spot_img
Thêm

    THỨ NĂM TUẦN THÁNH

    BÀI ĐỌC I: Xh 12, 1-8. 11-14

    Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê và Aaron ở đất Ai-cập rằng: Tháng này các ngươi phải kể là tháng đầu năm, tháng thứ nhất. Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel rằng: “Mùng mười tháng này, ai nấy phải bắt một chiên con, mỗi gia đình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con chiên, thì phải mời người láng giềng đến nhà cho đủ số người để ăn một con chiên. Chiên đó không được có tật gì, phải là chiên đực, được một năm. Có bắt dê con cũng phải làm như thế. Vậy phải để dành cho đến ngày mười bốn tháng này, rồi vào lúc chập tối, toàn thể cộng đồng con cái Israel sẽ giết nó, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Ðêm ấy sẽ ăn thịt nướng với bánh không men và rau đắng. Phải ăn như thế này: Phải thắt lưng, chân đi dép, tay cầm gậy và ăn vội vã: vì đó là ngày Vượt Qua của Chúa. Ðêm ấy Ta sẽ đi qua xứ Ai-cập, sẽ giết các con đầu lòng trong xứ Ai-cập, từ loài người cho đến súc vật, và Ta sẽ trừng phạt chư thần xứ Ai-cập: vì Ta là Chúa. Máu bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ là dấu hiệu; và khi thấy máu, Ta sẽ đi qua mà tha cho các ngươi, và các ngươi sẽ không bị tai ương tác hại khi Ta giáng hoạ trên xứ Ai-cập. Các ngươi hãy ghi nhớ ngày ấy, làm lễ tưởng niệm, và phải mừng ngày đó trọng thể kính Thiên Chúa. Các ngươi sẽ lập lễ này để mừng vĩnh viễn muôn đời”.

    BÀI ĐỌC II: 1 Cr 11, 23-26

    Anh em thân mến, phần tôi, tôi đã lãnh nhận nơi Chúa điều mà tôi đã truyền lại cho anh em, là Chúa Giêsu trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, và phán: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Vì mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến”.

    PHÚC ÂM: Ga 13, 1-15

    Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giêsu đáp: “Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phêrô thưa lại: “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giêsu bảo: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Phêrô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giêsu nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: “Không phải tất cả các con đều sạch đâu”. Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”.

    Suy Niệm 1: BÍ TÍCH THÁNH THỂ: MẦU NHIỆM TÌNH YÊU BẤT DIỆT

    Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta vào Tam Nhật Thánh. Đây là ba ngày quan trong nhất trong niềm tin Kitô giáo vì trong đó chúng ta cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Giêsu, là trung tâm điểm của Đức Tin Kitô Giáo. Chúng ta thường gọi thánh lễ chiều hôm nay là Thánh Lễ Tiệc Ly [Thánh Lễ Rửa Chân] và trong đó Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể. Vì lý do này mà phụng vụ hôm nay cũng tập trung vào Bí Tích Thánh Thể.

    Trong bài đọc 1, tác giả sách Xuất Hành trình bày cho chúng ta chỉ thị của Đức Chúa cho con cái Israel phải chuẩn bị cho biến cố hay đúng hơn lễ vượt qua như thế nào. Họ phải thực hiện những điều sau: (1) chọn và bắt con chiên thích hợp cho mỗi gia đình [“Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con, thì chung với người hàng xóm gần nhà mình nhất, tuỳ theo số người. Các ngươi sẽ tuỳ theo sức mỗi người ăn được bao nhiêu mà chọn con chiên” (Xh 12:3-4)]; (2) phải chọn con chiên theo đúng tiêu chuẩn Đức Chúa đặt ra [“Con chiên đó phải toàn vẹn, phải là con đực, không quá một tuổi. Các ngươi bắt chiên hay dê cũng được” (Xh 12:5)]; phải giết con chiên và chuẩn bị bữa ăn từ con chiên vào ngày và giờ được ấn định và [“Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Israel đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng” (Xh 12:6-8)]; (4) phải ăn theo chỉ thị của Đức Chúa [“Các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã: đó là lễ Vượt Qua mừng Đức Chúa” (Xh 12:11)]. Điểm quy chiếu của những việc con cái Israel phải thực hiện là con chiên. Chính con chiên là hình ảnh trọng tâm của biến cố vượt qua [hay đêm vượt qua vì chính máu con chiên sẽ cứu con cái Israel khỏi cái chết: “Đêm ấy Ta sẽ rảo khắp đất Aicập, sẽ sát hại các con đầu lòng trong đất Aicập, từ loài người cho đến loài thú vật, và sẽ trị tội chư thần Aicập: vì Ta là Đức Chúa. Còn vết máu trên nhà các ngươi sẽ là dấu hiệu cho biết có các ngươi ở đó. Thấy máu, Ta sẽ vượt qua, và các ngươi sẽ không bị tai ương tiêu diệt khi Ta giáng hoạ trên đất Aicập” (Xh 12:12-13). Hình ảnh con chiên trong bài đọc 1 là ‘tiền thân’ của Chúa Giêsu, Đấng được gọi là Chiên Thiên Chúa. Nhờ máu của Ngài đổ ra mà chúng ta được cứu thoát khỏi sự chết. Đối với người Do Thái, đây là sự kiện quan trong nhất mà qua đó Đức Chúa đã tỏ tình yêu vô điều kiện của Ngài cho dân để dẫn đưa dân ra khỏi ách nô lệ và đưa vào đất hứa. Điều Đức Chúa ra lệnh cho họ là tưởng niệm biến cố tình yêu này qua muôn ngàn thế hệ: “Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Đức Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ này: đó là luật quy định cho đến muôn đời” (Xh 12:14). Chi tiết này mời gọi chúng ta mỗi khi đến với Bí Tích Thánh Thể, chúng ta cần có thái độ đầy cung kính và yêu thương. Khi đối diện với Bí Tích Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm lại tình yêu bất diệt của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Chính tình yêu này đã giải thoát chúng ta khỏi vòng nô lệ của tội lỗi và được đưa vào hạnh phúc viên mãn trên quê trời. Hãy sống xứng đáng với tình yêu cao vời đó của Thiên Chúa.

    Về phần mình, Thánh Phaolô trình thuật lại cho chúng ta sự kiện Chúa Giêsu bẻ mình ra cho các môn đệ [lập Bí Tích Thánh Thể]. Điều này, Ngài khẳng định là đã lãnh nhận từ nơi Chúa và truyền lại: “Thưa anh em, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em ; anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.’ Cũng thế, sau bữa ăn, Người cầm lấy chén rượu và nói: ‘Chén này là Giao Ước Mới, lập bằng Máu Thầy; mỗi khi uống, anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy’” (1 Cr 11:23-25). Cũng giống như chỉ thị trong bài đọc 1, là tưởng niệm cho đến muôn đời sự kiện vượt qua, thì việc Chúa Giêsu bẻ mình ra cho các môn đệ cũng phải được loan truyền: “Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1 Cr 11:26).

    Thánh Gioan trình thuật lại cho chúng ta sự kiện Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Đây là sự kiện mà chỉ mình Thánh Gioan thuật lại. Cấu trúc của bài Tin Mừng gồm ba phần: Hành động của Chúa Giêsu (Ga 13:1-5), Chúa Giêsu giải thích cho Phêrô hành động của Ngài (Ga 13:6-11), và Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ hành động của mình (Ga 13:12-15). Phần đầu tiên bắt đầu với việc đưa chúng ta vào trong bối cảnh của sự kiện rửa chân, đó là “trước lễ vượt qua.” Điều này ám chỉ hành động rửa chân cho các môn đệ của Chúa Giêsu là một phần quan trọng trong mầu nhiệm vượt qua. Chúng ta có thể nói trong sự kiện rửa chân, Chúa Giêsu đã bắt đầu ‘cử hành mầu nhiệm vượt qua.’ Sự tự hạ của Ngài qua hành vi cúi xuống rửa chân cho các môn đệ là dấu hiệu đầu tiên của mầu nhiệm quan trọng này. Bên cạnh đó, hành động rửa chân cũng đưa Chúa Giêsu đến với ‘giờ’ của Ngài: “Trước Lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1). Trong những lời này, Thánh Gioan trình bày cho chúng ta nội dung của ‘giờ’ của Chúa Giêsu: giờ Ngài bỏ thế gian để về với Chúa Cha, và cũng là giờ Ngài tỏ tình yêu đến cùng của Ngài cho những kẻ thuộc về Ngài còn ở thế gian. Qua hai yếu tố này, chúng ta thấy trong ‘giờ’ của mình, Chúa Giêsu đã giao hoà Chúa Cha với những kẻ thuộc về Ngài đang còn ở thế gian. Đây cũng là giờ mà qua đó Ngài mặc khải tình yêu của Chúa Cha cho những kẻ thuộc về Ngài. Sống trong giờ của Chúa Giêsu khi đến với Thánh Thể, chúng ta có cảm nghiệm được tình yêu vô bờ vô bến, tình yêu nối kết đất trời và giao hoà Thiên Chúa với con người không? Thật vậy, hành động cúi xuống rửa chân là hành động của tự hạ [khiêm nhường], của giao hoà và của tình yêu vô điều kiện.

    Bối cảnh tình yêu thật đẹp đó bị phá vỡ bởi hình ảnh của Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Ngài: “Ma quỷ đã gieo vào lòng Giuđa, con ông Simôn Ítcariốt, ý định nộp Đức Giêsu” (Ga 13:2). Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về những lần chúng ta làm cho sự hiện diện của mình cướp mất bầu khí yêu thương của những nơi chúng ta đến và sống. Nhưng ‘tình yêu đến cùng’ được chứng minh qua việc Chúa Giêsu cúi xuống rửa chân cho kẻ nộp Ngài và những môn đệ khác: “Đức Giêsu biết rằng: Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13:3-5). Theo phong tục của người Do Thái, rửa chân là dấu hiệu của sự hiếu khách (x. St 18:4; 1 Sm 25:41; Lc 7:44). Hành động này có thể được thực hiện bởi những người nô lệ của một ông chủ để chào đón một khách mời quý trọng vào trong nhà. Nhìn từ khía cạnh này, chúng ta thấy Chúa Giêsu đang thực hành điều Ngài dạy các môn đệ, đó là ‘Ta ở giữa anh em như một người tôi tớ’ (x. Lc 22:27). Liệu chúng ta có sẵn sàng cúi xuống rửa chân cho những người làm chúng ta tổn thương như một người tôi tớ để chứng minh tình yêu đến cùng của mình không?

    Sự thinh lặng của hành động rửa chân bị phá tan khi Chúa Giêsu đến chỗ của Phêrô. Phêrô ‘chống đối’ hành động tự hạ của Chúa Giêsu:

    Simôn Phêrô: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?”

    Đức Giêsu: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu.”

    Simôn Phêrô: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!”

    Đức Giêsu: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.”

    Simôn Phêrô: “Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân, mà cả tay và đầu con nữa.”

    Đức Giêsu: “Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!” Thật vậy, Người biết ai sẽ nộp Người, nên mới nói: “Không phải tất cả anh em đều sạch.”

    Trong cuộc đối thoại này, chúng ta thấy câu hỏi của Phêrô là xứng hợp vì ông không phải là người cao trọng hơn thầy mình. Ông không phải là người để Chúa Giêsu thực hiện hành động này như dấu chỉ của sự kính trọng. Câu trả lời đầu tiên của Chúa Giêsu trước câu hỏi của Phêrô đưa chúng ta về với những sự kiện khác mà Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ, nhất là những lời nói của Ngài về Đền Thờ hoặc sự kiện Ngài đi vào Thành Giêrusalem. Đây là những điều mà các môn đệ không thể hiểu cho đến khi họ ‘nhớ lại’ sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Điều này ám chỉ rằng hành động rửa chân chỉ được hiểu trong ánh sáng của mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu. Có nhiều điều trong cuộc sống mà chúng ta không thể hiểu, nhất là những đau khổ trong cuộc sống. Chỉ dưới ánh sáng của sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể khám phá và hiểu được ý nghĩa sâu xa của những gì chúng ta trải qua trong cuộc sống.

    Một điểm khác chúng ta có thể suy gẫm trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Phêrô là sự ‘ngoan cố’ của Phêrô được Chúa Giêsu đáp lại với câu khẳng định rằng ông sẽ không thể dự phần vào những gì mà Chúa Giêsu mang lại cho các môn đệ nếu ông không để Ngài rửa chân. Đứng trước điều này, Phêrô đi qua một thái cực khác, là muốn Chúa Giêsu rửa toàn thân. Dù cho Phêrô đi từ thái cực này đến thái cực khác, Chúa Giêsu vẫn điềm tĩnh cắt nghĩa cho ông. Liệu chúng ta có thể bình tĩnh để giúp anh chị em chúng ta khi họ đi từ thái cực này đến thái cực khác trong sự hiểu biết về những gì chúng ta làm không? Cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với Phêrô được thánh sử liên kết với tình yêu của Chúa Giêsu cho những kẻ thuộc về Ngài, và Ngài đã yêu thương họ đến cùng dù họ có thể nào. Hành động của Chúa Giêsu ám chỉ đến hy tế sắp đến của Ngài dành cho các môn đệ. Trong câu khẳng định của Ngài với Phêrô, Chúa Giêsu chỉ ra Ngài là chính ơn cứu độ.

    Hành động rửa chân được kết thúc với lời giải thích của Chúa Giêsu cho các môn đệ: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là ‘Thầy,’ là ‘Chúa,’ điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13:12-15). Trong những lời này, Chúa Giêsu chỉ ra mục đích của việc Ngài rửa chân cho các môn đệ, đó là Ngài muốn để lại cho các môn đệ mẫu gương tự hạ, mẫu gương yêu cho đến cùng. Việc giáo huấn các môn đệ noi theo gương Chúa Giêsu cũng xảy ra trong Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 42-45). Đây chính là mục đích của ơn gọi làm môn đệ của Chúa Giêsu, đó lá phác hoạ lại trong chính đời sống mình lối sống của Chúa Giêsu, đặc biệt là phác hoạ lại sự tự hạ trong phục vụ với tình yêu cho đến cùng.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………

    Suy Niệm 2: YÊU LÀ TRAO BAN

    Thánh Gioan nói :”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,10), Ngài là nguồn gốc tình yêu nên Ngài ban cho ta có tình yêu để yêu Ngài và yêu nhau. Chính vì thế Ngài nhắc lại lời Chúa Giêsu :”Đây là giới răn của Thầy : các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12).

     Không ai có thể định nghĩa được tình yêu mà chỉ để cho con tim cảm nghiệm được nó.  Hoặc có theo định nghĩa thần học thì yêu là “diffusivum sui boni” : thông ban sự tốt lành của mình cho người khác ; do đó, ta sẽ dễ hiểu được lời của thánh Gioan tông đồ :”Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì : đó là Đức Kitô phó mạng vì chúng ta” (1Ga 3,16)

    I. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA

    Thánh Gioan tông đồ khẳng định rằng Thiên Chúa là tình yêu nên mọi tình yêu phải bắt nguồn từ Ngài và cũng phải qui hướng về Ngài như một nguồn suối duy nhất.  Nếu tình yêu của chúng ta bắt nguồn từ Ngài thì chúng ta cũng phải yêu Ngài. Chính vì thế Ngài nói :”Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức ngươi và hãy yêu anh em như chính mình”(Mt 28,37.39). Ngoài ra, Chúa Giêsu còn nhắc nhở tình yêu này cách rõ ràng và mạnh mẽ hơn :”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,24 ; 15,12).

     Trong tuần thánh này và hôm nay chúng ta hãy suy niệm về tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người trong công cuộc cứu chuộc này. Tình yêu ấy đã được thánh Gioan tông đồ ghi lại trong Tin Mừng :”Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người xuống trần gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).

    II. TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ.

    Nếu đọc đoạn thư của thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Philipphê, chúng ta mới thấy Đức Giêsu yêu thương chúng ta đến mức nào :”Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa mà lại trút bỏ vinh quang của Thiên Chúa, lại còn mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống người phàm như chúng ta. Hơn nữa, Ngài còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và còn muốn nhận lấy cái chết ô nhục trên thập giá” (Pl 2,6-11).

    Ta thử hỏi : vì lý do nào mà Chúa đã xuống thế làm người chịu chết chuộc tội cho chúng ta ?  Có lẽ không có câu trả lời nào khác mà chỉ có thể nói vì yêu thương chúng ta :”Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu” (Ga 15,13). 

    Ngoài ra, như người ta thường nói :”yêu nhau thì muốn kết hợp với nhau”. Đức Giêsu vì yêu chúng ta, không những Ngài đã hy sinh chết trên thập giá mà còn muốn ở cùng ta mọi ngày cho đến tận thế, cho nên Ngài đã thiết lập bí tích Thánh Thể.

    III. THÁNH THỂ, BÍ TÍCH CỦA TÌNH YÊU

    Thánh Phaolô tông đồ trong thư gửi cho tín hữu Corintô nói :”Chúa Giêsu trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán :”Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con : các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (1Cr 11,23).  Chúa Giêsu đã biến mình máu Ngài làm của ăn nuôi sống linh hồn chúng ta. Ngài chỉ có thể ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế trong bí tích Thánh Thể. Chúa Giêsu hiện diện trong phép Thánh Thể không phải là sự hiện diện tượng trưng nhưng là sự hiện diện thực sự với mình máu, với cả nhân tính và thần tính của Ngài.

    Động cơ nào đã thúc đẩy Đức Giêsu hành động như vậy ?  Đó là tình yêu ! Đức Giêsu đã yêu chúng ta hết mức, Ngài đã tự vắt cạn kiệt con người của Ngài để phục vụ người khác, không còn gì để mà cho nữa mà chỉ còn cách là biến chính thịt máu mình làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta.   Đặc tính của tình yêu là muốn cho đi :

                                        Yêu nhau cởi áo cho nhau,
                                        Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
                                                    (ca dao)

    Cho đi là một sự mất mát, mất mát là một hy sinh, mà hy sinh là đau khổ, nhưng đau khổ vì tình yêu lại là một sự sung sướng vì đem lại niềm vui cho người mình yêu.  Có một sự tương quan biện chứng giữa đau khổ và tình yêu, giữa mất và còn : hễ mất cái này thì còn cái khác. Điều kiện ắt có là hễ muốn còn cái này thì phải mất cái kia như hạt lúa phải thối đi để cho những bông lúa vàng nuôi sống con người. Con vật phải chết đi mới đem lại lương thực cho con người. Sự sống của con vật cũng như của thảo mộc phải mất đi để bảo đảm sự sống của con người.

    Hy sinh cho người yêu những gì càng thiết yếu cho mình bao nhiêu thì quà tặng đó càng có giá trị.  Chân phước Têrêsa Calcutta nói :”Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với chúng ta, thì đó mới thật là món quà”.  Đức Giêsu không những đã trao ban mọi vinh quang trên trời ,  lại còn trao ban cả con người của Ngài thì món quà đó quí giá dường nào (x. Mt 26,26-28).

    Truyện : Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình.

    Trên bước đường lưu vong, trốn ra nước ngoài, Công tử Trùng Nhĩ và bọn bề tôi trải qua rất nhiều cam go, lầm than, đói khổ.

    Không tiền bạc, hết lương thực, bọn người này phải đi ăn xin.

    Một hôm đói quá, đói đến lả người, cả bọn cơ hồ không còn đi được nữa.

    Trùng Nhĩ phải kiếm gốc cây có bóng mát gối đầu vào đùi Hồ Mao mà nằm.

    Bọn bề tôi bảo nhau đi bứt rau sam về luộc ăn.

    Trùng Nhĩ nuốt không trôi !

    Bỗng Giới tử Thôi mang một bát thịt nóng hổi đến dâng.

    Trùng Nhĩ ăn ngon lành ! Ăn xong, khỏe khoắn liền hỏi Giới tử Thôi :

    – Nhà ngươi lấy đâu được thịt ngon như thế ?

    Giới tử Thôi chỉ vào đùi mình, thưa :

    – Ấy là thịt đùi của tôi đó. Tôi nghe rằng : nguời hiếu tử bỏ thân thờ cha, người trung thần bỏ thân để thờ vua. Nay Công tử đói không có gì ăn nên tôi phải cắt thịt đùi dâng Công tử.

    Trùng Nhĩ ứa nước mắt, nói :

    – Ân này, biết bao giờ ta đáp được.

    (Thanh Lan Võ ngọc Thành, Nhân vật Đông châu, 1968, tr 324-325)

    IV. BÀI HỌC CHO TA

    chúng ta và muốn ở với chúng ta hằng ngày cho đến tận thế trong phép Thánh Thể, chúng ta có thể rút ra được những bài học cụ thể để áp dụng vào đời sống hằng ngày.

    1. Yêu là trao ban

    Một trong các  đặc tính của tình yêu là trao ban, là cho đi. Yêu thì không muốn giữ cho mình mà muốn chia sẻ cho người khác. Chính trong việc cho đi mà người ta tìm được hạnh phúc trong tình yêu :”Không khi nào người ta yêu như người ta đã được yêu, vì vậy muốn đạt được hạnh phúc trong tình ái, chúng ta phải cho tất cả mà không đòi hỏi gì cả” (Paul Bourget).

    Nếu tu viện trưởng Saint-Pierre quả quyết rằng :”Yếu tính của mọi tôn giáo, nền tảng của mọi chân lý, vương miện của mọi nhân đức căn cứ trên sự CHO và tha thứ” thì thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu đã thực hiện trong tình yêu đối với Chúa Giêsu trong mấy vần thơ do thánh nữ sáng tác :

                                  Sống yêu đương chính là cho tất cả,
                                 Trên đời này không đòi hỏi công lao.
                                 Không tính toán, không kể cho là bao,
                                 Vì đã yêu có khi nào suy tính.
                                          (Têrêsa Hài đồng) 

    1. Trao ban là hy sinh 

    Tục ngữ Tây phương nói :”Partir c’est mourir un peu” : ra đi là chết trong lòng một ít. Lìa xa nhau là một sự hy sinh, hy sinh làm ta đau khổ, và đau khổ được coi như là chết trong lòng một ít.  Vậy cho đi là cái gì đó phải lìa xa ta làm cho ta phải hy sinh , hay nói cách khác là chết trong lòng một ít. Tình yêu chân thật đòi hỏi phải hy sinh, mà hy sinh càng lớn thì tình yêu càng cao như Pierre l’Ermite nói :”Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất nước hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”. 

    1. Trao ban là phục vụ 

    Trao ban là cho đi, cho đi cái mình có và cái đó không còn thuộc về mình nữa mà thuộc về người khác. Như vậy, cho đi là chỉ nhằm phục vụ, phục vụ là nhằm mưu cầu hạnh phúc cho người khác.  Chúng ta hãy nhìn lên ngọn nến lung linh trên bàn thờ.  Cây nến phải hao mòn đi để trao ban ánh sáng và sức nóng cho con người. Nếu cây nến không chịu hao mòn đi thì không có ánh sáng mà không có ánh sáng thì không phục vụ cho con người được.  Lúc đó cây nến chỉ còn là đồ trang hoàng chứ không cung cấp ánh sáng cho con người được.

    1. Trao ban và cô đơn

    Yêu nhau thì người ta muốn gần nhau, muốn kết hợp với nhau để không bị cô đơn, nhiều khi phải bỏ tất cả để đi theo nhau. Theo nhau không phải chỉ chấp nhận một chủ thuyết, một chủ trương hay một khuynh hướng mà là muốn nối kết với nhau trong cuộc sống, bước theo nhau, coi người kia như lẽ sống của mình tựa như : “thuyền theo lái, gái theo chồng(Tục ngữ) :

                                  Yêu nhau chữ vị là vì,
                                 Chữ dục là muốn chữ tùy là theo.
                                                   (ca dao) 

    Saint-Exupéry nói :”Cho, tức là bắc một nhịp cầu trên sự cô đơn”.  Tự bản thân, con người sống cô độc, khép kín vào bản ngã mình, giới hạn vào những kiến thức, rối ren trong những khó khăn của mình.  Nếu xa cách tha nhân, hoặc không có ai tới nâng đỡ, thì lại càng cô đơn thêm.

    Cho, tức là bắc cầu, là mở đường giao thông. Cho cái gì ? Không nhất thiết phải cho tiền bạc, của cải vật chất bởi vì ai cũng có cái gì để cho.  Chúng ta có thể cho “đôi mắt” khi thấy một cụ già đang bối rối muốn băng qua đường, ta biết giúp đỡ cụ. Chúng ta có thể cho một lời nói để khích lệ hay chia buồn, một lời cám ơn, một lời khen ngợi . Chúng ta có thể cho nhau một nụ cười thông cảm, một cử chỉ thân thiện… Thử lập một danh sách xem tôi đã cho những gì và đã nhận được nhừng gì nơi người khác.

    Chúa Giêsu đã trao ban cho ta chính con người của Ngài trong phép Thánh Thể,  Ngài không bao giờ cô đơn vì Ngài luôn luôn biết cho đi, cho đi một cách quảng đại, cho đi không có giới hạn, cho đi mãi mãi.  Nhưng chúng ta không đáp lại sự cho đi của Ngài, chúng ta thờ ơ trước sự trao ban vô vị lợi của Ngài, làm cho Ngài phải cô đơn.  Để tránh sự cô đơn của chúng ta đối với Chúa và với tha nhân, ta hãy biết cho đi bằng cách phục vụ Chúa trong tha nhân, càng cho đi thì càng gần Chúa, càng sống thân mật với Ngài vì “cho đi thì có phúc hơn là nhận” và nếu yêu mà chỉ nhận thì tình yêu sẽ chết.

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà lạt    

                                                                                 

     

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com