Thêm
    Trang chủHọc Hỏi & Nghiên CứuThể loại khácÝ HỘI THÁNH HIỆP HÀNH THỪA SAI:NGHĨA, TRIỂN VỌNG, VÀ THÁCH ĐỐ

    Ý HỘI THÁNH HIỆP HÀNH THỪA SAI:NGHĨA, TRIỂN VỌNG, VÀ THÁCH ĐỐ

    Lm. Lê Công Đức, PSS.

    [Bài đã đăng trên Hiệp Thông số 154, tháng 7-8/2026, của Hội đồng Giám mục Việt Nam]

    ————-
    1. CÁC TỪ NGỮ
    1.1. “Hội Thánh hiệp hành thừa sai”
    Đây có lẽ là thuật ngữ mới nhất nói về Giáo hội. Hai tính từ ‘hiệp hành’ và ‘thừa sai’ kết hợp trực tiếp như thế, hoặc có thể được nối với nhau bằng liên từ ‘và’, để nói: ‘Hội Thánh hiệp hành và thừa sai’! Về mặt ý niệm thì gốc rễ của sự kết hợp này đã được thấy nơi Công đồng Vatican 2, trong đó Hiến chế Lumen Gentium (1964) nhấn mạnh Hội Thánh là “Dân Thiên Chúa”, xác nhận nền móng của tính hiệp hành, vốn thể hiện qua sự tham gia trong tinh thần đồng trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa (x. LG 4 và 9-17). Bên cạnh đó, Sắc lệnh Ad Gentes (1965) nêu bật bản tính thừa sai cố hữu của Hội Thánh (x. AG 2).
    Tuy nhiên, phải chờ đến Đức Giáo hoàng Phanxicô thì sự kết hợp hai ý niệm ‘hiệp hành’ và ‘thừa sai’ mới bắt đầu hiện lộ rõ hơn. Trong Tông huấn Evangelii Gaudium (2013), vị giáo hoàng kêu gọi một sự “chuyển hóa sứ mạng thừa sai” của Giáo hội (x. EG 19-49). Và kể từ năm 2015, thời điểm kỷ niệm 50 năm thiết lập cơ chế Thượng Hội đồng Giám mục, trong các diễn từ của mình, Đức Phanxicô thường xuyên cổ võ tính hiệp hành xét như đặc tính cấu thành Giáo hội.
    Cuối cùng, cụm từ “Hội Thánh hiệp hành thừa sai” – hay “một Hội Thánh có tính hiệp hành và thừa sai” – xuất hiện rõ ràng nhất trong các văn liệu chính thức của Vatican gắn kết với tiến trình Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 16 diễn ra trên toàn cầu. Các tài liệu chuẩn bị và làm việc cho Thượng Hội đồng về Hiệp Hành (khai mạc vào năm 2021) nhắc đi nhắc lại mục đích là trở thành “một Hội Thánh hiệp hành trong sứ mạng” hay “một Hội Thánh hiệp hành thừa sai”. Trong Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng này (2024), cụm từ “Hội Thánh hiệp hành thừa sai” nghiễm nhiên đã được sử dụng như một thuật ngữ then chốt.
    Khá nhanh chóng, hiện nay cụm từ “Hội Thánh hiệp hành thừa sai” đã đi vào các văn liệu của các Giáo hội địa phương trong giai đoạn thực hiện những quyết nghị của Thượng Hội đồng. Chẳng hạn ở Việt Nam, chúng ta gặp thấy diễn ngôn này được dùng trong Thư Mục Vụ 2025 của HĐGMVN gửi cộng đồng dân Chúa, nhất là đã đi vào chủ đề của Bản tin Hiệp Thông số 152 (tháng 3 và 4 năm 2026).
    Thiết tưởng cần phân tích và làm rõ hai ý niệm “thừa sai” và “hiệp hành”, để dễ nắm bắt ý nghĩa của cụm từ trong đó chúng được kết hợp lại với nhau: “Hội Thánh hiệp hành thừa sai”. Nhờ đó, chúng ta có thể hình dung các triển vọng và các thách đố đối với tầm nhìn này.
    1.2. Ý nghĩa của từ “thừa sai”
    Từ “thừa sai” (承差) là một thuật ngữ gốc Hán-Việt, trong đó “thừa” (承) có nghĩa là “vâng, chịu”, và “sai” (差) có nghĩa “sai khiến”. Vậy “thừa sai” là “nhận lệnh và được sai đi làm nhiệm vụ”. Ta ghi nhận, với nghĩa “được sai đi làm nhiệm vụ” thì “thừa sai” rất gần với “tông đồ” – trong đó, “thừa sai” qui chiếu nhiều hơn đến nhiệm vụ, còn “tông đồ” qui chiếu trước hết đến mối liên hệ với ‘người sai’.
    Từ “thừa sai” được dùng để dịch danh từ và tính từ “missionary” trong Anh ngữ. Trong thực tế, cho đến thế kỷ 20, khi nói “thừa sai” là nói đến các nhà thừa sai ngoại quốc. Nhưng hiện nay ý nghĩa của “thừa sai” đã được hiểu rộng hơn, không phân biệt người trong hay ngoài nước nữa. Ngoài ra, “thừa sai” cũng đồng nghĩa với “nhà truyền giáo”. Song vì những lý do thuộc sứ mạng học và thần học sứ mạng, việc sử dụng từ “truyền giáo” hay “truyền bá đức tin” đã thoái trào trên thế giới và cũng đang dần thoái trào trong tiếng Việt, nhất là kể từ năm 1967, khi Đức giáo hoàng Phaolô VI quyết định đổi tên “Bộ Truyền Giáo” thành “Bộ Loan báo Tin Mừng cho các Dân Tộc”.
    Thừa sai (missionary) là người được sai đi thi hành sứ mạng (mission). Ở đây, để cho ngôn ngữ được sáng sủa hơn, tưởng cũng nên nêu ra sự phân biệt giữa “sứ mạng” (mission) và “sứ vụ” (ministry).
    “Sứ mạng” nhắm đến toàn bộ công cuộc mà Giáo hội và mỗi cộng đoàn cũng như mỗi Kitô hữu trong đó được Chúa Kitô sai đi thực hiện, trong Thánh Thần. Ý niệm “sứ mạng”, vì thế, gợi lên toàn bộ công cuộc loan báo Tin Mừng và xây dựng thế giới này thành Nước Thiên Chúa.
    Trong khi đó, từ “sứ vụ” nói đến những việc hay những cách thức cụ thể mà “sứ mạng” được thi hành. “Sứ vụ” qui chiếu đến các vai trò và các việc phục vụ chuyên biệt trong Giáo hội. Những từ “tác vụ”/ “thừa tác vụ”, vì thế, tương đương với từ “sứ vụ”. Một ví dụ, trong trường hợp của Chúa Giêsu Kitô, “sứ mạng” của Người là toàn bộ công cuộc cứu độ, bao gồm toàn bộ mầu nhiệm cứu độ của Người. Còn khi nói “sứ vụ của Chúa Giêsu” thì đó là nói về những hoạt động cụ thể của Người trong khoảng ba năm công khai ấy, kể từ khi Người chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả. Ví dụ khác, “sứ vụ” hay “tác vụ” của linh mục là những việc mà linh mục được trao cho để làm, do Bí tích Truyền chức thánh. Linh mục có thể rời khỏi “sứ vụ” vì lý do nào đó, nhưng “sứ mạng” thì luôn còn.
    Như vậy, trong ngôn ngữ Kitô giáo và trong các khung cảnh Giáo hội, các “sứ vụ” thuộc về “sứ mạng”. Hai ý niệm này liên hệ nhau nhưng không đồng nhất với nhau.
    1.3. Ý nghĩa của từ “hiệp hành”
    Từ cuối tháng 10 năm 2021, từ “hiệp hành” được tạo ra để dịch Việt ngữ danh từ “synodality” và tính từ ”synodal” của Anh ngữ (cũng như các cặp danh/ tính từ tương ứng trong các ngôn ngữ châu Âu hiện đại khác, như Pháp, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, vv…). Được tạo ra để dịch, vì thế ý nghĩa của “tính hiệp hành” nhất thiết phải theo ý nghĩa của “synodality”, chứ không thể gán ghép tùy tiện theo cảm tính chủ quan. Có một chút khó khăn, vì ngay cả “synodality” cũng là một từ mới và lúc bấy giờ đang được định nghĩa. Tuy nhiên, vẫn có nguồn chính thức giúp chúng ta trong việc nhận hiểu này. Đó là tài liệu Tính hiệp hành trong đời sống và sứ mạng của Hội Thánh (2.3.2018) do Ủy Ban Thần học Quốc tế trực thuộc Bộ Giáo lý Đức tin biên soạn và xuất bản, với sự ưng thuận và phê duyệt của Đức thánh cha Phanxicô. Nguồn tham khảo có thẩm quyền nhất hiện nay dĩ nhiên là Văn kiện Chung kết của Thượng Hội Đồng Giám mục lần thứ 16 – nhưng cần ghi nhận ngay rằng chính Văn kiện Chung kết này khi diễn nghĩa tính hiệp hành (synodality) cũng chủ yếu dựa vào Tài liệu nói trên của UBTH Quốc tế (x. VKCK, các số 28, 30, 31 và 33).
    Vậy tài liệu Tính hiệp hành trong đời sống và sứ mạng của Hội Thánh của UBTH Quốc tế nói gì về ý nghĩa của tính hiệp hành? Đọc hai số 3 và 4, chúng ta sẽ thấy rõ:
    – Số 3: cho biết ‘synod’ (σύνοδος) qui chiếu đến những người ‘cùng đi Đạo’, tức ‘cùng nhau trên Đường’, liên quan đến cách mà sách Công vụ Tông đồ gọi các tín hữu là những người ‘theo Con Đường’/ ‘theo Đạo’ (x. Cv 9,2; 19,9.23; 22,4; 24,14.22). Đạo là Đường, dĩ nhiên, và đó là chính Đức Giêsu Kitô (x. Ga 14,6). Như vậy, ‘synodality’ là tính ‘đồng đạo’(cùng trên đường), hay tính ‘đồng hành’ (cùng đi) – hai từ này được kể là tương đương. Và cả hai từ đều có sẵn, rất quen thuộc. Nhưng ‘đồng đạo’ hay ‘đồng hành’ vẫn chưa chuyển tải hết ý nghĩa của ‘synod’/ ‘synodality’. Còn một ý nghĩa nữa, được giải thích ở số 4 tiếp theo.
    – Số 4: nhắc lại rằng kể từ những thế kỷ đầu tiên, từ ‘synod’ (σύνοδος) đã được dùng để nói đến các cuộc qui tụ trong Giáo hội để cùng lắng nghe và phân định các vấn đề quan trọng. Như vậy, theo nghĩa này, ‘synodality’ là tính ‘đồng nghị’, liên quan đến các hội nghị, công nghị, Công đồng trong Giáo hội ở các bình diện địa phương và hoàn vũ. Từ ‘đồng nghị’ này cũng khá quen thuộc, chứ không hoàn toàn xa lạ.
    Tổng hợp hai nghĩa trên, tính ‘hiệp hành’ sẽ được hiểu là tính ‘đồng hành đồng nghị’, hay ‘đồng đạo đồng nghị’. Xin mở ngoặc: trước đây, vào thời gian đầu của Thượng Hội đồng, ‘synodality’ được dịch sang tiếng Hoa phổ thông bằng cụm 4 từ như thế. Nhưng hiện nay bản dịch tiếng Hoa của Văn kiện Chung kết THĐGM 16 lại dùng từ ‘đồng thuận’ thay vào đó! Dường như ‘đồng thuận’ được coi như là tổng hợp của ‘đồng hành’ và ‘đồng nghị’.
    Trở lại với Văn kiện Chung kết THĐGM 16, tài liệu này dành 6 số (từ 28 đến 33) để nói về ý nghĩa và các chiều kích của tính ‘hiệp hành’, và chủ yếu dựa vào Tài liệu của UBTH Quốc tế như đã đề cập trên. Xin trích dẫn ở số 28:
    “Trong quá trình diễn ra Thượng hội đồng, một sự đồng thuận đã chín muồi về ý nghĩa của tính hiệp hành, vốn là nền tảng của Văn kiện này: tính hiệp hành là sự đồng hành của các Kitô hữu cùng với Chúa Kitô và hướng tới Vương quốc của Thiên Chúa, trong gắn kết với toàn thể nhân loại; được định hướng sứ mạng, nó bao gồm việc qui tụ với nhau từ các các cấp độ khác nhau của đời sống Giáo hội, lắng nghe lẫn nhau, đối thoại, cùng nhau phân định, hình thành sự đồng thuận như một cách diễn tả sự hiện diện của Chúa Kitô sống động trong Thánh Thần, và đạt tới một quyết định trong tinh thần đồng trách nhiệm có phân biệt. Theo chiều hướng này, chúng ta hiểu rõ hơn tại sao tính hiệp hành là một chiều kích cấu thành của Giáo hội (x. CTI, số 1). Một cách đơn giản và tổng hợp, có thể nói rằng tính hiệp hành là một con đường canh tân tâm linh và cải tổ cơ cấu để làm cho Giáo hội có tính tham gia và có tính sứ mạng nhiều hơn, nghĩa là làm cho Giáo hội có khả năng nhiều hơn trong việc bước đi với mọi người nam nữ, chiếu tỏa ánh sáng của Chúa Kitô”.
    Những nhấn mạnh trong bản văn trên là do được biên tập, để cho thấy rõ các yếu tố ‘đồng hành’, ‘đồng nghị’, ‘đồng thuận’ được bao hàm trong tính ‘hiệp hành’, cũng như cho thấy tính ‘hiệp hành’ (tức ‘đồng hành đồng nghị’) gắn chặt với bản chất của Giáo hội như thế nào.
    2. Ý NGHĨA CỦA “HỘI THÁNH HIỆP HÀNH THỪA SAI”
    Trên đây chủ yếu đề cập đến các ý niệm và các từ ngữ. Trong phần này, chúng ta sẽ dựa vào chính những ý niệm và những từ ngữ ấy để khảo sát sâu hơn ý nghĩa của “Hội Thánh hiệp hành thừa sai”, nhằm có thể tiếp cận những triển vọng và những thách đố của cuộc canh tân Giáo hội trong nhãn giới này. Một lần nữa, cần phân tích lần lượt: Ngày nay ta hiểu thế nào về ‘Hội Thánh thừa sai’, và hiểu thế nào về ‘Hội Thánh hiệp hành’?
    2.1. Hội Thánh thừa sai: Hội Thánh trong sứ mạng
    Nói về Hội Thánh thừa sai, đó là nói về sứ mạng của Hội Thánh.
    – Sứ mạng là lý do hiện hữu: Trước hết, Sắc lệnh Ad Gentes của Công đồng Vatican 2, về “hoạt động thừa sai của Giáo hội”, đã tuyên bố: “Hội Thánh trên trần gian này tự bản chất mang tính sứ mạng thừa sai, vì theo kế hoạch của Chúa Cha, Hội Thánh có nguồn gốc nơi sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (AG 2). Điều này có nghĩa rằng sứ mạng là lý do hiện hữu (raison d’être) của Hội Thánh. Được sinh ra cho sứ mạng, Hội Thánh luôn luôn ở trong tình trạng thi hành sứ mạng, dù hoàn cảnh thuận hay nghịch. Tất cả đời sống và hoạt động của Hội Thánh và của mọi thành phần trong Hội Thánh đều được định hướng sứ mạng. Ta hiểu vì sao kể từ sau Công đồng Vatican 2, các diễn ngôn chính thức về Hội Thánh đều luôn bao gồm yếu tố “sứ mạng” trong đó – chẳng hạn, Hội Thánh được trình bày như “mầu nhiệm, hiệp thông, và sứ mạng”, hoặc chủ đề ‘Hội Thánh hiệp hành’ của Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 16 gắn với phụ đề là ba chiều kích “hiệp thông, tham gia, sứ mạng”. Đến năm 2024, Tài liệu Làm việc cho Khóa Hội nghị thứ hai của Thượng Hội đồng này còn đề nghị thay đổi thứ tự để đưa “sứ mạng” vào vị trí trung tâm, như sau: “hiệp thông, sứ mạng, tham gia”! Điều này rõ ràng muốn diễn tả rằng sứ mạng nằm ở căn tính sâu xa và là mục đích của Hội Thánh.
    – Nhưng đâu là mục đích của sứ mạng? Thật bất ngờ để ghi nhận rằng đây là câu hỏi cốt yếu đầu tiên được ghi lại trong Bản Tổng Hợp ’10 trang A4’ của một số giáo phận ở Hoa Kỳ sau giai đoạn thỉnh ý dân Chúa của tiến trình Thượng Hội đồng vừa qua.
    Đây là câu trả lời: Mục đích cuối cùng của sứ mạng là Nước Trời hay Triều đại Thiên Chúa! Và Tân Ước cho thấy có ít nhất ba hàm nghĩa của Triều đại Thiên Chúa. Thứ nhất, nó là một Vương quốc đã bắt đầu, đang trên đường đi, và chờ được hoàn thành. Thứ hai, nó là Nước Trời trong tình trạng hoàn thành chung cuộc, hay đời sau. Thứ ba, nó hiện thân nơi chính con người của Đức Giêsu Kitô, là ‘autobasileia’, theo từ ngữ của giáo phụ Origen (x. Mt 11; Lc 17,21). Triều đại Thiên Chúa, đó là Các Mối Phúc của Tin Mừng, tức chân dung Đức Giêsu, được sống bởi cộng đoàn môn đệ thừa sai. Đức Phanxicô kêu mời mọi Kitô hữu đi vào một cuộc gặp gỡ mới mẻ với Đức Giêsu Kitô, hay ít là mở lòng ra để cho Chúa Giêsu gặp gỡ mình mỗi ngày (x. EG 3 và 7). Đó là Triều đại Thiên Chúa đang được xây dựng.
    Có thể thấy, Triều đại Thiên Chúa là mục đích và Giáo hội là phương tiện, cũng như nơi chính bản thân Giáo hội thì chiều kích cơ chế phục vụ cho chiều kích đặc sủng, chứ không ngược lại. Triều đại Thiên Chúa cốt ở định phẩm chứ không cốt ở định lượng. Theo đó, kiểu thức ‘trồng Giáo hội’ và ‘cứu linh hồn’ nhường chỗ cho kiểu thức ‘sứ mạng ở giữa các dân tộc’ (missio inter gentes) mà các giám mục Á châu đã hình dung, với biểu tượng tốt nhất có lẽ là các hình ảnh về muối, men và ánh sáng được Đức Giêsu dùng trong sách Phúc Âm (x. Mt 5,13-16). Muối, men, ánh sáng là những thứ làm việc bằng sự hiện diện rất âm thầm nhưng đầy tác động.
    – Còn động lực của sứ mạng là gì? Động lực sâu xa của sứ mạng là niềm vui Tin Mừng. Lệnh truyền “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19) dĩ nhiên là động lực. Nhưng động lực này luôn giả thiết niềm vui sâu xa bên trong người môn đệ thừa sai (x. EG 263). Niềm vui này bừng nở từ cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô và hình thành cảm thức về căn tính môn đệ thừa sai. Đó là niềm vui của người đã lãnh nhận tình yêu cứu độ của Đức Kitô. Đó là thứ tình yêu làm cho chúng ta cảm thấy nhu cầu phải nói về người yêu, chỉ cho người khác thấy người đó, làm cho người đó được biết đến (x. EG 264).
    Chính vì thế niềm vui được tô đậm xuyên suốt trong các văn kiện giáo huấn của Đức thánh cha Phanxicô. Có thể gọi ngài là vị giáo hoàng của niềm vui, cũng như nhiều người gọi ngài là vị giáo hoàng của lòng Chúa thương xót vậy. Cách riêng, trong Tông huấn Evangelii Gaudium, Đức thánh cha đã bắt đầu bằng một mô tả rất hay về niềm vui này (x. EG 2-8), trong đó ngài cũng lấy làm tiếc rằng có những Kitô hữu sống đời mình giống như “chỉ có mùa Chay” hay giống như lúc nào cũng “mới đi đám ma về”. Tình yêu trong đời sống hôn nhân gia đình cũng được kinh nghiệm trước hết là niềm vui, cả niềm vui của chính các đương sự lẫn niềm vui của Giáo hội (x. Amoris Laetitia 1). Còn trong Tông huấn Gaudete et Exsutate, trong khi nhấn mạnh sứ mạng của mỗi người trong cuộc đời này là “một nẻo đường của sự thánh thiện” (GE 19) thì Đức Phanxicô cũng khẳng định một dấu hiệu của sự thánh thiện trong thế giới hôm nay là niềm vui và khiếu hài hước (x. GE 122-128). Đời sống Kitô hữu, theo vị Giáo hoàng, thì “đầy niềm vui trong Thánh Thần” (Rm 14,7).
    – Về phương thức thi hành sứ mạng: Đối thoại và rao giảng là hai phương thức chính yếu của sứ mạng Kitô giáo. Trong đó ý nghĩa của đối thoại được mở ra rất rộng – chẳng hạn kể từ đầu thập niên 1970, các giám mục Á châu đã khai triển cuộc đối thoại ba mặt: với các nền văn hóa, với các tôn giáo, và với người nghèo. Tông huấn Evangelii Nuntiandi (1975) của Đức Phaolô VI cũng vang âm những mối quan tâm này (x. EN 20; 22; 24; 30-34; 49-58). Gần đây, Tông huấn Evangelii Gaudium của Đức Phanxicô nhấn mạnh sự cần thiết Giáo hội phải đi ra trong niềm vui, đến với những vùng ngoại vi hiện sinh, và trao những chứng tá của đời sống Tin Mừng một cách cụ thể (x. EG 20-24).
    Thật vậy, nhìn chung ngày càng có sự nhấn mạnh nhiều hơn về chứng tá đời sống như một phương thức sứ mạng ưu tiên cần được nhận thức và thực hành trong bối cảnh xã hội và thế giới hôm nay. Chứng tá đời sống, xét như phương thức thực thi sứ mạng, là hàm ý vốn được thấy khá rõ trong căn tính ‘môn đệ thừa sai’ và nhất là trong những ‘cộng đoàn nhỏ’. Nó cũng là lý do giải thích tại sao sứ mạng không chỉ hướng ngoại mà cả hướng nội nữa. Và nó giúp hiểu tại sao sứ mạng loan báo Tin Mừng không chỉ là việc dành cho các giáo sĩ, tu sĩ, chuyên viên… mà còn cho mọi tín hữu không trừ ai.
    Đáng nhắc lại rằng các giám mục Á châu đã chọn ý niệm “đối thoại” để tổng hợp tầm nhìn sứ mạng của mình. Và đối thoại, theo các ngài, có nhiều cấp độ ý nghĩa, trong đó ý nghĩa rộng nhất thuộc về ‘đối thoại đời sống’, điều mà ở đây chúng ta gọi là chứng tá đời sống. Đức Gioan Phaolô II chính thức ủng hộ tầm nhìn này trong Tông huấn Ecclesia in Asia, (x. số 23), thậm chí ngài ghi nhận nó là cách duy nhất tại những nơi mà sứ điệp Tin Mừng không thể được rao giảng trực tiếp cho dân chúng.
    Cách nào đó, Đức thánh cha Phanxicô đã khai triển phương thức chứng tá đời sống khi trình bày các thách thức đặt ra cho sứ mạng hôm nay mà ngài mệnh danh là “cơn khủng hoảng về sự dấn thân cộng đồng” (x. EG, chương 2), và khi ngài nói về “chiều kích xã hội của việc loan báo Tin Mừng” (x. EG, chương 4). Thật rõ, khó mà hình dung “chứng tá đời sống” Kitô hữu trong xã hội và thế giới hôm nay nếu người ta không thấy trong đó những dấu hiệu đủ rõ về tính cách lội ngược dòng của ngôn sứ, về chuyển động ‘đi ra’ và về tinh thần dấn thân xã hội (tức dấn thân trong các lãnh vực bảo vệ nhân phẩm, nhân quyền, công bằng xã hội, hòa bình, quan tâm môi trường, vv…) dưới ánh sáng học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo.
    Chứng tá đời sống là câu chuyện của toàn thể cuộc sống theo Đức Giêsu Kitô như được trình bày trong Phúc Âm. Nó là toàn thể cuộc sống, và nó là sứ mạng. Chúng ta không dừng một việc gì đó để làm sứ mạng, ta cũng không dừng sứ mạng để làm một việc gì đó. Bởi đời sống không có một sứ mạng, mà đời sống chính là sứ mạng! (x. GE 27).
    Chứng tá đời sống là nguồn chất liệu dệt nên những chứng từ mà ta chia sẻ. Bấy giờ, nó trở thành câu chuyện của chúng ta, câu chuyện cá vị của mỗi chúng ta với Chúa Giêsu, câu chuyện xây dựng Triều đại Thiên Chúa, trong Chúa Thánh Thần, và trong cộng đoàn môn đệ thừa sai là Hội Thánh. Người ta có thể chống lại những quan điểm, những ý kiến, nhưng không ai chống lại một câu chuyện, tức kinh nghiệm sống được chia sẻ. Vì thế, chứng tá đời sống luôn đầy sức mạnh.
    2.2. Hội Thánh hiệp hành
    Xuất phát từ nhận thức rằng “sứ mạng soi sáng cho tính hiệp hành, và tính hiệp hành thúc đẩy sứ mạng” (VKCK 32), chúng ta hãy bắt đầu việc khảo sát ý nghĩa “Hội Thánh hiệp hành” bằng chính chủ đề của Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ 16: “Vì một Hội Thánh hiệp hành: Hiệp thông, Tham gia, Sứ mạng” (Anh ngữ: For a synodal Church: Communion, Participation, Mission).
    – Tính hiệp hành là phong cách sống và vận hành của Hội Thánh:
    Nói “vì một Hội Thánh hiệp hành”, hoặc “cho một Hội Thánh hiệp hành”, thì sẽ tốt hơn là nói “hướng tới một Hội Thánh hiệp hành”! Đơn giản bởi vì ta đang nói đến tính hiệp hành, vốn là một phong cách sống và vận hành (modus vivendi et operandi) cố hữu của Hội Thánh. Trên nguyên tắc, phong cách này là “chiều kích cấu thành” của Hội Thánh. Nghĩa là, đây không phải một cái gì hoàn toàn mới mẻ mà Hội Thánh hôm nay kiến tạo ra. Đúng hơn, việc mà chúng ta đang cần làm ngày nay là khơi dậy và làm sống hoạt phong cách này. Nếu thử kiểm tra chéo, tham khảo cách diễn ngôn chủ đề Thượng Hội đồng này trong các ngôn ngữ Anh, Pháp và Ý, chẳng hạn, ta thấy từ Anh ngữ ‘for’ ở đây (chứ không phải toward) ứng với từ tiếng Pháp ‘pour’ (chứ không phải vers) và ứng với từ tiếng Ý ‘per’ (chứ không phải verso)!
    – Tính hiệp hành là linh đạo, chứ không phải là một sách lược:
    Điều lưu ý trên đây càng được xác nhận mạnh mẽ khi cùng với tiến trình Thượng Hội đồng, chúng ta nhận thức rằng hiệp hành là một linh đạo. Đó trước hết là “một tâm thế thiêng liêng thấm nhuần vào đời sống hằng ngày của những người đã lãnh Phép Rửa và vào mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội”. Nói đến một tâm thế thiêng liêng là nói đến “sự tác động của Chúa Thánh Thần, giả thiết việc lắng nghe Lời Chúa, sự chiêm niệm, thinh lặng và hoán cải tâm hồn” (x. VKCK 43).
    Dưới đề mục ‘Linh đạo hiệp hành’, Văn kiện Chung kết còn nêu sự cần thiết của khổ hạnh, khiêm tốn, kiên nhẫn, sự sẵn sàng tha thứ và đón nhận tha thứ, mà hoa trái nhận được là sự hiệp nhất và hài hòa trong tính đa dạng. Nhãn quan hiệp hành vừa dựa vào di sản tâm linh phong phú của Truyền thống, vừa góp phần đổi mới các hình thức của di sản ấy (x. VKCK 44).
    – Ba chiều kích ‘hiệp thông, tham gia, sứ mạng’:
    Được nêu như phụ đề gắn với chủ đề ‘Vì một Hội Thánh hiệp hành’, ba chiều kích này được hiểu và tiếp cận như thế nào? Không phải như ba đại lượng để ta làm bài toán cộng, rồi sẽ có kết quả là tính hiệp hành! Không phải như mua ba đống gạch, cát, xi măng, đem về đổ đó là có cái nhà ‘hiệp hành’! Vì thế, nếu chúng ta chỉ tiếp cận cách tách rời ba chiều kích hiệp thông, tham gia, và sứ mạng, thì vẫn chưa có được tính hiệp hành cho Giáo hội hay cho cộng đoàn của mình. Tính hiệp hành chỉ có khi ba chiều kích này được nhận thức và phối kết đúng đắn. Cẩm Nang cho THĐGM 16 (xuất bản vào tháng 9/2021) có một đoạn rất quan trọng (ở mục 1.4) nói về ba chiều kích này như sau:
    “Chủ đề của Thượng Hội Đồng là ‘Vì một Hội Thánh hiệp hành: Hiệp thông, tham gia, sứ mạng’. Ba chiều kích của chủ đề là hiệp thông, tham gia, và sứ mạng. Ba chiều kích này liên hệ thâm sâu với nhau. Chúng là những trụ cột then chốt của một Hội Thánh hiệp hành. Không có thứ bậc giữa chúng. Đúng hơn, mỗi chiều kích làm phong phú và định hướng hai chiều kích kia. Có một tương quan năng động giữa ba chiều kích này, vốn phải được phối kết, với cả ba cùng một trật trong tâm trí.”
    Hãy đặc biệt chú ý câu cuối cùng trên đây: “Có một tương quan năng động giữa ba chiều kích này, vốn phải được phối kết, với cả ba cùng một trật trong tâm trí”! Điều này có nghĩa rằng ba chiều kích ‘hiệp thông, tham gia, sứ mạng’ không được tách rời nhau trong nhận thức của chúng ta. Nếu ta tách chúng ra để học và hành, thì điều ta nhận được có thể là một thứ gì đó, nhưng chắc chắn chưa phải là tính hiệp hành.
    Theo Văn kiện Chung kết, tính hiệp hành của Hội Thánh biểu lộ và hiện thực cụ thể căn tính hiệp thông, qua sự tham gia tích cực của tất cả các thành viên vào sứ mạng loan báo Tin Mừng (x. VKVK, số 31). Chúng ta nhận ra cách trình bày này rất phối kết, với cả ba chiều kích ‘hiệp thông, tham gia, sứ mạng’ cùng một trật trong tâm trí, liên hệ thâm sâu với nhau. Theo đó, có thể tổng hợp: Tính hiệp hành biểu lộ nơi sự tham gia tích cực của tất cả các thành viên Giáo hội, dựa trên nền tảng hiệp thông, và luôn được định hướng sứ mạng. Nghĩa là, mọi người cần phải tham gia, nhưng không phải tham gia bất cứ kiểu nào, mà phải là sự tham gia đặt nền trên hiệp thông và nhằm phục vụ cho sứ mạng. Nói cách khác, ‘hiệp thông’ là nền tảng thâm sâu, ‘tham gia’ là sự thể hiện cụ thể, và ‘sứ mạng’ là mục đích thâu họp tất cả.
    – Cùng lắng nghe và phân định:
    Ba chiều kích nói trên kia có thể được gọi là nguyên tắc nền tảng của tính hiệp hành. Trên bình diện hành động thực tiễn, tính hiệp hành được thể hiện chủ yếu qua việc cùng lắng nghe và cùng phân định. Có thể kể thêm đối thoại, nhưng thực ra đối thoại – đặc biệt ‘đối thoại trong Thánh Thần’, một phương pháp sáng giá hiện nay – là yếu tố hiển nhiên nằm sẵn trong tiến trình ‘cùng lắng nghe và phân định’ này.
    Ngay từ đầu Thượng Hội đồng, Cẩm Nang nhấn mạnh rằng ai cũng được lắng nghe, không ai bị loại trừ và không ai bị bỏ lại đằng sau. Trong tinh thần này, giai đoạn lắng nghe (hay thỉnh ý dân Chúa) tại các Giáo hội địa phương đã được tiến hành, được gia hạn, và chiếm lượng thời gian đáng kể. Có thể thấy, đây là chuyển động theo chiều hướng tản quyền nhiều hơn, chiều hướng mà Đức thánh cha Phanxicô đã gợi ra trong Tông huấn Evangelii Gaudium của ngài (x. số 16).
    Việc lắng nghe tiếng Chúa và tiếng nói của mọi người trong Giáo hội đặt nền trên cảm thức đức tin (sensus fidei) hay cảm thức của các tín hữu (sensus fidelium). Nhưng việc thực thi cảm thức này cần phân biệt với công luận hay ‘dân chủ’. Bởi nó luôn gắn liền với sự phân định của các mục tử ở các cấp độ khác nhau của đời sống Giáo hội. Lắng nghe và phân định, Giáo hội sẽ không tự qui chiếu về mình vì Giáo hội là mầu nhiệm mặt trăng (mysterium lunae), và các mục tử trong Giáo hội cũng không tự qui chiếu về mình. Lắng nghe và phân định giả thiết niềm xác tín rằng Chúa Thánh Thần nói qua mọi người, đặc biệt những người vốn dễ bị quên lãng và không có tiếng nói trong cộng đoàn. Ngay cả trong những ý kiến trái chiều, những ý kiến được cho là không thể chấp nhận được, thì Chúa Thánh Thần vẫn trao gửi thông điệp hay thực hiện được những cú hích nào đó.
    – Hoán cải:
    Đúc kết toàn bộ tiến trình Thượng Hội đồng về Hiệp hành, Văn kiện Chung kết đã chọn từ khóa ‘hoán cải’ để trình bày con đường của Hội Thánh hiệp hành hôm nay. Ở phần I, tài liệu này nói về trọng tâm của tính hiệp hành, đó là: “được Chúa Thánh Thần kêu gọi hoán cải”. Ba phần tiếp theo (II, III, IV) lần lượt khai triển các khía cạnh của cuộc hoán cải ấy: Hoán cải các mối tương quan, hoán cải các tiến trình, và hoán cải các mối dây liên kết.
    Hoán cải các mối tương quan: Tính hiệp hành giả thiết sự đổi mới tất cả các mối tương quan nên tốt hơn. Đó là “tương quan với Chúa, tương quan giữa nam và nữ, trong các gia đình, các cộng đoàn, giữa tất cả các Kitô hữu, giữa các nhóm xã hội, giữa các tôn giáo, với công trình tạo dựng”… Sự đổi mới này là “dấu chỉ hùng hồn nhất về hoạt động của Chúa Thánh Thần trong cộng đoàn các môn đệ”… Và đây “không phải là một chiến lược hay công cụ để đạt hiệu quả cao hơn về mặt tổ chức, mà đúng hơn đó là cách Thiên Chúa Cha mặc khải chính Ngài trong Chúa Giêsu và trong Thánh Thần” (x. VKCK 50).
    Hoán cải các tiến trình: ‘Các tiến trình’ ở đây nhằm nói đến “sự phân định của Giáo hội, sự quan tâm đến các tiến trình đưa ra quyết định, trách nhiệm giải trình và sự đánh giá”. Rõ ràng, việc đưa ra quyết định cần sự phân định của Giáo hội, đòi hỏi việc lắng nghe trong một bầu khí tin tưởng được hỗ trợ bợi sự minh bạch và trách nhiệm giải trình. Sự tin tưởng phải hỗ tương: những người ra quyết định cần có khả năng tin tưởng và lắng nghe Dân Thiên Chúa; phần mình, Dân Thiên Chúa cần có khả năng tin tưởng những người có thẩm quyền” (x. VKCK 79-80).
    Hoán cải các mối dây liên kết: Các mối dây liên kết ở đây là tất cả những sự phối hợp của các thành phần khác nhau làm nên một “Giáo hội hiệp hành đang hoạt động” trong thực tế. Điều này bao gồm mọi hình thức trao đổi các ân ban, “được nâng đỡ bởi sứ vụ của các giám mục trong sự hiệp thông giữa các ngài với Giám mục Rôma” (x. VKCK 109). Cuộc hoán cải này sẽ liên quan đến việc nhận thức lại nhiều lãnh vực và nhiều bình diện trong Giáo hội, như: chiều kích địa phương, sự biến đổi nhận thức về ‘nơi chốn’, tác động của hiện tượng di cư và của văn hóa kỹ thuật số, khung cảnh mục vụ giáo phận, giáo xứ, các cộng đoàn và các phong trào, vân vân… (x. VKCK 110-139).
    2.3. Tổng hợp
    Sau khi đã khái quát mô tả về ‘sứ mạng’ và về ‘hiệp hành’ như trên, giờ đây chúng ta có thể rút ra một tổng hợp những hàm nghĩa của ‘Hội Thánh hiệp hành thừa sai’. Điều ghi nhận trước hết, đó là chính ba chiều kích của tính hiệp hành đã cho thấy rằng hiệp hành là cho sứ mạng. Hay nói cách khác, sứ mạng là mục đích và là sự định hướng của hiệp hành. Còn theo cách diễn tả của Văn kiện Chung kết thì: “Tính hiệp hành và sứ mạng có mối nối kết mật thiết với nhau, trong đó sứ mạng soi sáng cho tính hiệp hành và tính hiệp hành thúc đẩy sứ mạng” (số 32).
    Tính hiệp hành gợi cho chúng ta hình ảnh về sứ mạng Hội Thánh có sự tham gia tích cực của mọi người, bằng những cách thức khác nhau. Cộng đoàn Giáo hội lắng nghe, đối thoại, phân định với nhau. Các quyết định được đưa ra từ một tiến trình đồng nghị, chứ không theo cách đơn phương và một chiều. Từ đó, có thể hình dung ‘Hội Thánh hiệp hành thừa sai’ là một Hội Thánh cùng nhau đi ra với thế giới, trong đó sứ mạng không được dẫn dắt một chiều từ trên xuống, cũng không phải được xúc tiến chỉ bởi một số người ưu tú. Mô hình này sẽ thay đổi cả sứ mạng lẫn phương pháp.
    Trong thực tế, những thay đổi là: Sứ mạng không còn là nhiệm vụ được giao cho một số người, mà đúng hơn, mọi người đã lãnh Phép Rửa đều liên can vào sứ mạng của Giáo hội. Những tiếng nói khác nhau sẽ giúp định hình cách mà sứ mạng diễn ra – điều này dựa trên chính tầm nhìn của Vatican 2 về ‘Giáo hội là Dân Thiên Chúa’. Đặc biệt, hoạt động loan báo Tin Mừng sẽ bắt đầu với việc lắng nghe: lắng nghe các nền văn hóa, các vấn đề, các kinh nghiệm của người ta – chứ không chỉ là nói cho người ta nghe đơn thuần một chiều.
    Thật vậy, sứ mạng không chỉ là trao các câu trả lời; nó bao gồm việc khám phá cách thức Thiên Chúa đang hành động. Việc phân định sẽ giúp ta biết cách tiếp cận. Và thay vì áp đặt những sách lược cứng nhắc ở mọi nơi, các cộng đoàn sẽ suy tư cùng nhau, và tự hỏi: Chúa Thánh Thần đang kêu gọi chúng ta điều gì ở đây và lúc này? Trong khi đó, hiển nhiên là quyền bính vẫn tồn tại, nhưng sẽ có nhiều tính ‘liên hệ’ hơn. Các vị lãnh đạo (giáo hoàng, các giám mục) vẫn là những người quyết định và giảng dạy, nhưng là sau khi tham vấn và lắng nghe thực sự. Đây chính xác là mô hình mà một Hội Thánh hiệp hành thừa sai tìm kiếm.
    Tóm lại, Hội Thánh hiệp hành thừa sai là một cộng đoàn phân định và thi hành sứ mạng cùng với nhau – xuyên qua sự tham gia, lắng nghe, và tinh thần đồng trách nhiệm – trong khi vẫn luôn được hướng dẫn bởi các mục tử của mình.
    3. NHỮNG TRIỂN VỌNG VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ
    Nói về những triển vọng của một Hội Thánh hiệp hành thừa sai, đó là tự hỏi: Giáo hội có thể có tính tham gia nhiều hơn bên trong chính mình, đồng thời trở nên hữu hiệu và khả tín hơn đối với xã hội và thế giới hay không?
    3.1. Những chiều hướng chính yếu
    Sau đây là một số chiều hướng chính yếu định hình tương lai của một Hội Thánh hiệp hành thừa sai, gồm cả những triển vọng và những thách đố:
    – Chuyển trọng tâm từ cơ cấu đến văn hóa
    Đây là một sự dịch chuyển chậm nhưng dứt khoát. Tính hiệp hành không cốt ở những cuộc họp hay hội nghị. Nó nhắm hình thành một thói quen lắng nghe ở mọi bình diện: giáo xứ, giáo phận, Giáo hội hoàn vũ. Thách đố lớn nhất, đó là chuyển từ những việc tham vấn diễn ra bất chợt lúc này lúc khác đến một văn hóa ổn định thường xuyên, trong đó giáo sĩ và giáo dân thực sự đồng trách nhiệm. Nếu sự chuyển dịch có tính văn hóa này bắt rễ vững vàng, thì chiều kích sứ mạng thừa sai sẽ trở nên khả tín hơn, vì mọi người đều cảm thấy sứ mạng của Giáo hội chính là sứ mạng của mình.
    – Sự tham gia nhiều hơn của giáo dân, nhất là tại những vùng đất sứ mạng
    Tại nhiều vùng trên thế giới (Phi châu, Á châu, châu Mỹ La tinh), Giáo hội vốn đã dựa đáng kể vào các cán sự giáo dân, các giảng viên giáo lý, và các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ. Tính hiệp hành có thể củng cố và phát huy thực tại này. Viễn ảnh sứ mạng thừa sai sẽ trở nên đầy triển vọng, nhờ ở sự kiện rằng việc loan báo Tin Mừng không còn được xem như bổn phận của riêng giáo sĩ và tu sĩ mà thôi, nhưng là việc của toàn thể Dân Thiên Chúa.
    – Sự căng thẳng giữa hiệp nhất và đa dạng
    Một Hội Thánh hiệp hành sẽ cho phép những tiếng nói địa phương định hình hoạt động mục vụ. Điều này tạo nên năng lực, những cũng tạo ra căng thẳng. Những vùng khác nhau có thể nhấn mạnh những mối ưu tiên khác nhau (chẳng hạn, công bằng xã hội, hội nhập văn hóa, thần học luân lý, vân vân…) Sự thách đố ở đây, đó là làm sao giữ gìn sự hiệp nhất mà không áp chế tính đa dạng chính đáng. Cách thức mà chúng ta dùng để giữ cân bằng ở đây sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tính hiệu quả của sứ mạng.
    – Đạt được tính khả tín trong một thế giới nghi ngờ
    Tại nhiều xã hội hôm nay, người ta trở nên dị ứng đối với tôn giáo cơ chế. Một Giáo hội biết lắng nghe – nhất là lắng nghe tiếng nói của những anh chị em bị gạt ra bên lề – sẽ có thể nhận được sự tín nhiệm về mặt đạo đức. Điều này liên hệ mật thiết với sứ mạng: người ta dễ dàng đón nhận một Giáo hội khiêm nhường và đối thoại hơn là một Giáo hội chỉ in đậm dấu quyền bính.
    – Trong sự kết nối toàn cầu và kỹ thuật số
    Tính hiệp hành ngày nay không diễn ra chỉ nơi những cuộc qui tụ gặp gỡ trực tiếp. Nó được định hình phần lớn bởi mạng lưới truyền thông toàn cầu. Trong bối cảnh này, Giáo hội có thể được nối kết tốt hơn và đáp ứng hữu hiệu hơn – nhưng cũng trở nên dễ bị phân cực hơn, giống như điều xảy ra trong bức tranh thế giới. Việc nắm hiểu và kiểm soát được năng động này là điều hết sức quan trọng để bảo đảm cho sứ mạng của Giáo hội được rõ ràng và nhất quán.
    – Nguy cơ bị khựng lại hay bị đề kháng
    Không phải tất cả mọi người đều đang sốt sắng ủng hộ tính hiệp hành. Một số có thể lo sợ rằng tính hiệp hành sẽ làm suy yếu giáo lý hay quyền bính. Nhiều người khác không hy vọng tính hiệp hành sẽ có thể tiến xa. Sứ mạng của Giáo hội có thể bị trì trệ nếu tính ‘hiệp hành’ bị mắc kẹt chỉ trong những tranh luận nội bộ thay vì hướng tiêu điểm ra ngoài.
    3.2. Một số ví dụ
    Để minh họa rõ hơn về một ‘Hội Thánh hiệp hành thừa sai’ trong khung cảnh thực tiễn, có thể nêu ở đây một vài ví dụ:
    – Ví dụ 1: Một giáo xứ quyết định cách thức tiếp cận giới trẻ:
    Theo phương thức cũ, không phản ánh rõ tính hiệp hành lẫn tính sứ mạng, chúng ta thường thấy như sau: Cha xứ quyết định rằng giáo xứ cần một chương trình giới trẻ. Rồi một kế hoạch được lập ra và được công bố. Thật đơn giản vậy thôi, và rõ ràng cách thức này không có bao nhiêu tính tham gia, do đó năng lực tác động rất hạn chế.
    Còn theo phương thức có tính hiệp hành thừa sai, thì giáo xứ sẽ bắt đầu bằng cách lắng nghe: nghe những người trẻ, nghe các bậc phụ huynh, các thầy cô giáo. Sẽ có những thảo luận công khai: Tại sao giới trẻ thụ động, ít tham gia vào đời sống giáo xứ? Các bạn trẻ đang thực sự tìm kiếm điều gì?… Một nhóm chuyên trách, gồm cả giáo sĩ và giáo dân, sẽ cùng nhau suy tư và đưa ra các ý kiến. Cha xứ vẫn hướng dẫn, nhưng sự định hướng thì được hình thành bởi tập thể.
    Kết quả là cách tiếp cận này thực sự có sức nối kết, chứ không chỉ hời hợt, máy móc. Phương thức dành ưu tiên trước hết cho việc lắng nghe ở đây chính là điều mà Thượng Hội đồng về hiệp hành đã và đang thúc đẩy rộng rãi.
    – Ví dụ 2: Giải quyết một vấn đề xã hội tại địa phương (chẳng hạn, sự nghèo đói hay làn sóng người nhập cư):
    Phương thức cũ thường đơn giản là tổ chức các hoạt động từ thiện xã hội để giúp người ta, trong đó các quyết định được đưa ra bởi một nhóm nhỏ lãnh đạo… Còn theo phong cách hiệp hành thừa sai, thì trước hết Giáo hội sẽ lắng nghe, không chỉ lắng nghe các tình nguyện viên, mà lắng nghe cả những anh chị em đang khốn khổ. Theo phong cách này, những người ở bên lề được nhìn và cư xử như những người đóng góp, chứ không phải như những người thuần túy nhận lãnh. Điều quan trọng là cộng đoàn phân định: Cái gì thực sự được cần đến ở đây?
    Kết quả là sứ mạng sẽ trở thành có tính liên hệ nhiều hơn, và bớt vận hành một chiều hơn.
    – Ví dụ 3: Giáo phận đưa ra một quyết định quan trọng (chẳng hạn, giải thể hay thành lập các giáo xứ):
    Theo phương thức cũ, các quyết định được đưa ra ở cấp chóp bu. Những quyết định ấy được công bố. Có những phản ứng nghi ngờ, chán nản, hay chống đối…
    Còn với phương thức có tính hiệp hành thừa sai, thì sự tham vấn rộng rãi được thực hiện nơi các giáo xứ. Những cuộc gặp gỡ lắng nghe được thực hiện, ngay cả khi có sự xung đột trong các quan điểm. Các khó khăn hay các thuận lợi được nêu ra một cách minh bạch… Cuối cùng, quyết định được đưa ra bởi giám mục giáo phận, sau khi tiến hành các bước tham vấn.
    Kết quả là ngay cả đối với những quyết định rất khó khăn, người ta cũng dễ nhận hiểu và tin tưởng hơn.
    – Ví dụ 4: Phụng vụ và đời sống cộng đoàn:
    Phong cách hiệp hành thừa sai sẽ thúc đẩy sự tham gia tích cực. Giáo dân sẽ đảm nhận những vai trò đầy ý nghĩa, chứ không chỉ những vai trò có tính biểu tượng mà thôi. Những diễn tả văn hóa – như âm nhạc, ngôn ngữ, cử chỉ – được chú trọng. Nhất là, sự phản hồi từ cộng đoàn được quan tâm thích đáng. Phong cách này diễn tả chính tầm nhìn của Công đồng Vatican 2, nhấn mạnh việc tham dự phụng vụ tích cực và đầy ý thức.
    Các ví dụ trên, cách nào đó, cho thấy sự chuyển đổi tâm thế. Sự thay đổi lớn nhất không nằm ở cơ cấu, mà nằm ở tầng sâu văn hóa! Theo đó, mô hình ‘Giáo hội cung ứng các việc phục vụ’ chuyển đổi thành mô hình ‘Chúng ta là Giáo hội, cùng nhau trong sứ mạng’. Mô hình ‘Các nhà lãnh đạo nói, mọi người nghe theo’ chuyển đổi thành mô hình ‘Mọi người lắng nghe, một số người được ủy trao việc quyết định’. Và mô hình ‘Chúng ta giữ những gì mình có’ chuyển đổi thành ‘Chúng ta đi ra và thích nghi, để thực thi sứ mạng’.
    3.3. Trong bối cảnh Giáo hội tại Việt Nam
    Nhìn vào bức tranh Giáo hội tại Việt Nam, chúng ta ghi nhận một số nét đặc thù. Đời sống và sứ mạng của Giáo hội tại đất nước chúng ta diễn ra trong một bối cảnh đặc trưng bởi sự thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế, với sắc thái văn hóa địa phương rất mạnh, và một khung thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa. Tầm nhìn ‘hiệp hành thừa sai’ thật ra không phải là một cái gì trừu tượng. Nó được định hình bởi những yếu tố thực tế.
    – Tại nhiều giáo xứ ở Việt Nam, đời sống cộng đoàn có tính tham gia cao độ, với những hội đoàn giáo dân, với việc truyền thụ đức tin trong gia đình, và với văn hóa mộ đạo mạnh mẽ. Theo đó, tính hiệp hành không phải là cái gì mới mẻ, mà đã được ẩn chứa. Việc cần làm là điều hướng sự tham gia có tính tổ chức thành sự tham gia vào việc phân định chung, trong tinh thần lắng nghe, đối thoại và đồng trách nhiệm.
    – Việc loan báo Tin Mừng diễn ra trong bối cảnh thể chế chính trị có nhiều nhạy cảm, vì thế chiều kích sứ mạng thừa sai của Giáo hội thường được thể hiện một cách gián tiếp, qua giáo dục, từ thiện xã hội, chăm sóc sức khỏe, và qua chứng tá luân lý. Một Giáo hội có tính hiệp hành hơn sẽ lắng nghe các nhu cầu của người ta và sẽ làm cho dạng thức sứ mạng này trở nên khả tín và hữu hiệu hơn, nhất là đối với người nghèo, những người di dân, bà con lao động thành thị…
    – Hiện tượng đô thị hóa đang diễn ra nhanh. Nhiều bạn trẻ sinh viên hay lao động Công giáo đổ xô đến các thành phố, nơi mà họ không có mối gắn kết với giáo xứ. Một phương thức có tính hiệp hành sẽ giúp gắn kết họ, chẳng hạn, qua các nhóm nhỏ, các sinh hoạt giao lưu, các sáng kiến nối kết đầy ý nghĩa… Nếu không có những thích nghi như thế, Giáo hội sẽ có nguy cơ đánh mất cảm thức và năng lực sứ mạng nơi các thế hệ trẻ.
    – Người Công giáo Việt Nam từ lâu đã hội nhập những yếu tố văn hóa địa phương – như những mối gắn kết gia đình, lòng tôn kính tổ tiên, ý thức căn tính cộng đồng. Tính hiệp hành có thể giúp củng cố chiều hướng hội nhập văn hóa này, bằng cách cho phép những tiếng nói địa phương định hình đời sống mục vụ. Điều này sẽ đem lại một lợi điểm lớn cho sứ mạng, đó là đức tin sẽ bớt bị coi là ‘du nhập’, và sẽ được hội nhập vào văn hóa địa phương cách chân thực hơn.
    – Ơn gọi tu trì ở Việt Nam tương đối phong phú, và giáo sĩ thường có thẩm quyền đáng kể. Việc thực hiện mô hình có tính hiệp hành nhiều hơn sẽ cần lập lại thế cân bằng trong tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân. Điều này không có nghĩa là làm cho các linh mục suy yếu đi, mà có nghĩa là đẩy mạnh tinh thần đồng trách nhiệm thực sự. Đây là một trong những sự chuyển biến tế nhị nhất được kỳ vọng trong nhãn giới hiệp hành.
    KẾT LUẬN

    Các triển vọng của một Hội Thánh hiệp hành thừa sai thật đáng phấn khích, nhưng vẫn còn đó tính bấp bênh. Nếu ‘hiệp hành’ trở thành một thực tại sống động – nghĩa là chúng ta có khả năng lắng nghe chân thành, có tinh thần đồng trách nhiệm rõ ràng, và có sự cởi mở thực sự để cho Chúa Thánh Thần dẫn dắt – thì năng lực sứ mạng của Giáo hội sẽ được đổi mới và sinh hoa trái cách ngoạn mục. Còn nếu ‘hiệp hành’ vẫn chủ yếu là cái gì có tính thủ tục hay nửa vời, thì nó sẽ không đem lại bao nhiêu kết quả.

    Nguồn: .facebook.com/le.cong.duc.lm

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com