BÀI ĐỌC I: Cv 14, 18-27
Trong những ngày ấy, có mấy người Do-thái từ Antiôkia và Icôniô đến xúi giục dân chúng. Họ ném đá Phaolô, và tưởng rằng Phaolô đã chết, nên kéo ngài ra bỏ ngoài thành. Nhưng đang khi các môn đồ đứng xung quanh ngài, ngài liền chỗi dậy đi vào thành, và hôm sau, ngài cùng Barnaba đi sang Đerbê. Khi đã rao giảng Tin Mừng cho thành này và dạy dỗ được nhiều người, các ngài trở lại Lystra, Icôniô và Antiôkia, củng cố tinh thần các môn đồ, khuyên bảo họ giữ vững đức tin mà rằng: “Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi gian truân mới được vào nước Thiên Chúa”. Nơi mỗi hội thánh, các ngài đặt những vị niên trưởng, rồi ăn chay cầu nguyện, trao phó họ cho Chúa là Đấng họ tin theo.
Sau đó, các ngài sang Pisiđia, đi đến Pamphylia. Sau khi rao giảng lời Chúa tại Perghê, các ngài xuống Attilia, rồi từ đó xuống tàu trở về Antiôkia, nơi mà trước đây các ngài đã được trao phó cho ơn Chúa để làm công việc các ngài mới hoàn thành. Khi đến nơi, các ngài tụ họp giáo đoàn, thuật cho họ nghe những gì Thiên Chúa đã làm với các ngài và đã mở lòng cho nhiều dân ngoại nhận biết đức tin. Các ngài còn ở lại đó với môn đồ trong một thời gian lâu dài.
PHÚC ÂM: Ga 14, 27-31a
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng. Lòng các con đừng xao xuyến và đừng sợ hãi. Các con đã nghe Thầy nói với các con rằng: Thầy đi, rồi Thầy sẽ trở lại với các con. Nếu các con yêu mến Thầy, thì các con hãy vui mừng vì Thầy về với Cha, bởi lẽ Cha trọng hơn Thầy. Giờ đây Thầy nói với các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra, thì các con tin. Thầy không còn nói nhiều với các con nữa, vì thủ lãnh thế gian đã đến. Nó không có quyền lực gì đối với Thầy. Nhưng để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Cha, thì Thầy làm như Cha đã truyền dạy”.
Suy Niệm 1: BÌNH AN VÀ NIỀM VUI LÀM NÊN SỨC MẠNH
Hành trình truyền giáo của Phaolô và Banaba tiếp tục gặp sóng gió và chống đối. Các ngài bị ngược đãi từ chính những người đồng bào [người Do Thái] của mình (x. Cv 14:19-20). Chính qua kinh nghiệm của mình, các ngài đã củng cố tinh thần của các môn đệ và giúp họ giữ vững đức tin. Nói cách khác, các ngài đã sử dụng chính gương sáng của đời sống đức tin của mình, vẫn trung thành giữ vững đức tin dù gặp khó khăn và thử thách, để khuyến khích các môn đệ đứng vững trong đức tin: “Chúng ta phải chịu nhiều gian khổ mới được vào Nước Thiên Chúa” (Cv 14:22). Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về đời sống chứng tá của mình. Chính gương sáng đời sống đức tin của chúng ta là phương tiện hữu hiệu nhất để rao giảng tin mừng cũng như củng cố đức tin của anh chị em chúng ta vì chính qua đời sống của mình chúng ta “kể lại tất cả những gì Thiên Chúa đã cùng làm với hai ông, và việc Người đã mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin” (Cv 14:27). Thật vậy, chúng ta ý thức được trong ngày sống của mình chúng ta không bước đi một mình trong những khó khăn, nhưng có Chúa luôn đồng hành và làm việc trong chúng ta. Khi nhận ra được điều này, chúng ta sẽ trở nên dễ dạy với Chúa để Ngài hướng dẫn và biến chúng ta thành khí cụ hữu hiệu mang Tin Mừng của Ngài cho mọi người.
