ngày của mình: “Khi ấy, Đức Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi ở đó. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người” (Mt 9:9). Trong cuộc gặp gỡ này, Chúa Giêsu là người chủ động gọi Mátthêu và ông mau mắn đáp lại. Trong Tin Mừng của Thánh Mátthêu, ngài nêu đích danh của mình. Còn trong Tin Mừng Thánh Máccô và Luca, ngài được gọi là Lêvi? Tại sao có sự khác biệt này? Theo các học giả Kinh Thánh, vào thời gian mà Tin Mừng Thánh Mátthêu được viết thì cái tên Lêvi không còn quan trọng cho bằng cái tên Mátthêu, người được xem như là một tông đồ. Trong Mt 10:3, Mátthêu được gọi là người thu thuế. Vì vậy, bản văn này được đưa vào để trình bày Mátthêu như là nhân vật chính của bàn tiệc giữa Chúa Giêsu với những người thu thuế và tội lỗi. Điều đáng để chúng ta lưu ý ở đây là sự mau mắn đáp lại lời mời gọi làm môn đệ Chúa Giêsu của Mátthêu. Sự mau mắn đáp trả của Mátthêu giả định một sự hiểu biết về Chúa Giêsu, sứ mệnh của Ngài và khả thể ông được chia sẻ trong sứ mệnh đó. Nói cách khác, để đáp lại tiếng Chúa Giêsu gọi, Mátthêu đã tìm hiểu về Ngài và suy gẫm về ý nghĩa cuộc đời của mình. Chính hành trình tìm hiểu về Chúa Giêsu và chính mình đã tạo nên trong Mátthêu một sự metanoia (“sám hối”). Sự sám hối này đã làm cho thánh nhân thay đổi lối suy nghĩ, thay đổi con tim, thay đổi lối sống để hoàn toàn thuộc trọn về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng “đi ngang” qua cuộc đời chúng ta mỗi giây phút. Ngài cũng gọi chúng ta trong khi chúng ta bận rộn với công việc. Liệu chúng ta có như Thánh Mátthêu, dù bận rộn, nhưng con tim luôn nhạy cảm với lời mời gọi của Chúa Giêsu không?
Sau khi đáp lại tiếng mời gọi của Chúa Giêsu, Thánh Mátthêu trình bày cho chúng ta về bàn tiệc chia sẻ niềm vui trong nhà của mình. Trong bàn tiệc đó, chúng ta thấy có những thành phần sau: Mátthêu, nhiều người thu thuế và tội lỗi khác, Chúa Giêsu và các môn đệ (x. Mt 9:10). Tất cả cùng chia sẻ trong cùng một bàn ăn. Như chúng ta biết, trong tư tưởng của người Do Thái, chia sẻ cùng bàn ăn không đơn giản chia sẻ với nhau thức ăn, nhưng quan trọng hơn là chia sẻ chính sự sống cho nhau. Trong bàn tiệc tại nhà Thánh Mátthêu, mọi người được mời gọi để chia sẻ trong cùng sự sống của Chúa Giêsu, cả những người “đã tốt” [các môn đệ] và những “chưa tốt” [người thu thuế và tội lỗi]. Những ai không chấp nhận ngồi vào bàn ăn với Chúa Giêsu sẽ tự tách mình ra khỏi sự sống mà Ngài trao ban. Đây là những người Pharisêu. Đúng với tên gọi của họ: Pharisêu có nghĩa là “tách riêng ra.”
Chính việc Chúa Giêsu đón tiếp và ăn uống với những người bị loại ra bên lề xã hội, những người được xem là tội lỗi mà Ngài bị nhóm Pharisêu chống đối. Đứng trước lời chống đối của người Pharisêu, Chúa Giêsu trích hai câu ngạn ngữ sau: (1) “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9:12) và “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9:13). Câu ngạn ngữ thứ nhất lấy từ “công cảm” được tìm thấy trong Stobaeus, Plurarch và Diogenes Laertius. Tư tưởng này bị ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ triết học Hy Lạp. Theo lối suy nghĩ của các triết gia Hy Lạp, người triết gia là thầy thuốc của linh hồn. Người thầy thuốc phải đặt mình vào sự nguy hiểm của bệnh dịch để chữa bệnh. Khi nói điều này, Chúa Giêsu nói với nhóm Pharisêu về việc Ngài là một thầy thuốc của linh hồn. Ngài đang đặt mình vào mối nguy hiểm của bệnh dịch để chữa bệnh. Còn câu ngạn ngữ thứ hai được Ngài trích từ Ngôn sứ Hôsê (6:6). Thánh Mátthêu thêm câu này ở đây và trong 12:7. Câu trích này trở nên quan trọng đối với các Rabbi để giúp đền bù cho sự mất mát của hy lễ trong Đền Thánh Giêrusalem [bị phá huỷ năm 70] như là phương thế để được tha tội. Theo các Rabbi, học Kinh Thánh và những công việc bác ái được xem là những thay thế chính đáng cho lễ tế. Chúa Giêsu kết thúc cuộc tranh luận bằng cách khẳng định rằng: “Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9:13). Qua câu này, Chúa Giêsu khẳng định cho nhóm Pharisêu về sứ mệnh của Ngài, đó là kêu gọi người tội lỗi; không chỉ kêu gọi người tội lỗi, mà Ngài còn chết cho họ để mang lại cho họ ơn tha thứ. Từ mẫu gương của Chúa Giêsu, chúng ta xét lại chính bản thân mình: Có bao giờ chúng ta đón nhận những anh chị em được xem là “tội lỗi” để yêu thương họ và chết cho họ không? Thành thật mà nói, chúng ta thường giống như những người Pharisêu, chúng ta không tiếp đón những người lầm lỡ, nhưng còn chỉ trích những ai mở lòng đón tiếp những con người đáng thương đó. Thiên Chúa không cần của lễ, nhưng cần một con tim biết yêu thương để ôm chầm tất cả những người tội lỗi. Chúng ta có con tim như thế để dâng lên Ngài không?
Lm. Anthony, SDB.
………………………..
Suy niệm 3: Chúa kêu gọi ông Mathhêu
- Chính thánh Mattêu, là người thu thuế, đã thuật lại việc Chúa Giêsu kêu gọi ông làm môn đệ Ngài. Tuy là người tội lỗi, khi được Chúa kêu gọi ông đã đi theo Ngài không chút do dự. Việc gọi Matthêu và việc Chúa Giêsu ăn uống đồng bàn với những người thu thuế và tội lỗi, cho thấy Ngài tỏ lòng ưu ái đối với họ. Những người Biệt phái thắc mắc và chỉ trích Chúa Giêsu, nhưng Ngài đã trả lời bằng cách nêu rõ sứ mệnh của Ngài là sứ mệnh của một Lương y, một vị Mục tử nhân hiền, luôn yêu thương săn sóc những con chiên đau ốm và bị thương.
- Chúa Giêsu đã cư xử với Matthêu với tất cả tấm lòng cảm thông, tha thứ, và yêu thương của Ngài. Tại sao thế ? Bởi vì Ngài luôn quan tâm đến những người tội lỗi để giúp họ cải tà qui chính.
Một bệnh viện mà chỉ nhận săn sóc cho người mạnh khỏe thì quả thật là một nhà thương không thế nào chấp nhận được; người khỏe mạnh thì không cần đến bác sĩ… Cũng thế, Chúa Giêsu không còn là Đấng Cứu Thế nữa, nếu Ngài chỉ muốn tiếp xúc với những con người tự phụ cho mình là công chính không cần đến Thiên Chúa.
Người Do thái coi người thu thuế, một hạng người được coi là tay sai cho ngoại bang, làm tay sai cho Đế quốc La Mã, một hạng người mang tiếng ăn bẩn, tội lỗi, không tốt. Nhưng Chúa lại nghĩ khác vì Chúa thấu suốt tâm can của con người. Biệt phái và luật sĩ luôn nghĩ xấu cho hạng người này. Chúa thì lại nói :”Ta đến không phải để kêu gọi những người công chính mà là gọi những kẻ tội lỗi” và “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần”.
- Sau khi đã bỏ mọi sự theo Chúa, Matthêu liền tổ chức ăn mừng, ông kêu gọi nhiều bạn bè thân hữu đến dùng tiệc, dĩ nhiên là có nhiều người thu thuế và tội lỗi, không loại trừ biệt phái và luật sĩ.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy ý nghĩa nổi bật của bữa ăn trong cuộc đời Chúa Giêsu. Phúc âm ghi lại những lần Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với những người thu thuế tội lỗi, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Ngồi đồng bàn với người nào là muốn chia sẻ, muốn nói lên tình thân thiện của người đó. Qua những lần ngồi đồng bàn với tất cả mọi hạng người, Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta bộ mặt của một Thiên Chúa nhân hậu luôn hiện diện trong mọi sinh hoạt của con người, một Thiên Chúa chia sẻ cuộc sống của con người và muốn đi vào kết hiệp thâm sâu với con người.
- Chúa Giêsu đã không gọi những người công chính làm môn đệ của Người, nhưng Chúa đã chọn ông Matthêu là một người thu thuế bị xã hội Do thái thời đó khinh rể và thù nghịch. Và chính thánh Matthêu cũng đã dạy cho chúng ta một bài học về thái độ khiêm tốn, luôn ý thức rằng mình là người tội lỗi và cậy trông vào lòng thương xót của Chúa. Nếu ta biết nhận thức một cách sâu xa về tình thương của Chúa không phải bằng những ý nghĩa trừu tượng hay mơ hồ, nhưng bằng với sự xác tín, thì người đó sẽ trở thành một tông đồ đích thực của Người. Như thánh Phaolô xác quyết rằng :”Người tông đồ của Chúa là người có đầy đức tính khiêm tốn, hiền hòa và kiên nhẫn theo gương Thầy là Đức Kitô”.
(Mỗi ngày một tin vui).
- Ngày hôm nay, Chúa cũng đang mời gọi bạn làm tông đồ cho Chúa. Thế nhưng bạn có đáp lại lời kêu gọi của Chúa cách thành tâm, thiện chí hay không, dám từ bỏ không, hay còn đang vướng víu bởi những của cải vật chất làm cho tâm hồn tôi nặng trĩu trước lời mời gọi ?
Một số người được Chúa mời gọi khi còn niên thiếu, số khác được Chúa tỏ cho biết ơn gọi khi đã lớn khôn. Chúa dùng những đồng nghiệp, những liên hệ gia đình, hoặc các liên hệ xã hội để tỏ ra mục đích của Người. Chúa gọi thì không phân biệt quá khứ bạn là ai, nhưng chỉ thấy bạn từ lúc bạn bắt đầu bước theo. Cùng với ơn soi sáng cho bạn nhìn thấy ơn gọi, điều quan trọng là bạn không mặc cảm với quá khứ, mau mắn đáp trả, bỏ lại mọi sự và bước theo Chúa.
- Truyện : Lòng quảng đại của vị thiền sư.
Trong các giai thoại về những thiền sư nổi tiếng ở Nhật Bản, người ta đọc được một câu chuyện như sau:
Một buổi tối nọ, thiền sư Shechery đang ngồi thiền thì có một tên cướp xông vào nhà, hắn dí gươm vào cổ nhà tu hành và dọa sẽ giết nếu không trao hết tiền bạc cho hắn. Vị thiền sư không để lộ một chút sợ hãi nào, ông chỉ vào cái hộp, rồi nói với tên cướp:”Tiền đựng trong cái hộp kia, ngươi hãy để cho ta yên”, nói xong ông tiếp tục tụng niệm.
Sau một lúc, ông nhìn lại và nói tiếp với tên cướp :”Đừng lấy hết tiền của ta, để lại cho ta một ít, vì ngay mai ta phải đóng thuế”. Nhưng tên cướp đã không màng gì đến lời yêu cầu của vị thiền sư. Hắn lấy hết tiền trong cái hộp và nhét đầy túi, hắn vừa ra đến cửa, nhà sư nói vọng ra :”Ngươi không biết nói một tiếng cám ơn khi nhận quà sao” ? Không quá tiếc lời với khổ chủ, tên cướp đành nói tiếng cám ơn và bỏ đi.
Vài ngày sau, vị thiền sư được tin là kẻ gian ác đã sa lưới pháp luật. Hắn nêu đích danh vị thiền sư là người đã bị hắn uy hiếp. Thiền sư Shechery được mời ra tòa để làm chứng. Trước mặt mọi người ông đã tuyên bố như sau :”Đối với riêng cá nhân tôi thì người này không phải là tên cướp. Tôi đã cho anh ta tiền và anh ta đã mở miệng cám ơn tôi”.
Vì có quá nhiều tiền án tiền sử, cho nên tên cướp đã bị tống giam. Sau khi mãn hạn tù, anh ta đã tìm đến với vị thiền sư và xin làm đồ đệ của ông.
Lm
. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt