Christina Kheng
Nt. Anna Ngọc Diệp, Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: Listening a Synodal Church into Being:
Learning Points from the Methodology of the Synod 2021–2024
and the Asian Experience, Christina Kheng,
Journal of Moral Theology, jmt.scholasticahq.com
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 153 (tháng 5 & 6 năm 2026)
Lắng nghe là điểm nhấn nổi bật của tiến trình Thượng Hội đồng về tính hiệp hành, nhưng cũng là một trong những thách đố lớn nhất đối với đời sống Giáo hội hôm nay. Từ kinh nghiệm của Thượng Hội đồng 2021–2024 và thực tiễn tại châu Á, bài viết gợi mở những nguyên tắc và phương pháp giúp xây dựng một nền văn hóa lắng nghe, phân định và đồng trách nhiệm trong một Giáo hội hiệp hành.
Tóm tắt
Bài viết này khảo sát những chiều kích đa dạng của việc lắng nghe được hàm chứa trong Thượng Hội đồng về Tính Hiệp hành, đồng thời làm nổi bật một số thách đố do bối cảnh Châu Á đặt ra. Tiếp đó, bài viết xem xét các kết quả của tiến trình tham vấn Thượng Hội đồng tại Châu Á và xác định những yếu tố then chốt đã giúp tạo nên những kinh nghiệm lắng nghe phong phú, bất chấp những rào cản được dự liệu trước. Những yếu tố này bao gồm: một lập trường hài hòa về sự đón tiếp triệt để thể hiện trong lời nói và hành động; việc xây dựng các mối tương quan song song với việc kiến tạo các cơ cấu; sự hội nhập giữa thần học “từ trên xuống” và “từ dưới lên” thông qua một lối diễn giải mang tính lữ hành; và việc sử dụng các phương pháp tham vấn thể hiện một linh đạo hiệp thông. Bài viết thảo luận những yếu tố này trong đối thoại với các nghiên cứu thần học và huấn quyền của Giáo hội về các tiến trình hiệp hành, sensus fidei (cảm thức đức tin), và phương pháp thần học. Qua đó, việc làm sáng tỏ những yếu tố này có thể giúp khuyến khích việc lắng nghe hiệp hành theo những cách thức vừa hiệu quả về mặt thực hành vừa thích đáng về mặt thần học. Hy vọng điều này sẽ góp phần hỗ trợ những nỗ lực trong tương lai nhằm khai thác sensus fidei và cổ võ một cách thế hiện hữu của Giáo hội và cách làm thần học mang tính hiệp hành hơn.
***
DẪN NHẬP
Thượng Hội đồng về tính Hiệp hành trong Giáo hội Công giáo mang tính chưa từng có tiền lệ trên nhiều phương diện. Một trong những nét nổi bật của Thượng Hội đồng này là sự nhấn mạnh đến việc lắng nghe, được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện chính thức, thông cáo báo chí, các bài diễn văn và tài liệu truyền thông, đến mức lắng nghe gần như đã trở thành đồng nghĩa với chính Thượng Hội đồng. Tuy nhiên, khái niệm lắng nghe trong Thượng Hội đồng này không phải là điều đơn giản. Có những phức tạp và thách đố nội tại trong hình thức lắng nghe được mong muốn và quy định cho Thượng Hội đồng. Những kinh nghiệm cụ thể trong việc triển khai tiến trình Thượng Hội đồng cũng đã tạo ra nhiều kết quả bất ngờ, đồng thời cung cấp những bài học giá trị liên quan đến phương pháp luận và thực hành cho một Giáo hội hiệp hành. Trong bài viết này, tôi sẽ bàn đến hình thức lắng nghe mà Thượng Hội đồng nhắm tới, những thách đố được dự liệu trong việc thực hiện, đặc biệt trong bối cảnh châu Á, và những kết quả phát sinh từ tiến trình này. Tiếp đến, tôi sẽ đề xuất một chìa khóa mang tính Thần khí học (pneumatological key) để nhìn những kinh nghiệm này, đồng thời triển khai những bài học có thể rút ra cho một phương pháp lắng nghe sinh hoa kết quả trong Giáo hội và xa hơn nữa.
Ở bình diện cá nhân, tôi đã tham gia cách mật thiết vào việc thiết kế và đồng hành với công việc ở cấp Giáo hội hoàn vũ cũng như trong khu vực châu Á. Cách tiếp cận của tôi trong nghiên cứu này dựa trên những kinh nghiệm trực tiếp của bản thân, cũng như phân tích tiến trình Thượng Hội đồng toàn cầu đã diễn ra cho đến nay, đồng thời đối chiếu với dữ liệu thu thập từ các Giáo hội tại châu Á. Cách riêng, tôi sẽ xem xét lại và làm nổi bật các chứng từ trực tiếp từ các Bản Báo cáo Thượng Hội đồng của các Giáo hội địa phương, vốn là một nguồn dữ liệu phong phú nhưng tương đối chưa được khai thác đầy đủ từ thực địa. Những chứng từ này mở ra những cửa sổ quý giá giúp hiểu rõ thực tại của các bối cảnh địa phương, cũng như việc đón nhận tiến trình Thượng Hội đồng ở cấp cơ sở và tác động của những cách thức tiến hành cụ thể.[1] Tôi sẽ trình bày các dữ liệu này trong đối thoại với huấn quyền của Giáo hội và các nghiên cứu thần học gần đây về việc lắng nghe hiệp hành và sensus fidei, nhằm rút ra những nhận định về các phương pháp lắng nghe vừa hiệu quả trong bối cảnh cụ thể vừa hài hòa với truyền thống đức tin đang phát triển. Một số lĩnh vực nghiên cứu thần học và mục vụ trong tương lai cũng sẽ được nêu lên. Khi Thượng Hội đồng về Tính Hiệp hành tiến dần đến giai đoạn thực thi, tôi hy vọng nghiên cứu này sẽ góp phần củng cố tính hiệp hành ở cấp cơ sở, đặc biệt tại Châu Á, để những hy vọng và ước mơ được khơi lên nơi dân Chúa qua tiến trình này có thể được hiện thực hóa.
THƯỢNG HỘI ĐỒNG VỀ TÍNH HIỆP HÀNH VÀ NHỮNG CHIỀU KÍCH ĐA DẠNG CỦA VIỆC LẮNG NGHE
Một cách tiếp cận căn bản mới đối với Thượng Hội đồng Giám mục trong Giáo hội Công giáo lần đầu tiên được thể hiện rõ vào đầu năm 2021, khi có quyết định công bố việc hoãn khóa họp Thượng Hội đồng thêm một năm, từ tháng 10/2022 sang tháng 10/2023. Theo thông cáo báo chí của Văn phòng Thượng Hội đồng, quyết định này nhằm tạo điều kiện để áp dụng một “phương pháp mới” được hình dung là sẽ “làm cho việc lắng nghe thực sự Dân Chúa trở nên khả thi, hầu bảo đảm sự tham gia của tất cả mọi người.”[2] Cụ thể, phương pháp này bao hàm một tiến trình nhiều giai đoạn, có tính lặp lại và kéo dài hơn, đòi hỏi những nỗ lực chuyên biệt ở các cấp giáo phận, châu lục và hoàn vũ. Trích dẫn Tông hiến Episcopalis Communio, thông cáo báo chí kêu gọi “việc cùng nhau lắng nghe Chúa Thánh Thần ở mọi cấp độ của đời sống Giáo hội”, bao gồm “tất cả những người đã lãnh Phép Rửa, là chủ thể của sensus fidei, bất khả sai lầm in credendo (trong việc tin).”[3] Đức Hồng y Mario Grech, trong một trong những cuộc phỏng vấn đầu tiên với tư cách là Tổng Thư ký Thượng Hội đồng vừa được bổ nhiệm, đã nhận định rằng những thay đổi này được thực hiện vì “thời điểm đã chín muồi cho một sự tham gia rộng rãi hơn của Dân Chúa vào tiến trình đưa ra quyết định, vốn ảnh hưởng đến toàn thể Giáo hội và mọi thành phần trong Giáo hội.[4] Vài tháng sau đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắc lại quan điểm này trong diễn văn dành cho Giáo phận Rôma và nhấn mạnh rằng “việc thực thi sensus fidei … không phải là việc thu thập ý kiến, không phải là một cuộc khảo sát, mà là vấn đề lắng nghe Chúa Thánh Thần.”[5]
Tất cả những nhận định này cho thấy tính phức tạp nội tại trong khái niệm lắng nghe của Thượng Hội đồng. Có thể xác định ít nhất ba chiều kích của việc lắng nghe, mỗi chiều kích có bản chất riêng và đòi hỏi những năng lực khác nhau. Thứ nhất, mỗi người tham gia tiến trình Thượng Hội đồng “lắng nghe”, hay chính xác hơn là ghi nhận, những trực giác, cảm xúc, kinh nghiệm và quan điểm cá nhân của mình khi đáp lại các câu hỏi của Thượng Hội đồng, phù hợp với bản chất của sensus fidei như một “bản năng sống động” hay một “tri thức tự phát và tự nhiên” theo cách mô tả của Ủy ban Thần học Quốc tế (ITC).[6] Thứ hai, các tham dự viên chia sẻ những phản hồi đó với nhau và chăm chú lắng nghe lẫn nhau. Thứ ba, qua các cuộc đối thoại đó, họ cùng nhau nỗ lực lắng nghe Chúa Thánh Thần. Như vậy, có một sự vận hành đồng thời các giác quan thể lý, trí năng, cảm xúc, xã hội và thiêng liêng. Văn phòng Thượng Hội đồng đã sử dụng thuật ngữ “phân định” để nói về các tiến trình tham vấn này.[7] Đồng thời, Văn phòng cũng mời gọi các giám mục trong mỗi Hội đồng Giám mục quy tụ lại với nhau sau các cuộc tham vấn địa phương để “lắng nghe điều mà Thánh Thần đã gợi hứng nơi các Giáo hội được trao phó cho các ngài.”[8] Điểm sau cùng này giới thiệu một chiều kích thứ tư của việc lắng nghe, được thực hiện ở bình diện “siêu cấp” (meta-level) bởi các giám mục trong hội nghị, suy tư về kết quả của các cuộc đối thoại tại các Giáo hội địa phương, trong đó chính các ngài có thể đã trực tiếp tham gia. Thực tế, việc thực hành tiến trình Thượng Hội đồng cho thấy nhiều tầng mức lắng nghe ở bình diện siêu cấp, trong đó các bản báo cáo nhóm được tập hợp lại và được suy tư chung để đi đến một bản tổng hợp. Trong các Giáo hội địa phương, thường có nhiều cấp độ lắng nghe siêu cấp nối tiếp nhau, bắt đầu từ các cộng đoàn nhỏ trong khu xóm, đến các khu cư trú, giáo xứ, giáo hạt và giáo phận.
Tính cộng đoàn, đa tầng và đa chiều của việc lắng nghe này chính là yếu tố phân biệt Thượng Hội đồng hiện nay với những nỗ lực trước đây nhằm khai thác sensus fidei. Trong những thế kỷ trước, công việc này chủ yếu bao gồm việc điều tra và xác định xem các tín hữu đã tin và thực hành điều gì.[9] Trong các Thượng Hội đồng gần đây hơn, việc tham vấn thường mang hình thức thu thập các phản hồi và kinh nghiệm từ những nhóm người liên quan. Tuy nhiên, Thượng Hội đồng hiện tại kêu gọi toàn thể Giáo hộibước vào một tiến trình phân định cộng đoàn mang tính đồng bộ và phối hợp, nhằm khám phá điều mà Chúa Thánh Thần đang mời gọi Giáo hội. Việc lắng nghe đi kèm với tiến trình này thậm chí còn mở rộng đến những người thường được xem là ở bên ngoài Giáo hội, bao gồm các tín đồ của những tôn giáo khác, các nhóm thế tục và các cộng đồng địa phương, với sự quan tâm đặc biệt dành cho những người ở bên lề xã hội. Điều này biểu thị một chiều kích lắng nghe khác nữa, trong đó các tín hữu được nhắc nhở “không được bỏ qua tất cả những ‘trực giác’ được tìm thấy ở những nơi mà chúng ta ít ngờ tới nhất.”[10] Đây là một sự lắng nghe chăm chú các dấu chỉ của thời đại. Dẫu mang tính bao quát và đòi hỏi nhiều nỗ lực như vậy, mục tiêu của Thượng Hội đồng vẫn còn vượt xa hơn nữa. Vademecum dành cho Thượng Hội đồng nhấn mạnh rằng “toàn bộ tiến trình hiệp hành nhằm thúc đẩy một kinh nghiệm sống về phân định, tham gia và đồng trách nhiệm, trong đó sự đa dạng của các ân huệ được quy tụ lại cho sứ mạng của Giáo hội trong thế giới.”[11] Nói cách khác, việc phân định cộng đoàn, cùng với việc lắng nghe đi kèm, không chỉ đơn thuần là một phương tiện để đạt tới một mục đích. Mục tiêu là để con người có được một kinh nghiệm cụ thể về tính hiệp hành qua chính tiến trình lắng nghe đó. Lần đầu tiên, chủ đề của Thượng Hội đồng không chỉ được bàn luận mà còn được trực tiếp trải nghiệm. Vì vậy trải nghiệm tập thể này được hình dung là sẽ chiếu tỏa một luồng sáng mới về tính hiệp hành và về cách thế Giáo hội được mời gọi sống hiệp hành một cách trung thành hơn. Chính tại đây xuất hiện một chiều kích sau cùng của việc lắng nghe, có thể được diễn tả như là “lắng nghe chính việc lắng nghe.” Toàn bộ kinh nghiệm được cộng đoàn quan sát và suy tư, để đạt được sự hiểu biết về chính mình, để nhận ra Chúa Thánh Thần đang dẫn dắt đi về đâu, và từ đó đáp trả một cách thích hợp. Điều này biểu thị một cách tiếp cận năng động đối với giáo hội học xét như một truyền thống sống động đang tiến về phía trước nhờ sự thực hành lắng nghe mang tính tích cực và tham gia.
Những cách thức tiến hành được mong đợi trong Thượng Hội đồng tìm thấy sự cộng hưởng rõ nét trong các nghiên cứu thần học gần đây về việc lắng nghe hiệp hành, phân định và sensus fidei. Chẳng hạn, Ormond Rush nhấn mạnh đến sự đảo chiều về giáo hội học do Công đồng Vaticanô II thực hiện, khi Công đồng đặt phẩm giá bí tích Rửa tội và sự đồng trách nhiệm của toàn thể Dân Chúa lên hàng ưu tiên, trước mọi phân biệt về chức vụ hay tác vụ mang tính giáo hội. Ormond Rush cũng làm nổi bật giáo huấn của Công đồng về sensus fidei được Chúa Thánh Thần ban cho toàn thể các tín hữu. Do đó, việc lắng nghe “điều mà Chúa đang đòi hỏi Giáo hội của Người hôm nay” liên quan đến mọi người.[12] Tương tự, Hervé Legrand nhấn mạnh rằng “nếu [Giáo hội] là đền thờ của Chúa Thánh Thần, thì điều này có nghĩa là toàn bộ các ân huệ của Thần Khí, trong sự đa dạng của chúng, chỉ có thể được tìm thấy nơi toàn thể Dân Chúa; và vì không một Kitô hữu nào, cũng như không một Giáo hội nào, có độc quyền trên các ân huệ ấy, nên điều này hàm ý một hệ thống lắng nghe lẫn nhau và đồng trách nhiệm.”[13] Cụ thể hơn, Dario Vitali nhấn mạnh nhu cầu về sự lắng nghe hỗ tương giữa Huấn quyền và toàn thể Dân Chúa, trong ánh sáng của sensus fidei.[14] Khi triển khai phân định cộng đoàn như phương thế cho sự lắng nghe hỗ tương này, Jos Moons nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc “lên tiếng”, tức là chia sẻ “điều mà một người tin là sự gợi hứng của Thần Khí”, dựa trên cầu nguyện và trên việc “suy nghĩ trước khi nói”, cùng với những yếu tố khác.[15] Ông cũng nhấn mạnh thái độ lắng nghe lẫn nhau với sự quan tâm chân thành nhằm nhận ra điều mà Chúa Thánh Thần đang mạc khải trong cuộc đối thoại.[16] Cùng chiều hướng đó, Amanda Osheim nhấn mạnh tầm quan trọng của “cầu nguyện, đối thoại và tự phản tỉnh”, cũng như việc lắng nghe lẫn nhau.[17] Những quan điểm này cộng hưởng với ba cấp độ lắng nghe đầu tiên được hình dung trong Thượng Hội đồng như đã bàn ở trên. Myriam Wijlens gợi lại khẳng định của Công đồng Vaticanô II rằng “Giáo hội hiện hữu trong và từ các Giáo hội địa phương”, và rằng “tính tuần hoàn giữa các thực thể khác nhau”, bao gồm Giáo hội địa phương, khu vực và hoàn vũ, sẽ làm phong phú cho nhau.[18] Vì thế, việc đón nhận sự gợi hứng của Thần Khí cách phong phú đòi hỏi nhiều vòng lắng nghe ở bình diện siêu cấp như đã được hoạch định trong Thượng Hội đồng hiện nay, với sự chú tâm trân trọng từng cộng đoàn cơ sở, “các giáo phận lân cận,”[19] và cho Giáo hội rộng lớn hơn. Wijlens cũng gợi đến phương pháp nghiên cứu–hành động (action-research) trong Thượng Hội đồng và nhận định rằng “đối tượng đồng thời cũng chính là phương pháp… Vì thế, Giáo hội được triệu tập trong Thượng Hội đồng có thể gặt hái một số hoa trái của sự hoán cải hiệp hành, khi mọi người cùng tham gia trải nghiệm tiến trình ấy, suy tư về nó và chia sẻ những điều đã học hỏi được.”[20] Điều này làm nổi bật tầm quan trọng của việc “lắng nghe chính việc lắng nghe” như đã được nhấn mạnh trên đây.
NHỮNG THÁCH ĐỐ TRONG BỐI CẢNH Á CHÂU
Các mục tiêu của Thượng Hội đồng, dù cao đẹp đến đâu, vẫn phải đối diện với nhiều thách đố trong bối cảnh Á châu. Một tỷ lệ khá lớn dân chúng đang phải vật lộn với những bất ổn hằng ngày do nghèo đói, xung đột và sự áp bức mang tính cơ cấu. Những thực tại khắc nghiệt này, cùng với sự cách trở về địa lý, các định kiến xã hội ăn sâu và sự đa dạng của các ngôn ngữ địa phương, tạo nên những rào cản đáng kể đối với tiến trình hiệp hành. Hơn nữa, một nền văn hóa mang tính phẩm trật chiếm ưu thế trong nhiều xã hội Á châu, trong đó việc lắng nghe thường được gắn liền với sự vâng phục vô điều kiện đối với những người trên, người lớn tuổi và người có thẩm quyền. Việc đảo ngược chiều hướng của lắng nghe sẽ không dễ được đón nhận từ cả hai phía. Như đã được ghi nhận trong bản báo cáo Thượng Hội đồng của Trung Á: “Người dân của chúng tôi không quen tham gia vào bất kỳ hình thức ‘hiệp hành’ minh nhiên nào, cũng như không quen đánh giá một cách công khai, qua thảo luận mở, hoạt động hay ý hướng của những người nắm giữ thẩm quyền trong xã hội, gia đình hay tôn giáo.”[21] Tương tự, báo cáo từ Pakistan nhấn mạnh rằng “các linh mục và trưởng các ủy ban thường có xu hướng chuẩn hóa quan điểm của giáo dân nhằm tạo sự hài hòa”, do đó họ quen với việc nói và can thiệp hơn là lắng nghe.[22] Ngay cả giữa những người ngang hàng với nhau, việc phát biểu cách thẳng thắn với parrhesia (mạnh dạn) hay bày tỏ sự bất đồng và các quan điểm trái chiều vẫn là những hành vi mà nhiều người Á châu, vốn khá dè dặt, thường tránh né. Báo cáo Thượng Hội đồng từ Nhật Bản ghi nhận rằng “rất khó để quy tụ tiếng nói của những người mà ngay cả khi họ đến nhà thờ cũng không muốn phát biểu”.[23]
Ngoài việc lắng nghe và lên tiếng, chính khái niệm tham gia vào một tiến trình tham vấn Thượng Hội đồng cũng xa lạ đối với nhiều giáo dân. Một lối tiếp cận mang tính đạo đức sùng mộ vẫn chiếm ưu thế tại phần lớn Á châu, nơi mà sự đồng trách nhiệm đối với sứ mạng và đời sống Giáo hội chưa được hiểu biết hoặc thực hành rộng rãi. Như được ghi nhận trong bản báo cáo của Malaysia: “Một số phản hồi tiêu cực và sự đón nhận hờ hững có thể xuất phát từ việc thiếu kiến thức và hiểu biết về Thượng Hội đồng, về tiến trình hiệp hành, cũng như về chức năng của giáo xứ, giáo phận và Giáo hội rộng lớn hơn.”[24]Thêm vào đó, sự thực hành phân định, dù ở bình diện cá nhân hay cộng đoàn, cũng chưa được biết đến rộng rãi, chứ chưa nói đến việc được hiểu và thực hành một cách thành thạo. Hệ quả là, nhìn chung người tham gia thiếu những kinh nghiệm nền tảng để có thể dựa vào. Tình trạng này càng trở nên trầm trọng hơn bởi thực tế là một số cơ cấu tham vấn mang tính giáo hội chưa thúc đẩy sự tham gia đích thực hoặc tạo ra những thay đổi cụ thể. Báo cáo từ Sri Lanka ghi nhận rằng: “Trong Giáo hội đã có những cơ cấu mục vụ hiệu quả, như hội đồng mục vụ giáo xứ, nơi người dân có thể lên tiếng và bày tỏ ý kiến. Tuy nhiên, giáo dân vẫn cảm thấy khó khăn khi lên tiếng.” Hệ quả là tại nhiều nơi đã hình thành một thái độ hoài nghi. Như được nêu bật trong báo cáo của Hàn Quốc: “Ngay từ đầu, trở ngại chính cần vượt qua là thái độ thụ động. Điều này đặc biệt rõ nét tại những giáo phận hầu như không trải nghiệm được những thay đổi có ý nghĩa từ các Công nghị của giáo phận họ”.[25]
KẾT QUẢ CỦA TIẾN TRÌNH
Bất chấp những thách đố này, tiến trình Thượng Hội đồng đã cho thấy một số kết quả tích cực đáng ghi nhận tại Châu Á. Cả mười bảy Hội đồng Giám mục thành viên của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) đều đã thành lập các nhóm hiệp hành và tiến hành tham vấn, ít nhiều theo phương thức được đề xuất trong Vademecum. Mặc dù tỷ lệ tham gia có khác nhau, nhưng nhìn chung mức độ đón nhận đã vượt quá mong đợi của hầu hết các nhóm hiệp hành. Một quan sát viên từ Malaysia nhận xét rằng phản hồi “cho thấy một làn sóng trỗi dậy từ nền tảng chưa từng thấy trước đây.”[26] Trên khắp các Giáo hội Á châu, một trong những phản ứng nổi bật nhất được ghi nhận là sự nhiệt thành. Đông Timor báo cáo rằng “qua các cuộc tham vấn từ nền tảng, chúng tôi đã khám phá được sự nhiệt thành và tinh thần tham gia của các tín hữu, điều thực sự rất đáng khích lệ.”[27] Tương tự, báo cáo từ Indonesia nhận định rằng “sự nhiệt thành của các tín hữu trong việc tham gia là rất cao; họ thực sự trân trọng tiến trình hiệp hành vì họ cảm thấy mình được lắng nghe và được chào đón.”[28] Một sự nhiệt thành tương tự cũng được thể hiện qua nhiều sáng kiến tự phát và xuất phát từ cơ sở nhằm sáng tạo, sản xuất và chia sẻ các tài liệu hỗ trợ và đồng hành với tiến trình hiệp hành. Những sáng kiến này trải rộng từ các bản trình bày đồ họa, video, bài hát và các bộ công cụ do các cá nhân đa dạng thực hiện, cho đến các cổng thông tin điện tử chuyên biệt và các tài nguyên huấn luyện do các tổ chức và trung tâm mục vụ cung cấp. Quan sát những sáng kiến mang tính chủ động này, nhóm tổng hợp cấp lục địa Châu Á bày tỏ quan điểm rằng “cảm thức quan tâm chung dành cho Giáo hội, được thể hiện qua sự tham gia của mọi người trong tiến trình này, phản ánh một khuynh hướng tự nhiên hay hữu cơ hướng tới tính hiệp hành đích thực.”[29] Cá nhân tôi, từ những quan sát của riêng mình về những diễn tiến này, xin bổ sung rằng dường như có điều gì đó tiềm ẩn trong tâm hồn con người đã được đánh thức và làm cho sống động.
Một kết quả khác tương đối bất ngờ tại Châu Á là sự cởi mở và trung thực trong cách mọi người lên tiếng. Điều này giúp tiến trình lắng nghe không chỉ thu thập những kinh nghiệm tích cực trong Giáo hội mà còn cả những kinh nghiệm đau khổ và buồn sầu. Những quan điểm tương phản lẫn nhau cũng được bộc lộ. Đặc biệt đáng chú ý là việc nhiều giáo dân đã thẳng thắn nói lên những vấn đề trong Giáo hội, bao gồm cả những trải nghiệm khó khăn của họ với hàng giáo sĩ và những vị lãnh đạo mục vụ khác. Những người tham gia đã thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót về tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự quan tâm mục vụ và năng lực nơi những người đang thi hành các thừa tác vụ. Chẳng hạn, báo cáo từ Myanmar nhận xét rằng “người dân đã phê phán những bài giảng nhấn mạnh đến tội lỗi và thất bại của những người tham dự phụng vụ, thay vì nhấn mạnh đến niềm vui được làm con cái Thiên Chúa”.[30] Những quan điểm tự phát này của các tín hữu có giá trị quan trọng, vì có khả năng chỉ ra sensus fidei liên quan đến một cách thức thi hành thừa tác vụ mang tính Tin mừng hơn. Tiếng nói của các nhóm thiểu số cũng được lắng nghe, và những chứng từ thẳng thắn về kinh nghiệm bị phân biệt đối xử đã được bày tỏ. Chẳng hạn, Giáo hội tại Việt Nam nhấn mạnh rằng “những người nước ngoài và người di dân trong nước cảm thấy bị cô lập và bị bỏ rơi do thiếu sự quan tâm xã hội và mục vụ, thậm chí đôi khi còn có cảm giác không được chào đón hoặc bị loại trừ.”[31] Báo cáo từ Lào vang vọng cùng tâm tình với nhiều Giáo hội Á châu khác: “Tiến trình tham vấn… đã mang lại những hoa trái bất ngờ: Dân Chúa đã lên tiếng; họ chia sẻ niềm vui, niềm hy vọng, những mối bận tâm, cũng như nhiều phê bình… Việc các Kitô hữu Lào dám chia sẻ điều họ nghĩ và hy vọng là minh chứng cho sự trưởng thành và khả năng đón nhận những thay đổi mang lại lợi ích cho Giáo hội địa phương.”[32]
Trên khắp Châu Á, kinh nghiệm hiệp hành đã tạo ra những trực giác mới mẻ về tính hiệp hành và về cách thức hiện diện của Giáo hội. Điều đáng lưu ý là những trực giác như thế thường đi kèm với những biểu hiện mạnh mẽ của niềm vui và sự an ủi thiêng liêng. Như được báo cáo tại Việt Nam: “Họ đã trải nghiệm niềm vui lớn lao khi tham gia tiến trình tham vấn vì nhiều lý do: (1) cảm nhận một ‘luồng gió mới’ đang thổi vào đời sống Giáo hội; (2) có cơ hội lắng nghe giáo huấn của Giáo hội và được cất lên tiếng nói của mình; (3) cảm nghiệm rõ rệt hơn rằng mình là những thành viên sống động của Giáo hội Đức Kitô.”[33] Tại Ấn Độ, một điều phối viên hiệp hành nhận xét rằng “thật ấm lòng khi biết rằng một số phụ nữ đã bật khóc khi được mời chia sẻ, vì đây là lần đầu tiên điều đó xảy ra trong Giáo hội.”[34] Hệ quả là báo cáo Thượng Hội đồng của Ấn Độ ghi nhận rằng “kinh nghiệm quan trọng nhất là tất cả những người tham gia tham vấn đã nhận ra sự hiệp thông của họ với nhau.”[35] Tại nhiều quốc gia, nhận thức này đi kèm với mong muốn những người vắng mặt và những người ở vùng ngoại biên tham gia ngày càng nhiều hơn. Cách riêng, các tham dự viên đã có thể nhận diện những nhóm bị gạt ra bên lề trong bối cảnh sống của mình, bị Giáo hội địa phương bỏ quên, ngoài những ví dụ được nêu trong các tài liệu hướng dẫn chính thức của Thượng Hội đồng.
Một sự biến chuyểnrõ rệt cũng đã được ghi nhận nơi một số Giáo hội. Chẳng hạn, tại Hàn Quốc, báo cáo cho biết rằng “hoa trái lớn nhất là nhiều thành phần Dân Chúa tại Hàn Quốc đã tham gia vào lộ trình hiệp hành, đào sâu sự hiệp thông và trải nghiệm Giáo hội hiệp hành. Kết quả là, Giáo hội Công giáo tại Hàn Quốc đã chứng kiến một ý chí và niềm hy vọng mạnh mẽ hơn trong việc thi hành sứ mạng của mình.”[36] Những cải thiện cụ thể trong nhiều khía cạnh của đời sống Giáo hội cũng đã diễn ra, chẳng hạn tại Philippines, báo cáo ghi nhận rằng “nhiều người nhận xét các cuộc tham vấn đã tác động tích cực đến việc cử hành phụng vụ” và rằng tiến trình hiệp hành “đã thành công trong việc thúc đẩy các giáo phận cuối cùng thực hiện việc bãi bỏ hệ thống ấn định chi phí khi xin cử hành bí tích (arancel system).”[37] Theo các báo cáo Thượng Hội đồng, một số người đã rời bỏ Giáo hội cũng bắt đầu quay trở lại sau các cuộc tham vấn hiệp hành. Do đó, vượt lên trên một bài tập mang tính tham gia nhằm trải nghiệm tính hiệp hành như dự kiến ban đầu, dường như đã xuất hiện những dấu chỉ của sự hoán cải mang tính cộng đoàn. Như nhóm Đài Loan diễn tả: “Bản báo cáo tổng hợp này không phải là điểm kết thúc, mà là khởi đầu của một phương thức đối thoại mới cho một Giáo hội hiệp hành tại Đài Loan.”[38]
SENSUS FIDEI VÀ TIẾN TRÌNH HOÁN CẢI NĂNG ĐỘNG: MỘT CHÌA KHÓA MANG TÍNH THÁNH LINH HỌC
Những phản hồi được mô tả trong các bản báo cáo tại tại Châu Á mang một mức độ tương đồng nhất định với mô tả của Ủy ban Thần học Quốc tế (ITC) về định hướng nội tâmcần thiết cho những biểu hiện xác thực của sensus fidei.[39] Các báo cáo ghi nhận nơi những người tham gia sự cởi mở, nhiệt thành, mối quan tâm đối với Giáo hội, khát vọng hiệp nhất, sự trung thành với truyền thống giáo huấn của Giáo hội, sự sẵn sàng tham gia tiến trình bằng cả đức tin lẫn lý trí, và trên hết là niềm vui, một niềm vui dường như tương tự niềm vui của “người đã tìm được kho tàng ơn cứu độ.”[40] Khi nghiên cứu những phản hồi này, nhóm tổng hợp cấp lục địa Châu Á đã bày tỏ nhận định rằng phần lớn các ý kiến và ước mong của dân Chúa, dù gắn liền với những trải nghiệm an ủi hay khô khan, đều chuyển tải “một tình yêu sâu xa dành cho Giáo hội.”[41] Tôi cho rằng một cảm thức đồng tâm với Giáo hội (sentire cum Ecclesia) đã phần nào được khơi dậy, và chính điều này đã làm cho người tham gia có thể tự do lên tiếng xuất phát từ đức tin và tình yêu. Điều còn có ý nghĩa hơn nữa là những dấu chỉ cho thấy hoạt động mang tính biến đổi của Chúa Thánh Thần nơi các cộng đoàn tham gia, qua đó kiến tạo một Giáo hội hiệp hành và thúc đẩy sự hoán cải ngay trong tiến trình lắng nghe. Chẳng hạn, báo cáo từ Hàn Quốc thuật lại rằng các tham dự viên khởi đầu với thái độ hoài nghi, nhưng “trong tiến trình quy tụ, lắng nghe và phân định, người tham gia tại nhiều cộng đoàn đã chia sẻ kinh nghiệm đức tin của mình, lắng nghe nhau, và cuối cùng đã xác tín rằng họ dần dần và ngày càng nhận ra cách mạnh mẽ sự hiện diện của Chúa Thánh Thần giữa họ.”[42] Tương tự như vậy, mặc dù ban đầu còn do dự, báo cáo từ Nhật Bản ghi nhận rằng “trong tiến trình thu thập ý kiến, đã xuất hiện một sự hiểu biết ngày càng sâu sắc rằng điều quan trọng là tất cả những ai đã lãnh nhận hồng ân Bí tích Thánh Tẩy đều được mời gọi cùng nhau bước đi, cùng chia sẻ và phân định sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Đấng đang kêu gọi họ… Mỗi tín hữu đã nhận ra tầm quan trọng của việc thường xuyên chia sẻ ‘tâm tình của mình đối với Giáo hội.’”[43]
Những chứng từ về sự biến đổi này mang những hệ luận quan trọng đối với tiến trình lắng nghe trong Thượng Hội đồng. Chúng cho thấy rằng một quan điểm đích thực không phải là điều đã hiện hữu sẵn, nhưng là một thực tại được hình thành dần dần, chín muồi qua một tiến trình tương tác lẫn nhau và hoán cải mang tính cộng đoàn. Những gì mỗi người tham gia ban đầu mang đến có thể chứa đựng một mầm mống trực giác đúng đắn, nhưng cũng có thể bao hàm những yếu tố đi ngược lại cảm thức đức tin của tín hữu (sensus fidei fidelis), bởi như ITC đã chỉ ra, trong “vũ trụ tinh thần” của các tín hữu có thể tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, những quan điểm này có thể ảnh hưởng và đôi khi làm sai lệch trực giác về sensus fidei.[44] Một tiến trình phân định cộng đoàn, đi kèm với sự hoán cải, có thể giúp hình thành một quan điểm được tinh luyện hơn, vốn biểu lộ cách chân thực hơn những gợi hứng của Chúa Thánh Thần, bởi vì quan điểm ấy phát xuất từ những tín hữu đã cùng nhau lớn lên trong đức tin, đức cậy và đức mến. Thật vậy, từ những kết quả ghi nhận được, có thể nói rằng câu trả lời cho câu hỏi của Thượng Hội đồng, Chúa Thánh Thần đang mời gọi Giáo hội thực hiện những bước đi nào để lớn lên trong tính hiệp hành, nằm ngay trong chính những tiến trình mà người tham gia đã và đang trải qua. Vì thế, thật hữu ích khi khảo sát toàn bộ tiến trình hiệp hành cho đến nay, nhằm nhận diện những yếu tố đã góp phần nuôi dưỡng một kinh nghiệm phân định cộng đoànvàhoán cải hiệp hành sinh hoa kết trái, đặc biệt khi đặt trong bối cảnh những rào cản đã được dự liệu tại Châu Á. Qua đó, điều này có thể làm sáng tỏ cách thức các nguyên tắc phương pháp luận được đề xuất trong các nghiên cứu thần học có thể được chuyển hóa thành thực hành mục vụ cụ thể. Dĩ nhiên, trong các vấn đề tôn giáo, đặc biệt khi Chúa Thánh Thần được nhìn nhận là tác nhân chính yếu, không thể xác lập hay đo lường mối tương quan nhân quả một cách dứt khoát. Tuy nhiên, phần tiếp theo sẽ trình bày một số yếu tố đã tương đối nổi bật trong Thượng Hội đồng này và cho thấy tác động rõ nét hơn nơi các tham dự viên cũng như nơi các kết quả đạt được.
NHỮNG YẾU TỐ THEN CHỐT GIÚP TIẾN TRÌNH LẮNG NGHE SINH HOA KẾT TRÁI
Những yếu tố chính đã góp phần nâng cao hiệu quả của giai đoạn lắng nghe trong tiến trình hiệp hành có thể được quy về bốn yếu tố then chốt. Các yếu tố này bao gồm: một lập trường đón tiếp triệt để được truyền đạt cách nhất quán qua lời nói và hành động; việc xây dựng các mối tương quan song hành với các cơ cấu; sự hội nhập giữa thần học “từ trên xuống” và “từ dưới lên” thông qua một lối diễn giải mang tính lữ hành; và việc sử dụng các phương pháp tham vấn thể hiện một linh đạo hiệp thông.
Một lập trường đón tiếp triệt để được truyền đạt nhất quán qua lời nói và hành động
Phù hợp với cách tiếp cận dung nạp của Thượng Hội đồng, một thông điệp đã được mạnh mẽ truyền đạt về tiến trình lắng nghe là: mọi người đều được chào đón và không ai bị loại trừ. Thông điệp này đã được lặp lại nhiều lần trong các văn kiện Thượng Hội đồng và tài liệu phát hành, trong các tuyên bố trước truyền thông của các viên chức Thượng Hội đồng, và đặc biệt trong các bài diễn văn của Đức Giáo hoàng Phanxicô.[45] Một khía cạnh cốt yếu của tính dung nạp và sự đón tiếp triệt để này là sự khuyến khích mọi người lên tiếng cách tự do, trung thực và xác tín, bởi vì mọi tiếng nói đều quan trọng, nhất là tiếng nói của những người ở bên lề. Theo quan điểm của tôi, lập trường dung nạp như thế không những phù hợp với phẩm giá và tính độc đáo của mỗi nhân vị con người như được khẳng định trong nhân học Công giáo, mà còn thừa nhận khả thể, như được ITC nhấn mạnh, rằng đôi khi chính những “nhóm thiểu số” và “những người bé mọn” lại có thể làm chứng cách xác thực hơn cho đức tin chân chính.[46] Vì thế, Vademecum đã cố ý nhấn mạnh rằng: “chúng ta phải đích thân vươn tới các vùng ngoại biên, đến với những người đã rời bỏ Giáo hội, những người hiếm khi hoặc chưa bao giờ thực hành đức tin, những người đang sống trong cảnh nghèo đói hoặc bị gạt ra bên lề, người tị nạn, những người bị loại trừ, những người không có tiếng nói, v.v.”[47] Vademecum cũng nhấn mạnh rằng các quan điểm thiểu số hoặc khác biệt cần được đưa vào bản báo cáo tham vấn cuối cùng. Đội ngũ truyền thông của Văn phòng Thượng Hội đồng đã củng cố thông điệp này qua việc sử dụng các bản tin và nền tảng mạng xã hội để giới thiệu những nỗ lực tiếp cận các nhóm thường bị gạt ra bên lề như người khuyết tật, người di dân và cộng đồng LGBTQ+. Hơn nữa, để phù hợp với hình ảnh đón tiếp, nhiều tài liệu truyền thông và quảng bá của Thượng Hội đồng cũng mang tính đột phá về mức độ thân thiện với người sử dụng và giàu tính trực quan.
Tất cả những sáng kiến này ở cấp hoàn vũ dường như đã phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy các Giáo hội địa phương chú ý hơn đến tính dung nạp và sự đón tiếp, đồng thời phần nào giúp giảm thiểu sự kỳ thịvốn đã ngăn cản việc tham gia hoặc thậm chí việc nhìn nhận công khai một số nhóm nhất định. Kết quả là nhiều nhóm hiệp hành tại châu Á đã nỗ lực vượt mức thông thường để mở rộng sự tham gia. Chẳng hạn, báo cáo từ Ấn Độ nhấn mạnh rằng “sự tận tụy của các nhóm tổ chức thật đáng trân trọng; một số đã thực hiện những chuyến đi dài tới các làng mạc xa xôi và làm việc trong khung thời gian mà người dân có thể dành ra.”[48] Tương tự, báo cáo từ Hàn Quốc ghi nhận rằng “một số giáo phận đã nổi bật trong việc nỗ lựcđặc biệt để lắng nghe tiếng nói của những người ở bên lề, như các tín hữu nguội lạnh, người khuyết tật, người di dân, người tị nạn, người thuộc nhóm thiểu số về xu hướng tính dục, người đào thoát từ Bắc Triều Tiên, cũng như… các tín đồ thuộc các tôn giáo và hệ phái Kitô khác, và xã hội dân sự.”[49] Những cử chỉ này đã tạo nên sự khác biệt đối với những người tham gia được nhắm tới, đặc biệt là những người lần đầu tiên cảm thấy mình được dung nạp, như được chứng thực trong báo cáo của Ấn Độ rằng “những nỗ lực của các nhóm hiệp hành gồm giáo dân, tu sĩ và linh mục đã chạm đến trái tim của những người mà họ gặp gỡ.”[50]
Một lập trường đón tiếp triệt để đòi hỏi thêm những nỗ lực nhằm thích nghi tiến trình lắng nghe với từng nhóm dân cư cụ thể. Trong bối cảnh châu Á, điều này thường có nghĩa là phải dịch các tài liệu Thượng Hội đồng sang rất nhiều ngôn ngữ địa phương, bằng cách cẩn trọng tìm kiếm và sử dụng những thuật ngữ bảo đảm sự tiếp nhận đúng đắn trong từng nền văn hóa. Các câu hỏi cũng được điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh và khả năng của từng nhóm đối tượng. Một số nhóm hiệp hành còn thực hiện những điều chỉnh xa hơn để thích nghi với sinh kế của người dân, nhất là khi sinh kế ấy cản trở sự hiện diện của họ trong cộng đoàn Giáo hội. Trong những trường hợp này, việc lắng nghe thường cần nhiều thời gian hơn để triển khai. Như được báo cáo từ Pakistan: “Thật khó để thu hút những người không thường xuyên đến nhà thờ, vì thế các cuộc gặp gỡ đã được tổ chức với công nhân lò gạch, nông dân và các nhóm bị bỏ quên khác. Sau những tiếp xúc thường xuyên và nhiều đợt tham vấn, họ đã chia sẻ thông tin, các vấn đề và kỳ vọng của họ đối với Giáo hội”.[51] Philippines cũng báo cáo rằng “một giáo xứ đã bồi hoàn khoản thu nhập bị mất trong ngày lao động của các thành phần, vì họ đã mất thu nhập khi tham dự các cuộc tham vấn”[52] Đôi khi, phải có thêm những điều chỉnh bổ sung để bảo đảm các điều kiện cho việc tự do phát biểu. Chẳng hạn, báo cáo từ Ấn Độ chỉ ra rằng “những nỗ lực đặc biệt nhằm khuyến khích các phản hồi thẳng thắn đã được thực hiện trong một số bối cảnh văn hóa, như việc tổ chức các nhóm tham vấn chỉ dành cho phụ nữ.”[53] Hơn nữa, trong các nền văn hóa Châu Á nơi tính tương quan được đề cao, một cách tiếp cận mang tính cá nhân và không chính thức cũng tỏ ra hiệu quả. Liên quan đến điều này, một người trả lời tại Philippines, tự nhận là một “tín hữu Công giáo khô khan”, đã chia sẻ chứng từ sau: “Tôi được một người bạn thân mời và vì tôn trọng lời mời đó nên tôi đã tham dự. Thật đáng nhớ khi chúng tôi chia sẻ các kinh nghiệm… Điều đó khiến tôi khao khát hơn trong việc tìm hiểu về Thiên Chúa và đọc Lời của Ngài.”[54] Bổ sung cho cách tiếp cận trực tiếp này, tiến trình hiệp hành còn bao gồm các kênh tiếp cận trực tuyến như Thượng Hội đồng Kỹ thuật số (Digital Synod), vốn kết nối thành công với nhiều người đã rời bỏ Giáo hội hoặc thường sống ở các vùng ngoại biên. Tất cả những kết quả này cho thấy rằng khi các cử chỉ ở cấp hoàn vũ và địa phương hỗ trợ nhau trong việc truyền đạt một lập trường rõ ràng về sự đón tiếp triệt để qua lời nói và hành động, không khác với gương mẫu mà Đức Kitô đã thể hiện trong các Tin Mừng, thì chúng có thể thúc đẩy sự tham gia của những người vốn dĩ sẽ bị bỏ sót trong tiến trình lắng nghe.
Xây dựng các mối tương quan song song với các cơ cấu
Yếu tố thứ hai có thể được nhận diện là đóng góp đáng kể cho một tiến trình lắng nghe sinh hoa kết trái chính là việc xây dựng các mối tương quan song hành với việc kiến tạo các cơ cấu. Lần đầu tiên, Thượng Hội đồng bao gồm một giai đoạn lắng nghe ba tầng, tương ứng với các cấp địa phương, châu lục và hoàn vũ, đồng thời diễn ra song song với các cuộc tham vấn trong các hiệp hội vượt qua ranh giới địa lý như các cộng đoàn tu trì và giáo dân, các bộ của Tòa Thánh, và các cơ sở giáo dục đại học. Những địa hạt (loci) lắng nghe đa dạng này không chỉ đơn thuần là các cơ cấu nhằm đạt hiệu quả tổ chức. Trái lại, chúng cộng hưởng với những dấu chỉ thần học và xã hội về căn tính, sự thuộc về và sứ mạng. Hơn nữa, như Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh và triển khai sâu rộng trong các trước tác thần học, Giáo hội hiện diện trọn vẹn trong mỗi Giáo hội địa phương với những bối cảnh đặc thù của mình. Do đó, cơ cấu của tiến trình tham vấn đã giúp Thượng Hội đồng thu nhận những quan điểm đa dạng từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Các bản báo cáo cũng được tổng hợp và luân chuyển trở lại để các cộng đoàn có thể tiếp tục phản hồi và đào sâu suy tư từ chính bối cảnh của mình. Điều này cho phép toàn thể Giáo hội, từ các cộng đoàn cơ sở đến cấp giáo tỉnh, châu lục và hoàn vũ, bước vào một cuộc đối thoại hỗ tương. Tính tuần hoàn cũng được thể hiện trong các phiên họp của đại hội Thượng Hội đồng, nơi các phiên họp toàn thể và các nhóm nhỏ luân phiên trong các cuộc đối thoại, suy tư, phản hồi và điều chỉnh các bản tổng hợp. Tương tự, các cộng đoàn ở cấp giáo xứ cũng quy tụ với nhau theo những giai đoạn tiến triển dần. Mặc dù những vòng lặp này đòi hỏi thêm nỗ lực và đôi khi có thể tạo cảm giác lặp lại, nhưng chúng đã thúc đẩy đối thoại sâu rộng hơn và dẫn tới những kết quả vừa mạch lạc hơn vừa được làm phong phú theocấu trúc đa diện (polyhedral), đồng thời tạo điều kiện cho những kinh nghiệm cụ thể về tính hiệp hành. Như được nêu bật trong bản tổng hợp châu lục của Châu Á: “Điều mà Tài liệu cho Giai đoạn châu lục (DCS) đã làm được là trở thành chất xúc tác cho những cuộc đối thoại thiêng liêng sâu sắc hơn. Ở nhiều nơi, tài liệu này thực sự được cảm nghiệm như một khoảnh khắc sống động của tính hiệp hành trong Giáo hội, thông qua một tiến trình chia sẻ căn tính và trách nhiệm.”[55] Tôi xin bổ sung rằng cách thức Thượng Hội đồng thúc đẩy tính tuần hoàn đã cụ thể hóa khái niệm thần học về “tính tương tại” (perichoresis) hiện sinh giữa các cấp địa phương, hoàn vũ và mọi cấp khác của Giáo hội.[56]
Trong tiến trình tham vấn, các cơ cấu hiện có đã được tận dụng, đồng thời những cơ cấu mới cũng được hình thành. Một số giáo phận dựa vào các ủy ban mục vụ chính thức của mình, trong khi những giáo phận khác thành lập các nhóm mới chuyên biệt cho Thượng Hội đồng. Một phụ lục của báo cáo từ Philippines cho biết rằng “đa số các nhóm Thượng Hội đồng đã thiết lập các tiểu ban phụ trách những mối quan tâm khác nhau: chương trình, truyền thông, linh đạo, soạn thảo bản tổng hợp, nội dung, điều phối viên, người trả lời, hậu cần công nghệ thông tin, công việc thư ký, lưu trữ hồ sơ, v.v.”[57] Cái nhìn chi tiết này về những thực tại cụ thể ở cấp cơ sở trong việc vận hành theo hướng hiệp hành đã làm sống động các nguyên lý thần học liên quan đến việc nhận diện, kích hoạt và phối hợp các đặc sủng đa dạng. Song song với các cơ cấu, cũng có những nỗ lực chưa từng có trong việc xây dựng các mối tương quan và tiếp cận cá nhân. Chẳng hạn, Ban Thư ký Thượng Hội đồng đã tổ chức các cuộc họp thường xuyên với các Hội đồng Giám mục và các nhóm khác nhằm làm rõ phương pháp, khuyến khích sự tham gia, thúc đẩy học hỏi lẫn nhau, chia sẻ các thực hành tốt và trao đổi thông tin cập nhật. Đồng thời, cũng có nhiều kênh khác nhau để đặt câu hỏi và cung cấp phản hồi. Nhiều nhóm Thượng Hội đồng đã bày tỏ sự trân trọng đối với sự giao tiếp gần gũi hơn và tính cởi mở lớn hơn từ phía Ban Thư ký Thượng Hội đồng. Tại mỗi địa phương, việc đồng hành ngang hàng cũng được thúc đẩy thông qua các sáng kiến của các điều phối viên thuộc Hội đồng Giám mục và giáo phận. Sự tương tác liên giáo xứ này là điều mới mẻ đối với một số nhóm và đã mang lại kinh nghiệm cụ thể về việc cùng nhau bước đi vượt ra khỏi các ốc đảo giáo xứ khép kín. Trong chiều hướng này, Indonesia báo cáo rằng “tiến trình tham vấn trực tuyến giữa các đầu mối liên lạc của các giáo phận là rất hữu ích… Tiến trình cùng nhau lên đường, truyền cảm hứng cho nhau và hướng dẫn lẫn nhau được thể hiện rất rõ ở giai đoạn này.”[58] Tương tự, các đại hội cấp châu lục cũng đã trở thành chất xúc tác cho việc hình thành những cơ cấu cộng tác mới, những tình bạn mới, và một cảm thức thuộc về mạnh mẽ hơn.
Song song với việc xây dựng các mối tương quan, những nỗ lực có chủ ý nhằm trở nên linh hoạt và minh bạch hơn có thể được nhận thấy trong suốt tiến trình hiệp hành. Văn phòng Thượng Hội đồng đã thực hiện nhiều điều chỉnh như gia hạn thời hạn và sửa đổi tiến trình để đáp lại những phản hồi từ thực tế cơ sở. Đồng thời, cũng đã xuất hiện một mức độ minh bạch chưa từng có trong việc công bố các bản báo cáo, các tiến trình tổng hợp, thành phần của các nhóm chính thức khác nhau cũng như lý do cho các quyết định được đưa ra. Các viên chức cao cấp của Văn phòng Thượng Hội đồng cũng đã đích thân thăm viếng các Giáo hội địa phương và các khu vực trên khắp thế giới trong suốt tiến trình. Những sáng kiến này đã góp phần xây dựng lòng tin và thể hiện tinh thần hiệp hành. Đối với các Giáo hội tại Châu Á, việc nêu gương như thế từ các trung tâm thẩm quyền thường có sức ảnh hưởng lớn. Như được diễn tả trong báo cáo của Đông Timor: “Hàng giáo phẩm của Giáo hội phải tiếp cậnvà chủ động tạo dựng một bầu khí tin tưởng để các tín hữu có thể tham gia tích cực hơn vào sứ mạng của Giáo hội.”[59] Báo cáo này cũng ghi nhận rằng người dân ở cấp cơ sở kêu gọi “hàng giáo phẩm của Giáo hội không chỉ gặp gỡ các đại diện trong các hội đồng, mà còn lắng nghe tất cả các thành viên… mở lòng mình trước những vấn đề địa phương mà các thành viên của cộng đoàn và xã hội đang phải đối diện.”[60] Những phản hồi này từ Dân Chúa cộng hưởng với nhấn mạnh của Ủy ban Thần học Quốc tế (ITC) rằng “chính trong đời sống hiệp thông của Giáo hội mà Huấn quyền thi hành thừa tác vụ thiết yếu của mình là giám sát”, cho dù Huấn quyền vẫn mang trách nhiệm chung cuộc trong việc xác nhận sensus fidei.[61] Vì thế, những cuộc gặp gỡ đích thực và các mối tương quan nhân bản chân thành, chứ không phải những cơ cấu quan liêu vô danh, mới là điều làm cho các cơ cấu lắng nghe trở nên hiệu quả.[62]
Hội nhập thần học “từ trên xuống” và “từ dưới lên” qua một lối Chú giải Lữ hành[63]
Mặc dù các hướng dẫn của Thượng Hội đồng nhấn mạnh đến một thái độ cởi mở triệt để trong việc lắng nghe điều mà Chúa Thánh Thần đang mời gọi Giáo hội thực hiện, nhưng tiến trình này không khởi đi từ một trang giấy trắng. Các giáo huấn hiện có của Giáo hội về tính hiệp hành đã được truyền đạt cho những người tham gia như một phần cấu thành của tiến trình, đặc biệt qua Tài liệu Chuẩn bị và Vademecum. Đồng thời, một số lượng lớn các hoạt động huấn luyện cũng đã được khởi xướng bởi các giáo phận, các cơ sở giáo dục, các trung tâm mục vụ và các cá nhân trên khắp thế giới. Đáng chú ý là chính các câu hỏi suy tư được cung cấp trong các tài liệu chính thức đã mang tính giáo huấn về hiệp hành. Bên cạnh câu hỏi chính cho việc tham vấn, mười lĩnh vực đã được triển khai, mỗi lĩnh vực có những điểm nhấn cụ thể giúp khai triển khái niệm phức hợp của tính hiệp hành. Các câu hỏi cũng mời gọi việc rút ra từ những kinh nghiệm đời sống thực tế, suy tư sâu hơn về chúng và đối thoại với nhau xoay quanh những kinh nghiệm ấy. Do đó, tính sư phạm nền tảng của các câu hỏi không kém phần tính đào luyện về hiệp hành so với các giáo huấn thần học đi kèm. Đối với những người điều phối tiến trình lắng nghe, Vademecum đưa ra những bước hướng dẫn chi tiết được thiết kế nhằm mô phỏng một cách tiếp cận hiệp hành, chẳng hạn như việc hình thành các nhóm Thượng Hội đồng địa phương với thành phần đa dạng, và việc khuyến khích cộng tác vượt ra ngoài ranh giới giáo xứ. Nhìn chung, đã có một nỗ lực có chủ ý nhằm tăng cường tính hướng dẫn trong giai đoạn địa phương, giúp người dân có thể tổ chức và tham gia tiến trình lắng nghe một cách ý nghĩa hơn. Như được nêu bật trong báo cáo từ Myanmar: “Người dân của chúng tôi chưa bao giờ nghe nói đến hiệp hành như là bản chất của Giáo hội cho đến khi Thượng Hội đồng này được khai mạc.”[64] Tương tự, Nhật Bản báo cáo rằng tiến trình tham vấn đã thúc đẩy một sự hiểu biết ngày càng gia tăng về hiệp hành, vốn là “kết quả của những nỗ lực của Ban Thư ký Thượng Hội đồng tại mỗi giáo phận trong việc soạn thảo và giải thích nhiều tài liệu hữu ích khác nhau.”[65] Những chứng từ này củng cố quan điểm được ITC nhấn mạnh rằng thần học giữ một vai trò thiết yếu trong việc đào tạo, nhằm “làm sáng tỏ đức tin của Giáo hội” như được lưu truyền trong Kinh Thánh và Thánh Truyền, để sensus fidei có thể được biểu lộ cách xác thực hơn.[66]
Đồng thời, tiến trình hiệp hành cũng đã tạo không gian cho thần học “từ dưới lên”. Nếu không có sự trỗi dậy của suy tư thần học phát xuất từ kinh nghiệm, thì việc lắng nghe sẽ trở nên vô ích và các giáo huấn của Giáo hội về tính hiệp hành sẽ thiếu đi cơ hội để phát triển như một truyền thống sống động. Vì thế, hầu hết các hướng dẫn chính thức đều nhấn mạnh đến tính cởi mở và khả năng thích nghi với các thực tại bối cảnh trong tiến trình tham vấn Thượng Hội đồng, cũng như việc cho phép sự sáng tạo. Chính các câu hỏi suy tư cũng tìm kiếm những câu chuyện và góc nhìn địa phương, đồng thời khuyến khích người tham gia rút ra từ kinh nghiệm cá nhân của mình. Kết quả là những viễn tượng mang tính bối cảnh và văn hóa mới về hiệp hành đã được gặt hái. Chẳng hạn, báo cáo từ Philippines nhấn mạnh rằng “hành trình hiệp hành đã làm nổi bật tính hiệp hành vốn có trong văn hóa Philippines. Các biểu tượng và hình ảnh bản địa giúp khám phá chiều sâu của hiệp thông, tham gia và sứ mạng trong văn hóa Philippines.[67] Những điểm nhấn và chiều kích mới của hiệp hành, vốn chưa được đề cập trong các văn kiện hướng dẫn chính thức, cũng đã nảy sinh từ các cuộc tham vấn tại Châu Á. Những điểm này bao gồm gia đình như một không gian của hiệp hành, tầm quan trọng của các cộng đoàn giáo hội cơ bản, tính phức tạp của các mối tương quan liên tôn, sự phong phú của các cộng đồng bản địa, và vai trò trung tâm của việc hội nhập văn hóa. Những hoa trái đó là bằng chứng cho thấy đã có một không gian hiệu quả được tạo ra, cho phép những góc nhìn mới hoặc những điểm nhấn đặc thù xuất hiện, và từ đó làm phong phú thêm sự hiểu biết của Giáo hội về hiệp hành. Ở cấp độ hoàn vũ, Vademecum khuyến khích việc trích dẫn trực tiếp trong các báo cáo Thượng Hội đồng nhằm truyền tải sinh động hơn tiếng nói của những người tham gia. Tương tự, DCS (Văn kiện cho Giai đoạn châu lục địa) cũng bảo tồn tính toàn vẹn của các quan điểm xuất phát từ nền tảng cơ sở của Giáo hội. Cũng theo hướng đó, Instrumentum Laboris (Tài liệu Làm việc) cho khóa họp Thượng Hội đồng tháng 10/2023 đã trình bày những kết luận tạm thời và các câu hỏi nảy sinh từ tiến trình lắng nghe. Những cách tiếp cận này phù hợp với quan điểm thần học cho rằng “thực tại cụ thể của các hoàn cảnh hiện sinh” của các tín hữu, đặc biệt là giáo dân, làm phong phú kinh nghiệm của họ và đóng góp một cách không thể thiếu vào việc hoàn thiện giáo huấn của Giáo hội.[68]
Cộng hưởng với quan điểm này, Rush nhấn mạnh rằng “trực giác của Dân Chúa trong các bối cảnh hiện nay liên quan đến đức tin và luân lý, phải là một mối quan tâm hàng đầu trong tiến trình giảng dạy của hàng giáo phẩm.”[69] Tương tự, Wijlens chỉ ra rằng “đức tin sống động là một chứng từ và nguồn mạch quan trọng của đức tin, và vì thế là một locus theologicus (cơ sở thần học).”[70] Đồng thời, Moons nhấn mạnh rằng “điều này không loại bỏ những xác tín đức tin thiết yếu khác, chẳng hạn như sự mặc khải của chính Thiên Chúa nơi Đức Kitô.”[71] Những quan điểm của các học giả này cho thấy sự cần thiết phải đưa thần học “từ dưới lên” và “từ trên xuống” vào trong một lộ trình toàn diện. Luciani diễn tả sự hội nhập này một cách súc tích khi ông nhận định rằng “chính trong sự tương tác mang tính cộng đoàn [của ‘tất cả các chủ thể mang tính giáo hội’] mà các nội dung của đức tin được phân định và được tái diễn giải dưới ánh sáng của truyền thống và với sự trợ giúp của suy tư thần học từ một bối cảnh cụ thể, từ đó sản sinh ra điều gì đó mới mẻ.”[72] Kinh nghiệm hiệp hành cho thấy rằng việc điều hướng lộ trình này không phải không có những thách đố. Chẳng hạn, báo cáo từ Philippines ghi nhận rằng “cũng cần phải tái định hướng cho các điều phối viên về vai trò lắng nghe của họ, bởi vì họ vốn quen với việc giảng giải.”[73] Tại Malaysia, người ta nhấn mạnh rằng “hai thái cực đối lập đã xuất hiện: một bên cho rằng Giáo hội quá mang tính phẩm trật và cứng nhắc, cần có nhiều linh hoạt hơn; trong khi bên kia muốn thấy sự tôn nghiêm và truyền thống được khôi phục nhiều hơn trong Giáo hội, vì họ cảm thấy đã có quá nhiều sự nhượng bộ đối với chủ nghĩa hiện đại.”[74] Tại khóa họp Thượng Hội đồng hoàn vũ tháng 10/2023, các đóng góp Kinh Thánh và thần học cũng như việc chia sẻ kinh nghiệm đều là những thành phần không thể tách rời của các tài liệu họp và suy tư. Tuy nhiên, một số tham dự viên cảm thấy rằng có quá nhiều chú trọng đến các kinh nghiệm hiện tại mà chưa đủ quan tâm đến truyền thống và giáo huấn của Giáo hội, trong khi những người khác lại cho rằng chưa có đủ sự quan tâm đến trải nghiệm, đặc biệt là trải nghiệm của những người ở vùng ngoại biên. Thật vậy, mặc dù Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh đến sự tiến triển của Giáo hội trong sự hiểu biết về mặc khải thần linh, và sự tương tác năng động giữa Kinh Thánh, Thánh Truyền và kinh nghiệm sống như những trụ cột cấu thành của mặc khải, nhưng sẽ không bao giờ có những công thức chính xác về tỷ lệ tương đối của từng cực. Do đó, xung đột sẽ tiếp tục xảy ra và có lẽ chính chúng là điều cần thiếtđể Giáo hội tìm được sự quân bình thích hợp.
Theo quan điểm của tôi, một cách thức tiến hành mang lại hoa trái có thể là áp dụng một “lối chú giải mang tính lữ hành” (pilgrim hermeneutic) như Đức Giáo hoàng Phanxicô đề xuất.[75] Điều này hàm ý việc nhìn và diễn giải thực tại bằng nhãn quan của người đang lên đường trong dòng lịch sử, ý thức rằng mình luôn đứng tại giao điểm giữa quá khứ và hiện tại, giữa điều đã biết và điều còn chưa biết. Được định hướng bởi một chân trời tối hậu, người lữ hành như thế “luôn luôn đang lên đường” trong một bối cảnh không ngừng biến chuyển, nỗ lực trung thành với truyền thống “được khởi sự trong sách Công vụ Tông đồ”, đồng thời vẫn mở ra với những điều mới mẻ.[76] Vì thế, mỗi bước đi được thực hiện trong tinh thần khiêm tốn, cố gắng đạt tới sự toàn vẹn giữa quá khứ, hiện tại và tương lai được mong ước một cách chân thực nhất có thể, ngay cả giữa những rủi ro và học hỏi qua những thử nghiệm và sai sót. Đức Giáo hoàng nhấn mạnh rằng cách thức tiến hành này có thể được nuôi dưỡng “qua việc cầu nguyện và mở rộng đôi mắt để nhìn thấy mọi điều chung quanh; qua việc thực hành một đời sống trung tín với Tin Mừng; qua việc tìm kiếm câu trả lời trong mạc khải của Thiên Chúa.”[77] Tôi xin bổ sung rằng, lối chú giải mang tính lữ hành cũng luôn ghi nhớ rằng mầu nhiệm Thiên Chúa là vô tận và không bao giờ có thể được thấu hiểu trọn vẹn, cho dù biến cố Đức Kitô cấu thành mạc khải dứt khoát của Thiên Chúa. Cộng hưởng với điều này, Catherine Clifford nhấn mạnh lập trường của Đức Giáo hoàng Phanxicô về sự phát triển của tín lý, khi lưu ý rằng “Đức Phanxicô làm rõ rằng, mặc dù Đức Kitô đã mặc khải tình yêu cứu độ của Thiên Chúa dành cho chúng ta một lần là đủ, Giáo hội không bao giờ có thể khai thác cạn kiệt sự hiểu biết của mình về mầu nhiệm khôn dò ấy. Thật vậy, sự hiểu biết của Giáo hội về mặc khải có thể tăng trưởng và trưởng thành,” và Giáo hội có thể “học cách ‘diễn giải tốt hơn’ những gì mình đã lãnh nhận.”[78]
Theo tôi, nhiệm vụ then chốt là: giữa sự đa dạng của những kinh nghiệm, những phát triển văn hóa và khoa học, những dấu chỉ thời đại, và thậm chí những cách diễn giải khác nhau về truyền thống đức tin, Giáo hội cần tái khám phá cốt lõi của đức tin mỗi khi phải đối diện với những vấn nạn mới. Để đạt tới điều này, Ủy ban Thần học Quốc tế nhấn mạnh rằng sensus fidei soi sáng “cốt lõi của đức tin” và “những gì là thiết yếu cho một đức tin Công giáo đích thực.”[79] Đồng thời, sensus fidei cũng giúp tín hữu nhận diện những yếu tố trong thực hành hoặc giáo huấn tôn giáo chỉ mang tính tuỳ phụ hay “không thiết yếu”[80] và do đó có thể thích nghi với các bối cảnh cụ thể để sứ điệp cốt lõi của Tin mừng có thể được thực thi một cách trọn vẹn hơn. Như được trình thuật trong trong sách Công vụ Tông đồ của thánh Luca về Công đồng Giêrusalem (Cv 15,6-21), “cốt lõi của đức tin” này không phải là một công thức tín lý có thể được áp dụng cách máy móc cho mọi tình huống mới, như thể một thuật toán có thể thay thế vai trò của một cộng đoàn biết phân định. Trái lại, đó là một trực giác sống động, được tái khám phá và phát triển không ngừng từ nỗ lực chân thành của cộng đoàn trong việc thừa nhận những căng thẳng hiện tại, tạo ra những không gian cho việc lắng nghe và đối thoại đích thực, tăng trưởng trong sự hiểu biết về truyền thống lịch sử, và tìm kiếm mộtsự hoán cải liên lỉ hướng tới một sentire cum Ecclesia, để từ đó, theo thời gian, hình thành nên một sự đồng thuận được linh hứng bởi cùng một Thần Khí của Thiên Chúa.[81]
Các phương pháp tham vấn thể hiện Linh đạo Hiệp thông
Sau cùng, một trong những yếu tố có tác động sâu rộng nhất giúp tiến trình lắng nghe sinh hoa kết trái chính là phương pháp tham vấn được đề xuất trong Thượng Hội đồng này. Những yếu tố cốt yếu của phương pháp tham vấn bao gồm: sự gặp gỡ, sự bình đẳng trong tham gia, tính xác thực của đóng góp, chiều sâu thiêng liêng, nhận thức luận toàn diện, và sự hình thành mang tính tập thể. Như thế, phương pháp này thúc đẩy một “linh đạo hiệp thông” vốn củng cố những thái độ cần có để sensus fidei được biểu lộ một cách đích thực.[82] Phương pháp này đã chứng tỏ tính hiệu quả trong việc tạo điều kiện cho nhiều chiều kích của việc lắng nghe ,như đã được đề cập tới trên đây. Thực vậy, một quan sát viên đến từ Châu Á nhận xét rằng “tiến trình hiệp hành là một bước đột phá, bởi lần đầu tiên, dù các phương pháp có thể khác nhau đôi chút, toàn giáo phận cũng như Hội đồng Giám mục đều có một phương pháp nhằm tạo ra một ‘không gian an toàn’ cho những cuộc đối thoại về đức tin và đời sống.”[83] Trước sự đón nhận tích cực ấy, việc triển khai các yếu tố then chốt của phương pháp này là điều hữu ích.
Trước hết, nhằm thúc đẩy những cuộc gặp gỡ có ý nghĩa, Vademecum kêu gọi ưu tiên các cuộc gặp gỡ liên vị và mang tính cộng đoàn như hình thức tham vấn chính yếu, thay vì chỉ dựa trên các bảng khảo sát cá nhân hay những đóng góp đơn lẻ.[84] Đồng thời, sự đa dạng trong thành phần nhóm cũng được khuyến khích, qua đó giúp các tham dự viên khám phá thực tại của những người mà họ ít có dịp tiếp xúc. Trong bối cảnh Á châu, nơi các mối liên kết xã hội không chính thức thường là tiền đề quan trọng cho những cuộc đối thoại chuyên sâu, nhiều nhóm hiệp hành đã lồng ghép các khoảnh khắc sinh hoạt cộng đồng mang tính thân tình vào các buổi tham vấn. Chẳng hạn, báo cáo của Philippines nhấn mạnh rằng: “ẩm thực và tình hiệp thông luôn là một phần của trải nghiệm. Từ buổi quy tụ ban đầu cho đến từng cuộc tham vấn tại các giáo xứ và nhà nguyện, luôn có ‘salu-salo’ (chia sẻ bữa ăn).”[85] Cùng với nguyên tắc gặp gỡ, phương pháp tham vấn còn nhấn mạnh sự bình đẳng trong tham gia, thông qua các công cụ đối thoại bảo đảm mỗi người đều có cơ hội phát biểu ngang nhau, có thể tự do diễn đạt suy nghĩ của mình, đồng thời lắng nghe và hồi đáp người khác. Thông thường, một người điều phối sẽ hiện diện, với kỹ năng tạo bầu khí thuận lợi cho nhóm, khuyến khích tuân thủ các quy tắc đối thoại đã thống nhất, và điều chỉnh những bất cân xứng về quyền lực hay tuổi tác có thể ảnh hưởng đến sự tham gia. Nhờ đó, nhiều người tham dự tiến trình hiệp hành đã có thể lên tiếng với sự thẳng thắn can đảm (parrhesia). Như được ghi nhận tại Thái Lan, nơi sự kính trọng người lớn tuổi và bậc tiền bối ăn sâu trong văn hóa, “bầu khí các cuộc họp đã trở nên cởi mở và thúc đẩy đối thoại trực tiếp cũng như chia sẻ. Điều này giúp mọi người, nhất là giới trẻ, có thể mở lòng và can đảm bày tỏ quan điểm khác biệt của mình.”[86] Qua đó, “sự trao đổi ân huệ cho nhau”, vốn là yếu tố cốt yếu của tính hiệp hành, đã được hiện thực hóa.[87] Cũng quan trọng không kém là việc cổ võ những đóng góp mang tính xác thực, trong đó, sau khi chuẩn bị thích đáng, các tham dự viên chia sẻ cách chân thành từ chính kinh nghiệm của mình. Bởi lẽ, trong sensus fidei, “đối tượng cần chú ý không phải là ý kiến, mà là đức tin.”[88] Do đó, sự chuẩn bị cần thiết tập trung vàocầu nguyện và suy tư với các tài liệu được gợi ý, đồng thời được nâng đỡ bằng những hoạt động huấn luyện khi cần thiết liên quan đến chủ đề đang được bàn thảo.
Gắn liền với điều này, một yếu tố trung tâm khác của phương pháp tham vấn chính là chiều sâu thiêng liêng. Như được báo cáo tại Hàn Quốc: “Việc nhấn mạnh đến lắng nghe, phân định và cầu nguyện trong thinh lặng đã giúp lộ trình hiệp hành cấp giáo phận được cảm nghiệm như một tiến trình thiêng liêng, chứ không đơn thuần là một chuỗi các cuộc họp, thảo luận và soạn thảo bản tổng hợp.”[89] Các văn kiện hướng dẫn Thượng Hội đồng thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của cầu nguyện và sự chăm chú nội tâm trong sự chuẩn bị cá nhân cũng như trong đối thoại cộng đoàn. Nhiều gợi ý phong phú về phụng vụ và suy niệm Kinh Thánh cũng được cung cấp xuyên suốt tiến trình. Ở mọi cấp độ hội họp, những khoảnh khắc cầu nguyện và thinh lặng thường xuyên đã trở thành một nét đặc trưng của Thượng Hội đồng. Đại hội Thượng Hội đồng hoàn vũ thậm chí còn bao gồm một kỳ tĩnh tâm, một cuộc hành hương và những sự kiện cầu nguyện đặc biệt, bên cạnh việc cử hành Thánh Thể và các phụng vụ khác trong chương trình nghị sự. Tất cả những điều này đã giúp các tham dự viên gia tăng sự hiệp nhất với Sự Hiện diện của Thiên Chúa trong khi chia sẻ và phân định. Những biện pháp ấy đã cụ thể hóa cách sinh động mô tả sâu sắc của Richard Gaillardetz, khi ông cho rằng một Giáo hội hiệp hành là Giáo hội “vượt lên chính mình trong một tư thế cởi mở và sẵn sàng đón nhận sự tự-mạc-khải của Thiên Chúa”, và rằng “toàn thể Dân Kitô giáo được mời gọi lắng nghe Lời Thiên Chúa.”[90]
Việc lắng nghe xem Chúa Thánh Thần đang mời gọi điều gì nơi Giáo hội cũng đồng nghĩa với việc khởi sự tiến trình không phải từ những kết luận định sẵn, mà từ những câu hỏi mở, cùng với một thái độ tín thác triệt để vào sự đồng hành của Thiên Chúa. Đồng thời, chiều sâu thiêng liêng cũng bao hàm một trái tim bác ái, biết lắng nghe những người cùng đối thoại với tình yêu và lòng trắc ẩn.
Một yếu tố không thể thiếu khác của phương pháp tham vấn chính là nhận thức luận toàn diện. Điều này có nghĩa là các tham dự viên lắng nghe và diễn đạt không chỉ bằng ngôn ngữ văn chương và ở bình diện trí tuệ, mà còn bằng những cách thức chạm đến cảm xúc và những chuyển động nội tâm. Các văn kiện Thượng Hội đồng gợi ý nhiều phương thế phi ngôn ngữ để người tham gia diễn tả trực giác và quan điểm của mình, chẳng hạn như việc sử dụng hình ảnh, biểu tượng, câu chuyện, và các hình thức nghệ thuật khác nhau. Các nhóm đối thoại cũng được mời gọi ghi nhận những tâm tình sâu xa, cảm xúc và năng lượng nội tại có thể cảm nhận được trong tiến trình đối thoại, và đưa những yếu tố này vào bản báo cáo của mình. Đặc biệt, những khoảnh khắc an ủi và khô khan trong nhóm được trân trọng như những dấu chỉ quan trọng giúp nhận diện các vấn đề cần được lưu tâm. Như nhóm tổng hợp báo cáo cấp châu lục của Châu Á nhận xét: “Việc lắng nghe mọi người và cảm nhận nhịp đập của các tham dự viên đã hỗ trợ tiến trình phân định trong việc soạn thảo Văn kiện Chung cuộc.”[91] Ủy ban Thần học Quốc tế mô tả sensus fidei như là “sự hiểu biết bằng thấu cảm hay sự hiểu biết của con tim””[92] Do đó, sensus fidei “gần giống với một phản ứng tự nhiên, tức thì và tự phát” và có thể “được so sánh với một bản năng, bởi nó không chủ yếu là kết quả của một tiến trình suy luận lý tính.”[93] Thay vì biểu hiện qua diễn ngôn trí tuệ, sensus fidei có thể được biểu lộ như một “sắc thái, ước muốn hay một thái độ,” hoặc qua “ngôn ngữ biểu tượng hay huyền nhiệm.”[94] Tại Philippines, các tham dự viên được mời gọi sử dụng các biểu tượng văn hóa bản địa để nắm bắt và diễn tả điều mà tính hiệp hành có ý nghĩa đối với họ.[95] Ở những nơi khác, các hành động tự phát của người tham gia, chẳng hạn như chia sẻ nguồn lực cho nhau hoặc nỗ lực đi xa hơn để thăm viếng những người ở vùng sâu vùng xa, có thể được xem như những cách thức họ diễn tả, một cách tự nhiên và phi ngôn ngữ, điều mà họ trực giác về tính hiệp hành. Cũng thế, việc trực tiếp trải nghiệm thay vì chỉ đọc hay nghe nói về tiến trình tham vấn, đóng vai trò thiết yếu trong việc giúp con người hiểu sâu hơn về tính hiệp hành. Đồng thời, trí tuệ và lý trí vẫn giữ vai trò không thể thiếu, bởi chính chúng cho phép các tham dự viên xem xét, luợng giá kinh nghiệm và hình thành những trực giác mới.
Tầm quan trọng của nhận thức luận toàn diện trong phân định đã được nhiều học giả thần học và mục vụ ghi nhận. Chẳng hạn, Moons khẳng định rằng “lĩnh vực cảm xúc mang giá trị mặc khải,” trong khi Rush nhận định rằng “sensus fidelium diễn giải mặc khải và diễn tả trực giác của mình chủ yếu ở bình diện tình yêu. Do đó, đóng góp của sensus fidelium không nằm ở sự chính xác thần học mang tính hệ thống và chặt chẽ.”[96] Khi bàn về những chuyển động của Chúa Thánh Thần trong nội tâm con người, Ladislas Orsy giải thích rằng “chúng ta khám phá dạng tri thức này qua việc cảm nghiệm sự bình an, niềm vui, hân hoan và sự khích lệ trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Những dấu chỉ tâm lý này chắc chắn không phải là kết quả logic của một tiến trình suy luận.”[97] Trong tương lai, có lẽ cần thêm nhiều nghiên cứu thần học và thực nghiệm về khía cạnh nhận thức luận của sensus fidei, bao gồm cả việc khảo sát mối liên hệ, nếu có, giữa sự hiện diện sinh hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Gl 5,22-23) và những chuyển động của cảm xúc cũng như nội tâm con người.[98] Trước mắt, điều mà Thượng Hội đồng này đã giúp làm nổi bật là: việc lắng nghe hiệp hành không chỉ được thực hiện bằng trí tuệ khoa học, mà còn bằng sự nhạy bén cảm xúc của một con tim chiêm niệm, biết lắng nghe “tiếng kêu đôi khi thầm lặng vang lên từ Dân Chúa.”[99]
Yếu tố cuối cùng trong phương pháp tham vấn là sự phát sinh mang tính hiệp đoàn. Các văn kiện hướng dẫn của Thượng Hội đồng nhấn mạnh rằng chỉ chia sẻ các phản hồi cá nhân và lắng nghe nhau cách chăm chú thì vẫn chưa đủ, mà các tham dự viên còn cần ghi nhận những phản ứng, chủ đề, định hướng, hoặc thậm chí những câu hỏi mới nảy sinh từ tiến trình chia sẻ và lắng nghe. Những yếu tố này có thể liên quan đến các quan điểm có sự đồng thuận rộng rãi trong nhóm, cũng như những quan điểm xung đột lẫn nhau, hoặc khơi dậy sự tò mò và căng thẳng. Nhờ việc tiếp tục đào sâu, suy tư và đối thoại trong bầu khí cầu nguyện, các thành viên trong nhóm dần hình thành những trực giác đã được đào luyện hơn. Mục tiêu là tiến triển trong sự hiểu biết chung và từng bước nhận ra điều mà Chúa Thánh Thần có thể đang mặc khải cho toàn nhóm. Cách thức khơi mở sự phát sinh tập thể thông qua các giai đoạn đối thoại lặp đi lặp lại như thế thường dẫn đến việc mở rộng nhãn quan của từng tham dự viên, sự trưởng thành của các quan điểm trong nhóm, và thậm chí là sự hoán cải nội tâm. Có thể nói rằng kết quả cuối cùng là một thụ tạo mới, nổi lên từ một phương pháp lắng nghe mang tính tạo sinh, cho thấy rằng “toàn thể thì lớn hơn từng phần, nhưng cũng lớn hơn cả tổng số các phần.”[100] Tương tự, các văn kiện hướng dẫn nhấn mạnh rằng các bản báo cáo nhóm không được tổng hợp bằng cách đơn giản là tóm lược những gì từng nhóm đã nói, mà bằng việc phân định trong cầu nguyện những chủ đề và chuyển động phát sinh cách tập thể. Tiến trình phân định này bao hàm không chỉ việc lắng nghe các câu trả lời thu nhận được từ tiến trình tham vấn, mà còn là “lắng nghe chính việc lắng nghe”, tức là quan sát tiến trình và chú ý đến những khía cạnh quan trọng của kinh nghiệm, bao gồm cả những khoảnh khắc an ủi và khô khan trong nhóm. Chính vì lý do này, cả DCS lẫn Instrumentum Laboris đều bắt đầu bằng việc nêu bật những nhận định then chốt về kinh nghiệm của tiến trình Thượng Hội đồng trên toàn thế giới, bởi chính những kinh nghiệm ấy cũng là những chỉ dấu về điều mà Chúa Thánh Thần đang khơi dậy trong Giáo hội. Theo tôi, nỗ lực nhận diện sự phát sinh mang tính tập thể có lẽ là khía cạnh thách đố nhất của phương pháp tham vấn, bởi nó đòi hỏi sự trao đổi quan điểm một cách chân thành, việc đào sâu các khác biệt và bất đồng, sự cởi mở trước những căng thẳng, sẵn sàng học hỏi và thay đổi những giả định khi cần, cũng như sự kiên nhẫn để cho các trực giác có thời gian chín muồi. Như Báo cáo châu Á cấp lục địa nhận xét: “Tiến trình thực hiện các cuộc đối thoại hiệp hành theo yêu cầu đôi khi gây đau đớn và xáo trộn, đồng thời khiến chúng ta trở nên dễ bị tổn thương đối với nhau.”[101] Tuy nhiên, những tiến trình như thế có khả năng sáng tạo, theo lời của Ủy ban Thần học Quốc tế, “một không gian sống động, nơi các xung đột, căng thẳng và những điều đối nghịch có thể đạt tới một sự hiệp nhất đa dạng, làm phát sinh sự sống mới.”[102] Theo nghĩa này, sự phát sinh mang tính tập thể chính là thước đo của tính hiệp hành.[103]
Một hình thức đối thoại cụ thể được nhận thấy là hội tụ nhiều yếu tố nêu trên chính là Đối thoại trong Thánh Thần. Những người tham dự ở các cấp địa phương, châu lục và hoàn vũ đều nhận thấy phương thức này rất hiệu quả trong việc tạo điều kiện cho một kinh nghiệm lắng nghe hiệp hành. Như báo cáo từ Philippines ghi nhận: “Dù đa dạng về tính cách và bối cảnh xã hội-chính trị, văn hóa và tôn giáo, cũng như khác biệt về khuynh hướng thần học, các cuộc đối thoại thiêng liêng đã làm phát sinh cả những nhận thức đầy niềm vui lẫn đau đớn về đời sống và sứ vụ của Giáo hội chúng ta.”[104] Tương tự, Pakistan nhấn mạnh rằng “niềm vui của sự trải nghiệm nằm ở việc cảm nhận Chúa Thánh Thần được tuôn đổ trên mỗi người và được gặp gỡ trong đối thoại thiêng liêng ra sao. Việc lắng nghe và nói với nhau dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần đã mang lại niềm vui, sự giải thoát và khích lệ.”[105]
KẾT LUẬN
Thượng Hội đồng về Hiệp hành đã tìm cách phân định điều mà Chúa Thánh Thần đang mời gọi Giáo hội thực hiện liên quan đến sự hiệp thông, tham gia và sứ vụ. Dựa trên những chứng từ của nhiều người tham gia trong giai đoạn tham vấn, có thể nói rằng câu trả lời không nằm ở điểm kết thúc của chính tiến trình Thượng Hội đồng, mà nằm ngay trong chính cách thức Giáo hội đã và đang sống tiến trình ấy trong những năm gần đây. Những phương cách được áp dụng trong việc lắng nghe phản ánh, ở một mức độ nào đó, sự biến đổi của Giáo hội, đồng thời làm sáng tỏ những yếu tố then chốt giúp sự hiệp thông, tham gia và sứ vụ sinh hoa trái.
Theo đó, một Giáo hội hiệp hành có thể được mô tả là Giáo hội thể hiện một lập trường đón tiếp triệt để trong lời nói và hành động, xây dựng các mối tương quan song song với việc thiết lập các cơ cấu, hội nhập thần học “từ trên xuống” và “từ dưới lên” thông qua một lối giải thích mang tính lữ hành, và áp dụng các phương pháp tham vấn thấm đẫm linh đạo hiệp thông. Thật vậy, phương pháp chính là sứ điệp. Qua việc thích nghi phù hợp với các bối cảnh địa phương, như đã thấy tại châu Á, những cách thức tiến hành này đã góp phần nuôi dưỡng một sentire cum Ecclesia (cảm thức cùng với Giáo hội), đồng thời cho phép các giáo huấn của Giáo hội về tính hiệp hành và sensus fidei không chỉ được thực hành mà còn tiếp tục được phát triển nhờ vào kinh nghiệm hiện tại. Một số yếu tố then chốt trong tiến trình này cũng có thể mang lại ánh sáng cho việc đối thoại trong các xã hội đang bị phân cực cũng như cho công cuộc loan báo Tin mừng thông qua việc lắng nghe lẫn nhau. Dĩ nhiên, cần nhìn nhận rằng những gì Thượng Hội đồng về Tính Hiệp hành đạt được cho đến nay vẫn còn rất xa sự hoàn hảo. Nhiều xung đột vẫn chưa được giải quyết và không ít người ở cấp cơ sở vẫn chưa tham gia, hoặc thậm chí chưa cảm thấy mình được dung nạp. Như đã dự liệu ngay từ đầu, tất cả những điều này sẽ cần thời gian, bởi vì “lắng nghe chính là sự hoán cải mục vụ đích thực của Giáo hội.”[106] Tuy nhiên, từ niềm vui và những hoa trái mà nhiều người trên khắp thế giới đã và đang cảm nghiệm cho đến nay, vẫn có thể nhận ra những dấu chỉ hy vọng cho thấy rằng chúng ta đang dần dần, nhưng chắc chắn, lắng nghe để làm cho một Giáo hội hiệp hành được hình thành.
***
PHỤ LỤC:
Ghi chú Phương pháp luận về việc Sử dụng Dữ liệu
từ các bản Báo cáo Thượng hội đồng
của các Giáo hội Địa phương
Bài viết này chủ yếu dựa trên các Bản báo cáo cuối cùng đã được tập thể giám mục của mỗi Hội đồng Giám mục xét duyệt và phê chuẩn, rồi đệ trình lên Ban Thư ký Thượng Hội đồng. Như đã đề cập trong phần thảo luận ở trên, các báo cáo này được tổng hợp theo cách lũy tiến thông qua nhiều vòng lắng nghe ở bình diện siêu cấp, từ các cộng đoàn cơ sở đến cấp quốc gia. Vademecum nhấn mạnh rằng các nhóm tổng hợp “cần đọc tất cả các bản báo cáo trong tinh thần cầu nguyện” và rằng “chính các cuộc họp của nhóm cũng phải mang tính hiệp hành và phân định thiêng liêng, lắng nghe tiếng nói sống động của Dân Chúa trong toàn giáo phận dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.”[107] Nói cách khác, phương pháp chủ đạo của việc tổng hợp, bao gồm cả việc soạn thảo bản báo cáo, được xác định là phương pháp phân định cộng đoàn.
Theo những khuyến nghị bổ sung của Vademecum, các đại hội hiệp hành cũng được tổ chức ở cấp giáo phận để các đại diện từ cơ sở có thể thảo luận và xác nhận bản báo cáo chung kết của giáo phận. Một số Hội đồng Giám mục và giáo phận cũng đã phổ biến các bản báo cáo của mình để xin xác nhận. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những khoảng trống rõ ràng trong các tiến trình này. Không phải tất cả các giáo phận đều tổ chức đại hội hay phổ biến bản báo cáo chung kết của mình. Ở bình diện căn bản hơn, hầu như không có hoặc có rất ít các hình thức thẩm định chính thức, khảo sát định lượng, quan sát tham gia hay phỏng vấn dân tộc học để có thể kiểm chứng một cách độc lập mức độ mà các bản tổng hợp ở các cấp kế tiếp nhau phản ánh quan điểm của người tham gia một cách công bằng và chính xác. Cũng không thể xác minh được mức độ mà các bản tổng hợp là kết quả của việc lắng nghe Chúa Thánh Thần trong cầu nguyện và của một tiến trình phân định cộng đoàn đích thực. Dẫu vậy, các bản báo cáo Thượng Hội đồng vẫn là một nguồn dữ liệu chưa từng có tiền lệ, xuất phát từ nỗ lực đầu tiên của Giáo hội Công giáo trong việc thực hiện một cuộc tham vấn toàn cầu mang tính toàn diện. Một số điểm tương hợp cũng có thể nhận thấy giữa các bản báo cáo chung kết và các chứng từ được chia sẻ qua những nền tảng khác bởi những người trực tiếp tham gia ở cấp cơ sở.[108] Trong tương lai, còn rất nhiều tiềm năng cho các nghiên cứu tiếp theo, đặc biệt là trong việc xem xét cách thức mà các phương pháp khoa học xã hội và các nguồn kiểm chứng độc lập có thể bổ trợ cho bản chất tôn giáo, cá nhân và thiêng liêng của việc lắng nghe hiệp hành, phân định cộng đoàn và sensus fidei.
Một vấn đề khác liên quan đến cách thức nội dung của các bản báo cáo Thượng Hội đồng đã được sử dụng trong nghiên cứu của tôi cho bài viết này. Phần lớn các nhóm tổng hợp tại Châu Á đã tuân theo định dạng và cấu trúc nội dung được Vademecum đề xuất cho các báo cáo chung kết, trong đó bao gồm phần mô tả và suy tư về kinh nghiệm tham vấn, các điểm có “sự cộng hưởng mạnh mẽ” nơi những người tham gia, những điểm “đặc biệt quan trọng, gây ngạc nhiên hoặc không được dự liệu trước”, cũng như các quan điểm thiểu số đáng lưu ý.[109] Tôi đã đối chiếu nội dung của tất cả các bản báo cáo do các Hội đồng Giám mục châu Á đệ trình, nhằm trong mức độ có thể, bảo đảm rằng các điểm được nêu bật trong bài viết này phản ánh một cái nhìn công bằng về các Giáo hội địa phương như được trình bày trong các bản báo cáo. Bên cạnh việc ghi nhận những điều mà chính các nhóm tổng hợp đã nhấn mạnh là quan trọng, tôi cũng cố gắng lưu ý đến tỷ lệ tương đối của văn bản dành cho các quan điểm khác nhau, mức độ lặp lại hoặc được củng cố qua các phát biểu tương tự, cũng như việc các quan điểm ấy có được đưa vào các bản tóm kết và kết luận hay không. Ngoài ra, một số đối chiếu cũng được thực hiện với các cách đọc và diễn giải của những người khác ở cấp độ hoàn vũ và cấp châu lục Á châu.[110] Do đó, những điểm được nêu bật trong bài viết này phản ánh những định hướng chính yếu của các bản báo cáo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tiềm năng cho những nghiên cứu xa hơn chẳng hạn như việc thực hiện một phân tích văn bản mang tính hệ thống hơn, hoặc các nghiên cứu theo chủ đề tập trung vào những vấn đề cụ thể đã được nêu ra.
***
Christina Kheng đến từ Singapore và hiện giảng dạy Thần học và Mục vụ tại Học viện Mục vụ Đông Á (East Asian Pastoral Institute) ở Manila. Bà là thành viên của Ủy ban Phương pháp luận cho Thượng Hội đồng về Hiệp hành giai đoạn 2021–2024, cơ quan đã soạn thảo Vademecum và hướng dẫn các nhóm hiệp hành ở nhiều cấp độ khác nhau. Bà cũng là thành viên của nhóm tổng hợp hoàn vũ phụ trách soạn thảo Tài liệu cho Giai đoạn Châu lục. Tại châu Á, Christina từng giữ vai trò điều phối viên và diễn giả tại Đại hội Hiệp hành châu lục Á châu. Hiện nay, bà phục vụ với tư cách là chuyên viên (điều phối viên) không có quyền biểu quyết tại các phiên họp Thượng Hội đồng ở Rôma diễn ra vào tháng 10 năm 2023 và 2024. Christina có bằng Tiến sĩ Thần học của Đại học Công giáo Úc và bằng Thạc sĩ Quản trị Công của Trường John F. Kennedy, Đại học Harvard. Hướng nghiên cứu của bà tập trung vào các nền tảng cho phương pháp liên ngành trong đối thoại giữa Giáo hội và xã hội.
Nguồn: hdgmvietnam.com/
[1] Về thảo luận phương pháp luận liên quan đến việc sử dụng các bản báo cáo Thượng Hội đồng này, xin xem Phụ lục.
[2] Phòng Báo chí Tòa Thánh, “Thông cáo của Thượng Hội đồng Giám mục,” ngày 21/5/2021, press.vatican.va/content/salastampa/en/bollettino/pubblico/2021/05/21/210521b.html#
[3]Ibid.
[4] Hồng y Mario Grech, được trích dẫn trong Andrea Tornielli, “Thượng Hội đồng Rôma về Hiệp hành được hoãn đến năm 2023,” Vatican News, 21/5/2021, được đăng lại bằng tiếng Anh trên Exaudi Catholic News, www.exaudi.org/cardinal-grech-explores-new-synodal-process
[5] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn gửi các tín hữu của Giáo phận Rôma,” ngày 18/9/2021, www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2021/september/documents/20210918-fedeli-diocesiroma.html
[6] Ủy ban Thần học Quốc tế, Sensus Fidei in the Life of the Church (Vatican City: Vatican Press, 2014), các số 54 và 49.
[7] Phòng Báo chí Tòa Thánh, “Thông cáo của Thượng Hội đồng Giám mục,” ngày 21/5/2021.
[8]Ibid.
[9] Một số ví dụ được nêu trong Ủy ban Thần học Quốc tế, Sensus Fidei, chương 1, số 2.
[10] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn gửi các tín hữu của Giáo phận Rôma.”
[11] Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, Vademecum cho Thượng Hội đồng về Hiệp hành (VD) (Vatican: Văn phòng Thượng Hội đồng, 2021), số 1.3.
[12] Ormond Rush, “Inverting the Pyramid: The Sensus Fidelium in a Synodal Church,” Theological Studies 78, số 2 (2017): 321, doi: 10.1177/0040563917698561.
[13] Hervé Legrand, “Synodality is a Matter of Practice: A Plea for Learning,” Concilium 2 (2021): 120–121.
[14] Dario Vitali, “The Circularity between Sensus fidei and Magisterium as a Criterion for the Exercise of Synodality in the Church,” trong For a Missionary Reform of the Church, biên tập bởi Antonio Spadaro và Carlos M. Galli (Mahwah, NJ: Paulist, 2017), 196–217.
[15] Jos Moons, “A Comprehensive Introduction to Synodality: Reconfiguring Ecclesiology and Ecclesial Practice,” Roczniki Teologiczne69, số 2 (2022): 86, doi.org/10.18290/rt22692.5.
[16] Moons, “Comprehensive Introduction to Synodality,” 87–88.
[17] Amanda C. Oshiem, “Tiến bước hướng tới một Giáo hội hiệp hành,” Theological Studies 80, số 2 (2019): 374, doi: 10.1177/0040563919836225.
[18] Myriam Wijlens, “The Church of God is Convoked in Synod: Theological and Canonical Challenges Concerning the 2021–2023 Synod,” Centro Pro Unione Bulletin 99 (Fall 2021): 95–96.
[19] Wijlens, “The Church of God is Convoked in Synod,” 96.
[20]Ibid., 87.
[21] Hội đồng Giám mục Công giáo Trung Á (CECAC), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 32, FABC Papers số 176, www.fabc.org/document/fabc-papers-176/. Các bản báo cáo Thượng Hội đồng của hầu hết các Hội đồng Giám mục tại châu Á được công bố công khai trên trang mạng của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) tại www.fabc.org/document-library/. Các trích dẫn từ các Giáo hội địa phương trong bài viết này được lấy từ các bản báo cáo Thượng Hội đồng nói trên, trừ khi có ghi chú khác.
[22] Hội đồng Giám mục Công giáo Pakistan (PCBC), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 46, FABC Papers số 178, www.fabc.org/document/fabc-papers-178/.
[23] Hội đồng Giám mục Công giáo Nhật Bản (CBCJ), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 18, FABC Papers số 177, www.fabc.org/document/fabc-papers-177/. Tại điểm này, cần nêu rõ hai lưu ý quan trọng liên quan đến những nhận định của tôi về các nền văn hóa tại châu Á. Thứ nhất, luôn tồn tại nguy cơ rơi vào việc rập khuôn khi bàn đến các đặc điểm văn hóa. Một nghiên cứu dân tộc học có hệ thống sẽ có thể xác định và phân tích những đặc điểm này một cách toàn diện hơn, đặc biệt là về việc chúng thúc đẩy hay cản trở tính hiệp hành. Tuy nhiên, điều đó vượt quá phạm vi của bài viết này. Trong giai đoạn hiện tại, tôi dựa vào các trích dẫn trực tiếp từ chính các bản báo cáo Thượng Hội đồng của các Giáo hội địa phương. Ở một mức độ nào đó, những trích dẫn này cho thấy cách họ tự nhìn nhận các khuynh hướng văn hóa và Giáo hội của mình trong tương quan với các khía cạnh khác nhau của hiệp hành. Thứ hai, tôi ý thức rằng những khái quát chung không thể phản ánh đầy đủ sự đa dạng của các nền văn hóa xã hội và Giáo hội trên khắp châu Á, thậm chí ngay trong từng cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, sự đa dạng này không nhất thiết loại trừ những nỗ lực nhằm nhận diện một số điểm tương đồng, ít là ở mức độ tạm thời và khái quát, như những điểm khởi đầu cho việc cộng tác mục vụ và kết nối thần học ở cấp châu lục, điều ngày càng được kêu gọi trong tiến trình hiệp hành của Hội Thánh. Một cách tiếp cận tương tự đã được FABC áp dụng trong các văn kiện quan trọng gần đây. Xem “Journeying Together as the Peoples of Asia: FABC 50 Bangkok Document,” ngày 15/3/ 2023; “Văn kiện Chung kết của Đại hội Hiệp hành Châu lục Á châu,” ngày 16/ 3/2023; “The Asian Face of Synodality” tháng 8/2024, www.fabc.org/document-library/. Trong tương lai, có thể thực hiện thêm các nghiên cứu về những khác biệt và tương đồng văn hóa nhằm hỗ trợ việc cùng nhau bước đi như Giáo hội.
[24] Hội đồng Giám mục Công giáo Malaysia–Singapore–Brunei (CBCMSB), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 5, FABC Papers số 178, www.fabc.org/document/fabc-papers-178/.
[25] Hội đồng Giám mục Công giáo Hàn Quốc (CBCK), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 31, FABC Papers số 177, www.fabc.org/document/fabc-papers-177/.
[26] Clarence Devadass, “Towards a Synodal Church: Asian Models and Initiatives–Malaysia & Singapore,” trong Towards a Synodal Church: Moving Forward, tập 1, biên tập bởi S. G. Kochuthara và J. J. Kochumuttom (Bengaluru, Ấn Độ: Dharmaram, 2023), 363.
[27] Hội đồng Giám mục Công giáo Timor Leste (CET), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 41, FABC Papers số 179, www.fabc.org/document/fabc-papers-179/.
[28] Konferensi Waligereja Indonesia (KWI – Hội đồng Giám mục Indonesia), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 3, FABC Papers số 177, www.fabc.org/document/fabc-papers-177/.
[29] FABC, “Asian Continental Assembly,” số 46.
[30] Hội đồng Giám mục Công giáo Myanmar (CBCM), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 28, FABC Papers số 178, www.fabc.org/document/fabc-papers-178/.
[31] Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam (CBCV), “Các bản tổng hợp quốc gia đã công bố,” www.synod.org.pl/vietnam-catholic-bishops-conference-of-vietnam/.
[32] Hội đồng Giám mục Công giáo Lào và Campuchia, “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 59, FABC Papers số 177, www.fabc.org/document/fabc-papers-177/
[33] CBCV, “Các bản tổng hợp quốc gia đã công bố.”
[34] “Delhi Archdiocese’s Synodal Sessions Help Focus ‘Unnoticed Persons,” Matters India, ngày 4 /5 /2022, mattersindia.com/2022/05/delhi-archdioceses-synodal-sessions-help-focus-unnoticed-persons/
[35] Hội đồng Giám mục Công giáo Ấn Độ (CCBI), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 47, FABC Papers số 176, www.fabc.org/document/fabc-papers-176/.
[36] CBCK, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 31.
[37] Hội đồng Giám mục Công giáo Philippines (CBCP), “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 56, 72, FABC Papers số 178, www.fabc.org/document/fabc-papers-178/. Hệ thống arancel tại Philippines chỉ hệ thống lệ phí của Giáo hội địa phương liên quan đến việc cử hành các bí tích. Trong một số trường hợp, các khoản lệ phí này đã khiến việc lãnh nhận các bí tích vượt quá khả năng của người nghèo.
[38] Hội đồng Giám mục Khu vực Trung Hoa, “Các bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 5, FABC Papers số 179, www.fabc.org/document/fabc-papers-179/
[39] Ủy ban Thần học Quốc tế (ITC), Sensus Fidei, các số 87–105.
[40] ITC, Sensus Fidei, số 102.
[41] FABC, “Asian Continental Assembly” số 50.
[42] CBCK, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 31.
[43]Ibid., tr. 17.
[44] ITC, Sensus Fidei, số 55.
[45] Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh điểm này trong các bài giảng và sứ điệp của ngài suốt tiến trình Thượng Hội đồng. Một trong những trích dẫn nổi bật nhất là lời nhấn mạnh của ngài rằng: “La Chiesa delle porte aperte a tutti, tutti, tutti! (Cửa Hội Thánh mở ra cho tất cả, tất cả, tất cả!)”. Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Bài giảng trong Thánh lễ khai mạc Đại hội Thường lệ của Thượng Hội đồng Giám mục,” ngày 4/10/2023,
www.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2023/documents/20231004-omelia-nuovi-cardinali.html.
Về điểm này, trong giới học thuật thần học tồn tại những khác biệt đáng chú ý. Chẳng hạn, lặp lại lời Đức Giáo hoàng Phanxicô, Jean-François Chiron nhấn mạnh tiếng nói có tính thẩm quyền của người nghèo do sự tương hợp bản tính của họ với Đức Kitô chịu đau khổ, trong khi Declan Marmion chỉ ra rằng “Hội Thánh có rất nhiều điều cần học hỏi từ kinh nghiệm của những người hoài nghi.” (Jean-François Chiron, “Sensus Fidei et vision de l’Église chez le Pape François,” Recherches de Science Religieuse 104 [2016]: 187–205; Declan Marmion, “A Church that Listens: Synodality in the Life and Mission of the Church,” New Blackfriars 120, số 1100 [7/2021]: 450, doi:10.1111/nbfr.12609). Trái lại, một số học giả khác nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thánh thiện, sự phù hợp với truyền thống đức tin và sự tham gia tích cực vào đời sống Hội Thánh như những phẩm chất cần thiết để thực thi sensus fidei (xem, chẳng hạn, Bernhard Blankenhorn, “The Sensus Fidei and Synodality: Theological Epistemology and the Munus Propheticum,” The Thomist 87 [2023]: 311–338; và Moons, “Dẫn nhập toàn diện về hiệp hành,” 84). Có vẻ như Văn phòng Thượng Hội đồng đã chọn lập trường thứ nhất, phù hợp với cách tiếp cận của Đức Giáo hoàng Phanxicô và nhất quán với sự nhấn mạnh liên tục của ngài về các vùng ngoại biên.
[46] ITC, Sensus Fidei, số 118ii.
[47] Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, Vademecum, số 4.1.
[48] CCBI, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 36.
[49]Ibid., tr. 30.
[50]Ibid., tr. 36.
[51] PCBC, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 42
[52] CBCP, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 55.
[53] CCBI, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 36.
[54] Trích dẫn trong Rechilda Estores, “Philippines: A Catholic Parish Journeys Together, Living Synodality,” Vatican News, ngày 19/10/2022, www.vaticannews.va/en/church/news/2022-10/philippines-catholic-parish-journeys-together-living-synodality.html.
[55] FABC, Asian Continental Assembly, số 45.
[56]ITC, Synodality in the Life and Mission of the Church (Vatican City: Vatican Press, 2018), số 60.
[57] CBCP, “Salubong (Cuộc gặp gỡ chào đón): Bản báo cáo hiệp hành của Giáo hội Công giáo Philippines,” Phụ lục 1, tr. 11, ngày 15/8/2022, www.synodphilippines.com/wp-content/uploads/2022/08/Philippines_National-Synodal-Report.pdf
[58] KWI, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 3.
[59] CET, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 43–44.
[60]Ibid., tr. 44.
[61] ITC, Sensus Fidei, số 77.
[62] Nhu cầu về các cơ cấu hiệu quả song hành với một tinh thần tương quan đích thực đã được nhấn mạnh trong các công trình thần học. Chẳng hạn, xem Rush, “Inverting the Pyramid,” 322–323; Wijlens, “The Church of God is Convoked in Synod,” 88–89; và Rafael Luciani, Synodality: A New Way of Proceeding in the Church (New York: Paulist, 2022), tr. 44. Thượng Hội đồng hiện nay đã làm cho nguyên lý lý thuyết này trở nên sống động bằng việc tạo cơ hội để các nhóm hiệp hành ở mọi cấp độ trực tiếp trải nghiệm và suy tư về kinh nghiệm ấy.
[63] Các thuật ngữ “từ trên xuống” và “từ dưới lên” đã được sử dụng với những cách hiểu khác nhau trong việc làm thần học. Trong bài viết này, tôi sử dụng thuật ngữ “thần học từ trên xuống” để chỉ một cách tiếp cận suy tư thần học lấy khởi điểm là kho tàng giáo lý và truyền thống đức tin hiện có, vốn giữ vai trò điểm quy chiếu chủ đạo và định hướng. Ngược lại, “thần học từ dưới lên” khởi đi từ kinh nghiệm và bối cảnh, và có khuynh hướng ưu tiên những viễn tượng này trong suy tư thần học. Về một thảo luận ngắn gọn về các cách tiếp cận này, xem Rajesh Kavalackal, “New Paradigms for an Integral Theological Education Today,” Asian Horizons 12, số 4 (12/2018): 638.
[64] CBCM, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 36.
[65] CBCJ, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 19.
[66] Ủy ban Thần học Quốc tế, Theology Today: Perspectives, Principles, and Criteria (Vatican City: Vatican Press, 2012), số 35.
[67] CBCP, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 71–72.
[68] ITC, Sensus Fidei, số 59.
[69] Rush, “Inverting the Pyramid,” tr. 312.
[70] Wijlens, “The Church of God is Convoked in Synod,” tr. 94.
[71] Moons, “Comprehensive Introduction to Synodality,” tr. 79.
[72] Luciani, Synodality, tr. 95–96.
[73] CBCP, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 62.
[74] CBCMSB, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 11.
[75] Đức Giáo hoàng Phanxicô, “Diễn văn gửi các tín hữu Giáo phận Rôma.”
[76]Ibid.
[77]Ibid.
[78] Catherine Clifford, “The ‘Hierarchy’ of Truths in a New Context,” Theological Studies 85, số 1 (2024): 32, doi:10.1177/00405639231225145.
[79] ITC, Sensus Fidei, số 64.
[80]Ibid.
[81] Rush ám chỉ một tiến trình như vậy khi ông đề xuất mô hình “vòng tròn chú giải học,” bao gồm các hành vi lặp đi lặp lại của việc hiểu, giải thích và áp dụng. Trong mô thức tuần hoàn này, một cộng đoàn đức tin tìm cách hiểu hiện tại bằng cách quy chiếu về quá khứ, và khi làm như vậy, lại xuất hiện với một cách nhìn và sự hiểu biết mới về chính quá khứ ấy (Ormond Rush, “Sensus Fidei: Faith ‘Making Sense’ of Revelation,” Theological Studies 62, số 2 [2001]: 233). Tương tự, Luciani chỉ ra rằng chính sự phân định cộng đoàn được thực hiện bởi toàn thể các tín hữu trong sự đa dạng đặc sủng của họ là điều “trung gian cho việc hiểu đúng kho tàng đức tin (depositum fidei – ‘kho tàng chân lý mạc khải trong Thánh Kinh và Thánh Truyền’) theo từng thời điểm và thời đại” (Luciani, Synodality, tr. 94). Do đó, nền tảng của truyền thống đức tin không phải là những công thức bất biến, nhưng là một trực giác sống động.
[82] X. ITC, Synodality, số 108.
[83] Devadass, “Towards a Synodal Church,” tr. 364.
[84] Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, Vademecum, số 5.1.
[85] CBCP, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 56.
[86] Hội đồng Giám mục Công giáo Thái Lan, “Bản báo cáo tổng hợp: Thượng Hội đồng Giám mục 2021–2023,” tr. 22, FABC Papers số 179, www.fabc.org/document/fabc-papers-179/.
[87] ITC, Synodality, số 76. Đồng vọng với điều này / Chia sẻ điều nàyResonating with this, Gilles Routhier nhận xét rằng “tính hiệp hành giả định một nỗ lực chung, vì mọi người đều phải đóng góp phần của mình, thể hiện tinh thần liên đới và mong muốn đạt tới sự đồng thuận, một xác tín được chia sẻ. Nó giả định ước muốn cộng tác, chấp nhận và đồng thuận, cho đi và đón nhận” (“Synodality as a Constitutive Dimension of the Church and an Expression of the Gospel,” Concilium 2 [2021]: 95).
[88] ITC, Sensus Fidei, số 118i.
[89] CBCK, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 31.
[90] Richard Gaillardetz, “The Synodal Shape of Church Ministry and Order,” Concilium 2 (2021): 99.
[91] FABC, “Asian Continental Assembly” số 32.
[92] ITC, Sensus Fidei, số 50.
[93] Ibid., các số 54 và 49.
[94] Ibid., các số 82i và 82iii.
[95] Sau đó, các biểu tượng này đã được thảo luận trong đối thoại nhóm giữa các tham dự viên và các nhóm hiệp hành, và ý nghĩa của chúng được trình bày dưới dạng văn bản trong bản văn cuối cùng của báo cáo Thượng Hội đồng.
[96] Jos Moons, “Synodality and Discernment: The Affective Reconfiguration of the Church,” Studia Canonica 56, số 2 (2022): 391; Rush, “Inverting the Pyramid,” tr. 322.
[97] Ladislas Orsy, Discernment: Theology and Practice, Communal and Personal (Collegeville, MN: Liturgical Press, 2020), tr. 9.
[98] Một số truyền thống linh đạo trong Hội Thánh đã lưu tâm đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau. Chẳng hạn, Inhaxiô Loyola mô tả các chuyển động thiêng liêng của an ủi và sầu khổ như những chỉ dấu về tác động của các thần khí (các số 313–336 trong The Spiritual Exercises of St. Ignatius: Based on Studies in the Language of the Autograph, bản dịch của Louis Puhl [Chicago: Loyola University Press, 1951]). Tuy nhiên, những trực giác này vẫn chưa được khai triển và hệ thống hóa một cách toàn diện trong kho tàng giáo huấn chính thức của Công giáo. Học giả đương đại Beáta Tóth đã lưu ý đến “mô hình nhân học lưỡng cực” được trình bày trong văn kiện của ITC về sensus fidei và kêu gọi những nỗ lực tập trung hơn nhằm xây dựng một khung nhận thức luận thích đáng liên quan đến sensus fidei. Xem Beáta Tóth, “Knowledge of the Heart: Notes on the Definition of the Sensus Fidei in the Personal Life of the Believer,” New Blackfriars 104, số 1110 (2023): 204, doi:10.1111/nbfr.12788.
[99] ITC, Synodality, số 114.
[100] Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông huấn về việc loan báo Tin Mừng trong thế giới hôm nay (Evangelii Gaudium) (Vatican City: Vatican Press, 2013), số 235.
[101] FABC, “Asian Continental Assembly,” số 43.
[102] ITC, Synodality, số 111.
[103] Luciani ám chỉ điều này khi ông viết rằng “trong khi diễn tả và sống Kitô giáo, các tín hữu sẽ ý thức được số lượng lớn các tác nhân nâng đỡ các cơ cấu của Hội Thánh – những con người đa dạng về giới tính, kinh nghiệm, đào luyện và văn hóa. Những tương tác phức hợp giữa họ sẽ làm nảy sinh một cảm thức đức tin mới” (Synodality, tr. 96).
[104] CBCP, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 57.
[105] PCBC, “Bản báo cáo tổng hợp,” tr. 44.
[106] Hồng y Mario Grech, trích dẫn trong Andrea Tornielli, “Thượng Hội đồng Rôma về tính hiệp hành được hoãn đến năm 2023.”
[107] Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, Vademecum, Phụ lục D.
[108] Chẳng hạn, xem Shaji George Kochuthara và Joby Jose Kochumuttom (chủ biên), Towards a Synodal Church: Moving Forward (Bengaluru: Dharmaram, 2023), Phần V–VI.
[109] Tổng Thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, Vademecum, Phụ lục D.
[110] Ví dụ, xem Secretaria Generalis Synodi, Tài liệu làm việc cho Giai đoạn Châu lục, Vatican City, ngày 24/10/2022; và FABC, “Asian Continental Assembly.”