Sau khi cho các môn đệ biết về vai trò của Đấng Bảo Trợ (câu 26), Đấng sẽ đến sau khi Ngài ra đi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu khuyên các môn đệ không nên sợ hãi và xao xuyến vì Ngài ban cho họ bình an của Ngài: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14:27). Bình an là điều ai trong chúng ta cũng tìm kiếm. Chúng ta thường nghe rằng: bình an hay hoà bình không phải là không có chiến tranh, nhưng là sau chiến tranh biết tha thứ và bắt đầu xây dựng lại trên yêu thương. Trong những lời trên, Chúa Giêsu chỉ ra cho các môn đệ thấy có hai loại bình an: bình an Ngài ban và bình an theo kiểu thế gian. Bình an theo kiểu thế gian là bình an chóng qua, vẫn để lại trong chúng ta sự xao xuyến và sợ hãi sẽ bị cướp mất bình an. Bình an Chúa Giêsu mang lại cho chúng ta là bình an của tâm hồn, là bình an của những người được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi, là bình an của những người cảm nhận được mình được yêu một cách vô điều kiện.
Ngoài việc an ủi các môn đệ không sợ hãi và xao xuyến khi Ngài ra đi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu muốn các môn đệ của Ngài phải vui mừng vì nếu Ngài không đi thì Ngài không trở lại với các môn đệ: “‘Thầy ra đi và đến cùng anh em.’ Nếu anh em yêu mến Thầy, thì hẳn anh em đã vui mừng vì Thầy đi về cùng Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha cao trọng hơn Thầy. Bây giờ, Thầy nói với anh em trước khi sự việc xảy ra, để khi xảy ra, anh em tin” (Ga 14:28-29). Trong cuộc tranh luận với lạc giáo Ariô, câu “Chúa Cha cao trọng hơn Thầy” được sử dụng để cũng cố luận chứng của những người xây dựng nền “Kitô học lệ thuộc.” Như chúng ta đọc thấy, Tin Mừng Thánh Gioan luôn khẳng định sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, nên không thể nào chứa đựng một nền Kitô học như thế. Lối diễn tả trên, như trong sách Châm Ngôn (13:16), là một cách thức của Tin Mừng trình bày Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến. Ngài hành động hoàn toàn trong sự vâng phục với những gì Ngài đã thấy và đã nghe từ Chúa Cha và như thế không phải là một lời tuyên bố mang tính lộng ngôn khi nói mình là “Thiên Chúa.” Là người môn đệ, chúng ta cũng được Chúa Giêsu sai đi rao giảng Tin Mừng, nhưng chúng ta thường có khuynh hướng nói những gì mình thích hơn là những gì chúng ta đã thấy và đã nghe từ Thiên Chúa. Để sống hoàn toàn vâng phục với thánh ý Chúa, chúng ta phải có một mối tương quan thật mật thiết với Chúa Cha như Chúa Giêsu. Mối tương quan này là mối tương quan của tình yêu, của hai con tim luôn đối thoại với nhau và cùng nhau đập chung một nhịp. Chỉ như thế, chúng ta mới hiểu được điều Chúa Giêsu nói là Chúa Cha thì cao trọng hơn.
Bài Tin Mừng kết thúc với việc Chúa Giêsu khẳng định rằng qua cuộc thương khó của mình, Ngài diễn tả tình yêu của Ngài dành cho Chúa Cha: “Thầy sẽ không còn nói nhiều với anh em nữa, bởi vì Thủ lãnh thế gian đang đến. Đã hẳn, nó không làm gì được Thầy. Nhưng chuyện đó xảy ra là để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14:30-31a). Cuộc thương khó của Ngài là sự diễn tả cách triệt để nhất sự vâng phục của Ngài và qua đó, Ngài chứng tỏ rằng lương thực của Ngài là thực thi thánh ý của Chúa Cha. Những lời này nhắc nhở chúng ta rằng cái chết của Chúa Giêsu không phải là một cái gì mang tính tạm thời, có nghĩa là cho đến khi Ngài phục sinh, là chiến thắng Satan, nhưng là dấu chứng của sự vậng phục đầy yêu thương của Chúa Con dành cho Chúa Cha. Mẫu gương của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống những giây phút khó khăn và đau khổ với niềm phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói rằng, chiến thắng những khó khăn, đau khổ trong cuộc sống có thể dễ dàng hơn việc nhận biết rằng sống phó thác, gắn bó với Chúa trong khó khăn và đau khổ là dấu chứng của sự vâng phục đầy yêu thương của chúng ta dành cho Thiên Chúa.
Lm. Anthony, SDB.
…………………….
Suy Niệm 3: Thầy ban bình an cho anh em
- Khi nghe những lời giáo huấn của Đức Giêsu trong bầu khí chuẩn bị chia tay – bữa tiệc ly – các môn đệ tỏ ra đau buồn và xao xuyến. Nhận thấy rõ như vậy, Ngài đã an ủi, khích lệ bằng cách dạy các ông phải bình tĩnh, và Ngài sẽ ban cho tâm hồn các ông được hưởng bình an của Chúa.
Trong lúc đang hoang mang sợ hãi như thế mà Đức Giêsu lại nói “Thầy để lại sự bình an cho các con. Thầy ban bình an của Thầy cho các con”. Như thế, thứ bình an này hẳn là đặc biệt.
- Bình an ở đây không phải là hòa bình, một tình trạng không chiến tranh, tranh chấp, cũng không phải là tâm trạng của người hết căng thẳng về tâm lý, hoặc tâm trạng khoan khoái thoải mái, sung sướng… là những trạng thái thuộc lãnh vực tự nhiên.
Theo ngôn ngữ của thánh Gioan, bình an, sự thật, ánh sáng, sự sống, niềm vui… là những từ diễn tả nhiều khía cạnh khác nhau của ân huệ lớn lao mà Đức Giêsu từ Chúa Cha mang đến cho loài người. Ân huệ này chính là giải thoát, ơn cứu độ. Việc Đức Giêsu chịu chết để đem lại ơn giải thoát, việc Ngài phục sinh đem lại sự sống đời đời : đó là ân huệ lớn lao, là bình an mà Ngài ban nhằm trấn an các môn đệ (Trần Hữu Thành).
- Nếu hiểu bình an là không có chiến tranh, tranh chấp, thì loài người chúng ta cũng không nhận được bình an của Chúa. Theo sự phát giác của một số sử gia, thì khoảng 150 năm trước Chúa Giêsu và từ Chúa Giêsu tới nay, thế giới mới thực sự hưởng thái bình hơn kém 300 năm, còn lại trên 3000 năm đã xẩy ra biết bao cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Ai cũng trông mong bình an, mà đâu có bình an.
Thực ra, khởi điểm của sự bình an đó là chính đời sống của mỗi người chúng ta, một đời sống hòa hợp với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Do đó, để có được bình an của Chúa là khi chúng ta sống theo điều răn của Chúa, chu toàn bổn phận của mình, và nếu chúng ta có bình an nơi mình, chúng ta sẽ có bình an với người khác. Nói khác đi, bình an trong gia đình và hòa bình trên thế giới là phản ánh của bình an nội tâm.
- Là nguyên ủy của sự bình an, dĩ nhiên Chúa Giêsu chỉ rao giảng và thể hiện sự bình an mà thôi. Nhưng hòa bình hay bình an mà Chúa Giêsu mang đến như Ngài xác nhận trong bài Tin mừng hôm nay không phải là thứ hoà bình thế gian ban tặng. Hòa bình hay bình an của thế gian thường chỉ là là hai chữ bình an đồng nghĩa với an phận, với trốn tránh, với thỏa hiệp. Hòa bình hay bình an Chúa Giêsu mang đến chỉ có thể có được bằng một giá đắt : nó đòi hỏi sự chiến đấu, chấp nhận mất mát, có khi cả mạng sống mình. Hòa bình hay bình an ấy chỉ có khi con người có thể thốt lên như thánh Phaolô :”Lương tâm tôi không trách cứ tôi điều gì”. Chỉ khi lương tâm không trách cứ chúng ta điều gì, lúc đó chúng ta mới có được bình an hay hòa bình thực sự trong tâm hồn (Mỗi ngày một tin vui).
- Michael Jackson, một danh ca nhạc rock nổi tiếng, đã đạt tới đỉnh cao danh vọng. Ước mơ của anh là được sống tới 105 tuổi, nên anh chẳng ngại thuê trực thăng đem khí ocxy từ đỉnh núi cao về rồi bơm đầy phòng kính nơi anh ở để tránh mọi sự ô nhiễm. Liệu anh có thật sự an toàn và bình an trong căn phòng của mình ?
Con người luôn khao khát được sống bình an và đã tìm kiếm bình an bằng tất cả những gì mình có. Tuy nhiên, họ chỉ có được sự bình an cách tương đối mà thôi. Bề ngoài trông họ có vẻ bình an, nhưng thật ra, bên trong tâm hồn, họ lại đầy những lo lắng và khổ đau. Đức Giêsu cho thấy chỉ Người mới có thể đem lại bình an đích thực cho con người, một thứ bình an nội tâm sâu xa. Bình an đó chỉ có khi con người biết cậy nhờ ơn Chúa giúp, để chiến thắng được kẻ thù lớn nhất là tính tham lam, ích kỷ, xấu xa, tội lỗi của mình.
- Nếu chỉ mong bình an hòng tránh khỏi những bất trắc trong cuộc sống thì không đảm bảo hạnh phúc cho chúng ta. Còn bình an mà hôm nay Chúa Giêsu trao cho các môn đệ thì hoàn toàn khác. Khác ở chỗ : Nếu muốn được bình an thực sự, trước tiên phải có đức tin. Chỉ có đức tin mới cảm nghiệm được sự bình an sâu xa trong tâm hồn. Bởi lẽ : Bình an của Chúa Giêsu chính là bình an ngay trong những khổ cực đau thương, mất mát và ngay trong những hiểu lầm oán ghét, bất công… Như vậy, ơn bình an này chính là ân huệ đức tin và hệ quả của bình an chính là đem lại ơn cứu chuộc cho con người chứ không phải đem lại cho con người sự an tâm, đảm bảo phần xác.
- Truyện : Bình an của Đức Giáo hoàng Gioan 23.
Ông Giacôbo Veisu, một nhà điêu khắc nổi tiếng của Italia đã viết hồi ký về những giây phút cuối đời của Đức Gioan 23 kể lại như sau :
Vào ngày cuối cùng của chuỗi ngày đau đớn kéo dài, Linh mục Cabovila , bí thư riêng của Đức Thánh Cha, đến bên giường bệnh, hôn tay Ngài và hỏi xem Ngài cảm thấy thế nào. Đức Thánh Cha Gioan 23 trả lời :
– Tôi cảm thấy trong mình khỏe khoắn và bình an như thể tôi đang ở trong tay Chúa, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy hơi lo.
Linh mục Cabovila thưa :
– Xin Cha đừng lo, những người phải lo là chính chúng con đây. Chúng con đã nói chuyện với bác sĩ.
Đức Thánh Cha Gioan 23 ngắt lời :
– Họ đã nói những gì với con ?
Linh mục bí thư nghẹn ngào nói :
– Thưa Đức Thánh Cha, con muốn nói với Cha một sự thật. Hôm nay là ngày của Chúa, hôm nay là ngày Cha sẽ được về Thiên Đàng !
Nói xong, Linh mục bí thư quì gối xuống bên giường, hai tay bưng mặt khóc. Vài phút nặng nề trôi qua, bỗng cha cảm thấy có một bàn tay âu yếm xoa đầu mình và nghe một giọng nói ôn tồn :
– Hãy ngước mắt nhìn lên ! Bình thường người thư ký của Cha rất mạnh mẽ, can đảm, nhưng sao bây giờ lại trở thành mềm nhũn như thế. Cha đã nói với Người Bề Trên của Cha những lời hay đẹp nhất mà con người có thể nghe từ miệng Linh mục !
Vâng đó là thứ Bình an đích thực mà Chúa ban cho những ai tin Chúa.Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt

