BÀI ĐỌC I: Is 6, 1-2a, 3-8
Năm vua Ozias băng hà, tôi nhìn thấy Chúa ngự trên ngai cao, và đuôi áo của Người bao phủ đền thờ. Các Thần Sốt Mến đứng trước mặt Người, và luân phiên tung hô rằng: “Thánh, Thánh, Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, toàn thể địa cầu đầy vinh quang Chúa”. Các nền nhà đều rung chuyển trước tiếng tung hô, và nhà cửa đều đầy khói.
Lúc bấy giờ tôi mới nói: “Vô phúc cho tôi! Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn, tôi ở giữa một dân tộc mà lưỡi họ đều nhơ nhớp, mắt tôi đã trông thấy Ðức Vua, Người là Chúa các đạo binh”. Nhưng lúc đó có một trong các Thần Sốt Mến bay đến tôi, tay cầm cục than cháy đỏ mà ngài đã dùng cặp lửa gắp ở bàn thờ. Ngài đặt than lửa vào miệng tôi và nói: “Hãy nhìn xem, than lửa này đã chạm đến lưỡi ngươi, lỗi của ngươi được xoá bỏ, và tội của ngươi được thứ tha”. Và tôi nghe tiếng Chúa phán bảo: “Ta sẽ sai ai đi? Và ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi liền thưa: “Này con đây, xin hãy sai con”.
BÀI ĐỌC II: 1 Cr 15, 1-11
Anh em thân mến, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng mà tôi đã rao giảng cho anh em, và anh em đã lãnh nhận và đang tin theo, nhờ đó anh em được cứu độ, nếu anh em tuân giữ lời lẽ tôi đã rao giảng cho anh em, bằng không anh em đã tin cách vô ích. Tôi đã rao truyền cho anh em trước tiên điều mà chính tôi đã nhận lãnh: đó là Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với mười một vị. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em trong một lúc; nhiều người trong số anh em đó hãy còn sống tới nay, nhưng có vài người đã chết. Thế rồi Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ. Sau cùng, Người cũng hiện ra với chính tôi như với đứa con đẻ non. Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng nay tôi là người thế nào, là nhờ ơn của Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các Ðấng: song không phải tôi, nhưng là ơn của Thiên Chúa ở với tôi. Dù tôi, dù là các Ðấng, chúng tôi đều rao giảng như thế cả, và anh em cũng đã tin như vậy.
PHÚC ÂM: Lc 5, 1-11
Khi ấy, dân chúng chen nhau lại gần Ðức Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, lúc đó Người đứng ở bờ hồ Giênêsarét. Người trông thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền và họ đang giặt lưới. Người xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông đưa ra khỏi bờ một chút. Rồi Người ngồi trên thuyền, giảng dạy dân chúng. Vừa giảng xong, Người bảo ông Simon rằng: “Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá”. Ông Simon thưa Người rằng: “Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Các ông đã thả lưới và bắt được rất nhiều cá; lưới các ông hầu như bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho các bạn đồng nghiệp ở thuyền bên cạnh đến giúp đỡ các ông. Những người này tới, họ đổ cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi những thuyền chở nặng gần chìm.
Thấy thế, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: “Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Ông kinh ngạc và tất cả mọi người ở đó với ông cũng kinh ngạc trước mẻ cá mà các ông vừa mới bắt được; cả ông Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, bạn đồng nghiệp với ông Simon cũng thế. Nhưng Chúa Giêsu phán bảo ông Simon rằng: “Ðừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.
Suy Niệm 1: THIÊN CHÚA SIÊU VIỆT CAO CẢ KÊU GỌI CON NGƯỜI TỘI LỖI THẤP HÈN
THIÊN CHÚA là Đấng chí thánh, uy nghi, cao cả, siêu việt… “Thánh, Thánh, Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, toàn thể địa cầu đầy vinh quang Chúa”…
Còn ngược lại, ISAIA biết rõ mình thấp hèn, bất xứng: “Tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn”…
Nhưng Chúa dùng than hồng nung đốt môi miệng Isaia để thanh tẩy ông – và kêu gọi ông đi làm ngôn sứ cho Ngài. Isaia đã dám thưa lên: “Này con đây, xin hãy sai con!” Sự thánh thiêng của Thiên Chúa và cái phàm trần của con người được nối kết lại, nhờ cuộc thanh tẩy cái phàm trần bởi chính sự thánh thiêng. Nhưng không chỉ là thanh tẩy, mà còn là kêu gọi, sử dụng, và sai đi nữa! (x. Is 6,1-2a,3-8).
SIMON PHÊRÔ cũng kinh nghiệm khoảng cách choáng ngợp giữa con người tội lỗi của mình và sự thánh thiện siêu việt của CHÚA GIÊSU: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi!”… Nhưng Chúa Giêsu không tránh xa, ngược lại, Người sáp lại gần, trấn an Simon, và kêu gọi ông tham gia vào công cuộc của Người: “Ðừng sợ hãi: từ đây anh sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Simon cùng với các bạn ngư phủ của mình đã “đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người” (x. Lc 5,1-11).
Đến lượt PHAOLÔ tự sự, nhìn nhận thân phận tệ mạt của mình như “đứa con đẻ non”… bởi Phaolô cảm thấy mình “là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa”! Nhưng CHÚA PHỤC SINH đã ‘hiện ra’ với Phaolô trong uy lực của Người, đã chinh phục, kêu gọi ông, và sai đi (x. 1Cr 15,1-11).
Lời Chúa, vì thế, cho chúng ta thấy sự tương phản giữa tính siêu việt cao cả của Chúa và thân phận mọn hèn bất xứng của con người chúng ta – nhưng Chúa không chê bỏ, mà tìm cách thanh luyện, lôi kéo chúng ta vào trong công cuộc của Ngài. Trong niềm hân hoan tạ ơn, chúng ta hoà với tâm tình của Thánh vịnh 137 (Đáp ca) để ca ngợi vinh quang và sự tốt lành của Chúa: “Lạy Chúa, trước mặt các thiên thần, con đàn ca mừng Chúa”.
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
…………………………………….
Suy Niệm 2: ĐƯỢC SAI ĐI MANG NIỀM VUI CHO MỌI NGƯỜI
Tuần trước lời Chúa nói về ơn gọi của ngôn sứ và tuần này lời Chúa đưa chúng ta đến với việc sai đi của vị ngôn sứ: Ngôn sứ được gọi để được sai đi rao giảng. Tuần trước chúng ta nghe về ơn gọi của ngôn sứ Giêrêmia và tuần này chúng ta nghe về ơn gọi của ngôn sứ Isaia trong bài đọc 1, của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 và của bốn môn đệ đầu tiên [Simon Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan] trong bài Tin Mừng. Chúng ta sẽ nhận thấy, Chúa gọi mỗi người trong họ trong những hoàn cảnh khác nhau và nhất là trong khi họ đang làm những công việc thật bình thường của kiếp nhân sinh. Chúa cũng đến gọi chúng ta trong hoàn cảnh sống của chúng ta như vậy, liệu chúng ta có đáp lại hay không? Chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ về ơn gọi của các nhân vật trong ba bài đọc hôm nay để hiểu rõ hơn về ơn gọi của mình.
Bài đọc 1 nói về thị kiến của Isaia sau khi vua Útdigiahu băng hà. Thị kiến nói về hình ảnh uy nghiêm của Đức Chúa, là Đấng chí thánh và là “Đức Chúa của các đạo binh” (Is 6:3). Ngôn sứ Isaia trình bày cho chúng ta hình ảnh về một Thiên Chúa uy nghiêm và Chí Thánh nhưng lại kêu gọi mình, một con người yếu đuối và “môi miệng ô uế” (Is 6:4) để công bố tin mừng của Ngài. Ngôn sứ Isaia thấy mình quá vinh dự vì được “thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!” (Is 6:5). Chúng ta có nhận ra vinh dự khi đến tham dự thánh lễ để được nhìn thấy chính Chúa không? Một vị ngôn sứ chân chính là người cảm thấy mình vinh dự vì được Đức Chúa gọi và sai đi. Hơn nữa, một chi tiết khá quan trọng trong bài đọc 1 làm chúng ta để ý là việc Isaia nói về thực tế của đời mình, đó là, môi miệng ô uế và được Đức Chúa sai “một trong các thần Xêraphim bay về phía tôi, tay cầm một hòn than hồng người đã dùng cặp mà gắp từ trên bàn thờ. Người đưa hòn than ấy chạm vào miệng tôi và nói: ‘Đây, cái này đã chạm đến môi ngươi, ngươi đã được tha lỗi và xá tội’” (Is 6:6-7). Trong thánh lễ hôm nay, môi miệng chúng ta không phải được một hòn than chạm đến, nhưng là chính Mình và Máu Thánh Chúa Kitô; môi miệng chúng ta được chạm đến bởi Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.
Trong bài đọc 2 hôm nay, chúng ta tìm thấy ‘nội dung rao giảng căn bản nhất’ của các tông đồ và Giáo Hội sơ khai, hay còn gọi là Kerygma (chúng ta có thể gọi đơn giản là “những tín điều đầu tiên của Hội Thánh”): “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1 Cr 15:3-4). Thánh Phaolô kể về việc mình được nhìn thấy Chúa Giêsu Phục Sinh: “Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non (1 Cr 15:6-8). Giống như Isaia, Thánh Phaolô nói về đặc ân được gọi của mình. Ngài nhận ra mình chỉ là người bất xứng và “người hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa” (1 Cr 15:9). Việc ngài trở thành tông đồ là “nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu; trái lại, tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi” (1 Cr 15:10). Tất cả những gì chúng ta có và chúng ta là đều là hồng ân của Thiên Chúa. Chính vì vậy, chúng ta phải luôn có thái độ tạ ơn Thiên Chúa. Đây chính là ý nghĩa của từ “Thánh Thể” [Eucharistia] – có nghĩa là “tạ ơn.” Chúng ta đến với Chúa mỗi Chúa Nhật trong thánh lễ để tạ ơn Chúa cho một tuần đã qua và một tuần mới bắt đầu và xin Ngài ban cho chúng ta những ơn lành cần thiết để rao giảng tin mừng của Ngài qua chính cuộc sống phục vụ của chúng ta trong gia đình, giáo xứ hay công sở.
Bài Tin Mừng hôm nay kể về câu chuyện ơn gọi của các môn đệ đầu tiên, nhưng tập trung cách đặc biệt vào ơn gọi của Thánh Phêrô. Chúng ta cùng nhau phân tích ơn gọi của Phêrô một cách chi tiết hơn để rút ra những suy niệm cần thiết và cụ thể cho tuần sống của chúng ta. Chúng ta lưu ý đến bốn điểm sau:
Thứ nhất, Thánh Phêrô “cho phép” Chúa Giêsu lên và sử dụng thuyền của mình để giảng dạy: “Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông” (Lc 5:3). Yếu tố cần thiết đầu tiên cho mỗi ơn gọi là “cho phép” Chúa Giêsu bước vào trong cuộc đời và con tim của mỗi người của mình. Thật vậy, Chúa Giêsu luôn tôn trọng sự tự do của mỗi người chúng ta. Ngài không gây áp lực, không ép buộc; Ngài chỉ “kêu mời” và cố gắng “thuyết phục” chúng ta với tình yêu và sự kiên nhẫn của Ngài. Hãy mở cửa con tim và cuộc đời của chúng ta cho Chúa Giêsu để Ngài có thể yêu người khác bằng con tim nhỏ bé của chúng ta và phục vụ người khác qua chúng ta.
Thứ hai, Thánh Phêrô “tin” và “vâng lời” Chúa Giêsu: “Giảng xong, Người bảo ông Simôn: ‘Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.’ Ông Simôn đáp: ‘Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới’” (Lc 5:4-5). Nếu chúng ta xét cuộc đối thoại của Chúa Giêsu và Thánh Phêrô cách cẩn thận, chúng ta thấy có một cái gì đó “phi lý” nhưng có ý nghĩa rất sâu xa trong câu trả lời của Thánh Phêrô. Cái “phi lý” đó là đức tin của một nhà “chuyên viên đánh cá” vào một người “không có chuyên môn đánh cá.” Cụ thể hơn, chúng ta biết rằng, Chúa Giêsu là “con của bác thợ mộc Giuse” và Ngài cũng là một thợ mộc, còn Phêrô là một người đánh cá chuyên nghiệp. Đặt vào trong bối cảnh này chúng ta có thể viết lại đoạn đối thoại trên cách bình dân như sau: “Giảng xong, ‘Anh thợ mộc Giêsu’ nói với nhà chuyên viên đánh cá Phêrô: Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.’ Nhà chuyên nghiệp đánh cá Phêrô trả lời: ‘Thưa bác thợ mộc Giêsu, chúng tôi là dân chuyên nghiệp và chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì. Nhưng vâng lời bác, tôi sẽ thả lưới [vì bác là người đóng thuyền, nên biết thuyền có thể ra đến độ sâu nào và chở được bao nhiêu cá].” Và kết quả là “họ đã bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm” (Lc 5:6-7). Điều này giúp chúng ta nhận ra rằng: Nhiều khi trong cuộc đời của mình, Chúa cũng muốn chúng ta thực hiện [vâng phục] những điều không “hợp lý” theo tính toán của con người. Nhưng khi vâng phục làm theo, chúng ta sẽ kinh ngạc và vỡ oà trong vui mừng về kết quả Chúa mang lại cho chúng ta như các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu: “Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy” (Lc 5:9-10).
Thứ ba, Thánh Phêrô “nhận ra” sự bất xứng và tội lỗi của mình: “Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: ‘Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!’” (Lc 5:8). Đứng trước sự ưu ái của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu, mỗi người chúng ta đều cảm thấy mình bất xứng. Nhưng sự bất xứng này không làm cho chúng ta mãi sống trong mặc cảm tội lỗi, nhưng là để chúng ta trở nên khiêm nhường, không kiêu ngạo, để chúng ta biết rằng: “Dù tội con có đỏ như son, có đen như mực, Ta sẽ làm cho trắng như tuyết” (Is 1:18). Nói cách khác, để chúng ta cảm nghiệm được tình yêu tuyệt đối và vô điều kiện của Thiên Chúa cho chúng ta. Đây cũng là một lời mời gọi, vì không ai cảm nghiệm tình yêu của Chúa và giữ lại cho riêng mình, nhưng biết chia sẻ và giúp người khác cảm nếm được tình yêu dịu ngọt của Thiên Chúa qua lời nói và hành động phục vụ trong yêu thương và tha thứ của mình.
Thứ tư, Thánh Phêrô bỏ hết mọi sự để đi theo Chúa Giêsu: “Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: ‘Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.’ Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người” (Lc 5:10-11). Bước này là bước quyết định ơn gọi của người môn đệ và liên quan chặt chẽ với bước thứ ba. Nói cách cụ thể hơn, khi người môn đệ nhận ra sự bất xứng và cảm nghiệm được tình yêu của Chúa thì mới có khả năng đáp trả: Chỉ những người cảm nghiệm được tình yêu tuyệt đối của Chúa dành cho mình mới có khả năng bỏ hết mọi sự để đi theo Ngài. Khi hai người nam nữ yêu nhau với tình yêu chân thật, họ sẵn sàng bỏ mọi sự, ngay cả cha mẹ, nghề nghiệp để sở hữu người mình yêu. Đối với người đang yêu, người yêu là tất cả. Cũng vậy, đối với người môn đệ người đang yêu Chúa Giêsu, Ngài là tất cả, không có gì có thể thay thế Ngài trong cuộc đời của người môn đệ. Khi chúng ta chưa bỏ hết mọi sự [quan trọng nhất là những thói hư tật xấu] để theo Chúa, thì chúng ta vẫn chưa yêu Chúa với một tình yêu chân thật và chưa cảm nghiệm được tình yêu tuyệt đối và vô điều kiện của Chúa.
Đọc lời Chúa hôm nay, chúng ta nhận ra những yếu tố chung sau trong ba câu chuyện về ơn gọi: Được gọi – nhận ra sự bất xứng tội lỗi của mình – cảm nghiệm được vinh dự, tình yêu và sự tha thứ – đáp lại. Trong thánh lễ hôm nay, Chúa cũng muốn mỗi người chúng ta cảm nghiệm những điều này: Chúng ta được gọi và yêu thương ngay cả khi chúng ta còn là tội nhân. Tuy thân phận yếu đuối mỏng manh và bất xứng, nhưng chúng ta vẫn nghe lời mời gọi đầy yêu thương và tin tưởng của Chúa: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Mong rằng, Ngài sẽ nghe chúng ta đáp lại lời mời gọi với trọn con tim: “Dạ, con đây, xin sai con đi” (Is 6:8).
Lm. Anthony, SDB.
…………………………………………
Suy Niệm 3: THIÊN CHÚA KÊU GỌI CON NGƯỜI
A. DẪN NHẬP
Có thể nói chủ đề của Phụng vụ Lời Chúa hôm nay là “Ơn gọi”. Thiên Chúa muốn con người tham gia vào công cuộc cứu chuộc của Ngài. Vì thế, mỗi người đều có ơn gọi làm tông đồ, hay nói cách khác, mỗi người có ơn gọi làm chứng nhân.
Thiên Chúa không phải là một Thiên Chúa xa cách mà gần gũi với con người, Ngài muốn cho con người gặp Ngài khi Ngài muốn để cho kẻ ấy có kinh nghiệm đặc biệt về Ngài và chọn kẻ ấy làm chứng nhân. Chuyện đã xẩy ra như thế cho Isaia, cho Phêrô và các bạn, cho Phaolô. Chuyện đã xẩy ra cho họ ngày xưa chính là chuyện đời của mỗi người chúng ta, chuyện ơn gọi của cá nhân chúng ta hôm nay.
Dựa trên phép Rửa tội và Thêm sức, mỗi Kitô hữu có nhiệm vụ phải làm chứng cho Chúa trong đời sống thường ngày. Ngày xưa, các Tông đồ đã lãnh nhận sứ mạng đi truyền giáo, ngày nay Giáo hội và mỗi người chúng ta cũng phải tiếp tục công việc của các ngài. Với tư cách là một Kitô giáo dân, mỗi người có trách nhiệm tham gia vào việc tông đồ giáo dân như công đồng Vatican II đã dạy. Việc tông đồ giáo dân phải được thực hiện trong môi trường sống hằng ngày của mỗi người.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Is 6,1-2a.3-8.
Ngày nay Thiên Chúa không còn tỏ mình ra nơi sa mạc hay trên núi nữa. Ngày nay Thiên Chúa ba lần chí thánh tỏ vinh quang của Ngài ra cho tiên tri Isaia trong đền thờ. Trong một thị kiến, Isaia thấy mình đang ở trong đền thờ, qua những cảnh huy hoàng và ngoạn mục ông trông thấy, Thiên Chúa vô cùng thánh thiện, ông cảm thấy mình tội lỗi quá, vô cùng bất xứng nên đã kêu lên :”Khốn thân tôi, chết tôi rồi, vì tôi là một người môi miệng ô uế…” Nhưng khi Thiên Chúa sai thiên thần thanh tẩy miệng lưỡi ông, tha thứ tội cho ông và sau đó gọi ông làm tiên tri, thì ông đầy lòng tin tưởng và mạnh dạn đáp lời:”Có con đây, xin Chúa sai con đi”(Is 6,8). Và Isaia đã trung thành làm chứng về lòng tin của mình.
+ Bài đọc 2 : 1Cr 15,1-11.
Tại Corintô, nhiều người chống đối Phaolô, cho rằng ông không đủ tư cách làm Tông đồ. Ngài cũng ý thức về điều đó. Ngài tự coi mình là tông đồ nhỏ nhất như đứa con sinh sau đẻ muộn, nhưng dù sao, ông cũng được Chúa chọn làm tông đồ để đi rao giảng Đấng Phục sinh cho dân ngoại. Ngài đã truyền đạt cho họ những điều chính yếu mà Ngài đã nhận được, đó là mầu nhiệm Phục sinh và lời chứng về Đấng Phục sinh của những người có thẩm quyền.
Ngày nay Giáo hội vẫn rao giảng mầu nhiệm đó, và cũng vẫn trung thành rao giảng vì niềm tin này chính là nền tảng cho đời sống Kitô hữu chúng ta.
+ Bài Tin mừng : Lc 5,1-11.
Không phải vô cớ mà thánh Luca nối kết ơn gọi của Tông đồ với một mẻ cá đặc biệt dồi dào. Theo Ngài, rao giảng Tin mừng là một việc cứu nạn, kéo nhân loại ra khỏi chỗ đắm chìm. Tông đồ là kẻ thu phục người ta. Nói cách khác, một người giải phóng.
Bài Tin mừng hôm nay thuật lại câu chuyện về mẻ cá lạ lùng. Phép lạ này gợi lên cho ta mấy ý tưởng :
– Sở dĩ có phép lạ này vì Phêrô không tin vào sự thành công của mình, nhưng vì nể lời Chúa ông mới thả lưới.
– Thuyền đầy cá là hình ảnh báo trước là hình ảnh nhân loại sẽ tin theo Chúa, gia nhập vào Giáo hội và Giáo hội sẽ được lan truyền khắp nơi.
– Mẻ cá lạ lùng khiến các ông nhận ra uy quyền của Đức Giêsu và đồng thời nhận ra sự yếu đuối bất lực và thân phận tội lỗi của mình :”Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.
– Các môn đệ cứ đi rao giảng Tin mừng, còn việc có nhiều người ăn năn trở lại, vâng theo Tin mừng hay không, là việc của Chúa.
– Qua biến cố này, các ông đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa. Các ông đã mau mắn đi theo tiếng Chúa gọi để đi truyền giáo.
C.THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Sống ơn gọi làm Tông đồ
I. CHÚA KÊU GỌI CON NGƯỜI
Qua các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay, Giáo hội muốn cho chúng ta nhận ra ý nghĩa của việc tông đồ trong Giáo hội, để nhờ đó, chúng ta đáp lại tiếng Chúa gọi bằng cách quảng đại dâng hiến cuộc đời cho Chúa và sẵn sàng theo Chúa làm việc tông đồ.
Truyện : Tổng thống Abraham Lincoln.
Một ngày nọ, Tổng thống Abraham Lincoln đi đến thành phố Charleston, tiểu bang South Carolina. Khi đi ngang qua trung tâm thành phố, ông trông thấy người ta đang tổ chức một cuộc đấu giá buôn bán nô lệ. Chứng kiến cảnh buôn bán người, tận đáy linh hồn ông cảm thấy bị khuấy động lên cơn giận dữ của Thiên Chúa, và một nỗ lực phải làm để cứu những người nô lệ. Do đó ông đã làm một điều độc đáo và bất thường nhất. Ông bước vào trong đám đông, khi cuộc trả giá bắt đầu, trước tiên là một em gái nô lệ rất nghèo, ông đã bước ra trả giá trước. Cuộc đấu giá càng lúc càng sôi động, ông tham gia rất tích cực, và sau cùng đã trúng giá, đánh hạ tất cả mọi người. Ông trao tiền để lấy người nô lệ. Cô bé gái được đem đến cho ông. Con bé sợ hãi hỏi ông sẽ làm gì đối với nó. Abraham Lincoln trả lời:”Tôi sẽ để cho cô được tự do”. “Tự do ? Tự do để làm gì” ? Cô bé kinh ngạc hỏi. Ông trả lời :”Tự do để làm bất cứ cái gì cô muốn”. Cô bé thắc mắc có phải mình được tự do đi đến bất cứ chỗ nào cô muốn, làm bất cứ điều gì cô thích, nói bất cứ điều gì cô nghĩ, và làm bất cứ nghề nào cô ước muốn. Sau cùng cô bé mỉm cười và nói :”Cháu sẽ đi theo ông”.
Abraham Lincoln đã chứng tỏ cho chúng ta thấy, ông là một con người gương mẫu và biết cách “kêu gọi” dân chúng “theo ông”. Ông đã gọi họ bằng chính gương sáng của mình. Trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu kêu gọi Phêrô, rồi Giacôbê, Gioan và Anrê cũng đi theo Ngài. Đức Giêsu đã cho họ biết Ngài là ai qua việc giảng dạy, chữa lành, và bằng các đức tính tốt lành, nhân từ và tha thứ của Ngài.
- Ơn gọi của các Tông đồ
Hồ nước lớn danh tiếng tại Galilê được gọi bằng 3 tên : biển Galilê, biển Tibêriat và hồ Giênêxaret. Hồ này dài 20,8 km, rộng 12,8 km. Hồ ở vào chỗ trũng của mặt đất, nơi sâu nhất là 225 mét dưới mặt biển, vì thế nó có khí hậu giống khí hậu nhiệt đới. Ngày nay cư dân không đông đúc lắm, nhưng vào thời Đức Giêsu, có 9 thị trấn chung quanh bờ hồ, không thị trấn nào dưới 15.000 người.
Đức Giêsu rao giảng Tin mừng ở đây, dân chúng chen nhau lại gần để nghe Ngài giảng. Việc đó diễn tả hiệu quả hấp dẫn do lời giảng dạy của Ngài. Vì dân chúng quá đông nên Đức Giêsu phải xuống thuyền của ông Simon đang đậu gần bờ, ra xa bờ một chút để có thể dễ dàng giảng dạy… Giảng dạy xong, Đức Giêsu bảo ông Simon đưa thuyền ra chỗ nước sâu mà bắt cá. Simon, một ngư dân dày kinh nghiệm trong nghề chài lưới, đã cho Chúa biết kết quả thạm bại : sau một đêm cực nhọc vất vả mà chả bắt được con cá nào. Ông nói đúng, nhưng không biết nghĩ ngợi thế nào, ông đã thưa với Chúa:”Vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Kết quả thật bất ngờ, cá nhiều vô kể đến nỗi lưới muốn rách.
Đây là một phép lạ? Hồ Giênêsaret có nhiều cá. Nhưng suốt đêm các ông không bắt được gì mà bây giờ bắt được nhiều như thế là một phép lạ . Biết được chỗ có nhiều cá, để bảo Simon thả lưới phải do sự hiểu biết của Thiên Chúa. Thường thì ban ngày ít đánh được cá hơn ban đêm, đây ban đêm không được gì mà ngày thì lại được cá nhiều quá sức tưởng tượng thì phải coi là cái gì khác thường. Chính những người bắt cá xác nhận là phép lạ.
Trước mẻ cá lạ lùng này, ông Simon sụp lạy dưới chân Ngài và thưa :”Lạy Chúa, xin hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi”. Cả ông Giacôbê và Gioan cũng kinh ngạc như ông. Nhưng Đức Giêsu phán bảo ông Simon:”Đừng sợ ! từ nay con sẽ là kẻ chinh phục người ta”. Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Ngài.
Đây là những môn đệ đầu tiên đi theo Ngài. Họ đi theo Ngài từ đây. “Đi theo” theo nghĩa thần học, động từ này ám chỉ sự dâng hiến chính mình, thoát khỏi mọi sự ràng buộc. Vì thế ở đây ta liên tưởng đến ý nghĩa từ bỏ của cải vật chất (Mc 10,21), từ bỏ cha mẹ, bạn bè và tất cả (Lc 5,11).
- Ơn gọi của tiên tri Isaia
Tiên tri Isaia, trong bài đọc 1, được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa và nghe tiếng các Thiên Thần Sốt mến luân phiên tung hô:”Thánh, thánh, thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh, trời đất đầy vinh quang Chúa”. Điều đó khiến ông run sợ và cảm thấy mình bất xứng, nên đã thốt lên lời:”Vô phúc cho tôi, tôi chết mất, vì lưỡi tôi nhơ bẩn”. Trước sự khiêm tốn ấy, Chúa sai sứ thần đến thanh tẩy ông bằng than lửa hồng, ông trở nên thanh sạch và được Chúa tuyển chọn, ông đã can đảm đáp lại :”Này con đây, xin hãy sai con”.
- Ơn gọi của tông đồ Phaolô
Thánh Phaolô, trong bài đọc 2, sau khi được Chúa kêu gọi và cải hóa từ tay bắt bớ Đạo Chúa, nay trở nên một vị Tông đồ nhiệt thành truyền bá giáo lý của Chúa, là thầy dạy dân ngoại. Ngài đã khiêm tốn thú nhận mình hèn mọn nhất trong các Tông đồ, nhưng nay được như thế này là nhờ ơn Chúa ban. Bởi ngài đã can đảm đáp lại tiếng Chúa gọi khi thưa với Chúa:”Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì” ?
Phaolô là con người đầy nhiệt huyết, đã đi vòng quanh đế quốc La mã 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy ? Thưa vì người đã gặp gỡ Chúa Kitô. Cuộc gặp gỡ đó đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và Ngài vui mừng vì được trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích” : 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, một lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tầu một ngày một đêm chơi vơi trong lòng biển (2Cr 12,24-25).
- Ơn gọi của chúng ta
Chúa vẫn còn kêu gọi mọi người chúng ta, và ngày nay nhu cầu ấy càng to lớn. Và vẫn còn có những người đáp lại lời Ngài. Một số người (như các Tông đồ) được kêu gọi để tận hiến mình, đi theo Đức Kitô bằng một phương thế “chuyên nghiệp”. Nhưng không phải mọi Kitô hữu đều được kêu gọi theo Đức Kitô bằng cách ấy.
Bằng phép Rửa tội, chúng ta cũng được kêu gọi đi theo Đức Kitô. Nhưng đối với một người bình thường, đi theo Đức Kitô có nghĩa là gì ? Là sống xứng danh một Kitô hữu trong ngành nghề của mình ở bất cứ nơi nào mình có mặt. Còn có nhiều cách phục vụ Đức Kitô và Tin mừng của Ngài hơn nữa.
Một số người Kitô hữu khi ý thức về tội lỗi mình thì tự ý miễn trừ cho mình những việc hoạt tông đồ hay những việc phục vụ dân Chúa. Họ nghĩ rằng Chúa không gọi họ làm việc tông đồ. Họ cho rằng việc tông đồ là thuộc phạm vi linh mục và tu sĩ nam nữ. Đọc lịch sử Giáo hội, ta thấy khi Chúa muốn để lại một ấn tượng sâu xa về quyền năng của Ngài, Chúa không ngừng dùng những phương thế khác thường, nghĩa là dùng quyền năng Chúa biến đổi họ tức thời, như Chúa đã biến đổi Phaolô, người bách hại Đạo trở thành người hăng say rao giảng Tin mừng, như Augustinô, một thanh niên trụy lạc trác táng, thành một giám mục thánh.
II. SỐNG THEO ƠN GỌI
- Ơn gọi là hồng ân của Thiên Chúa
Mọi người đều có ơn gọi. Ơn gọi phải phát xuất từ Thiên Chúa, con người chỉ biết đón nhận với lòng thành thực và biết ơn. Con người không chọn Chúa, mà chính Chúa chọn con người : Isaia tin có Chúa đang hiện diện trong Đền thờ, nhưng ông không dám nghĩ tới việc được “thấy” Chúa và được Ngài “gọi” (bài đọc 1). Phaolô đang trên đường lùng bắt các môn đệ Đức Kitô thì được ơn gọi (bài đọc 2). Còn Phêrô và các bạn chài thì đang lo đánh lưới bắt cá nhưng lại được gọi làm những kẻ quăng lưới bắt người (bài Tin mừng). Đúng như lời Đức Giêsu nói:”Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”.
Chúa có thể gọi ta trong những hoàn cảnh đặc biệt, nhưng ngày nay, Chúa thường gọi con người trong những hoàn cảnh rất thông thường và qua trung gian. Dù được gọi trong hoàn cảnh đặc biệt hoặc trong cuộc sống bình thường thì tất cả là hồng ân Thiên Chúa. Con người phải đáp lại tình thương yêu của Chúa.
- Con người bất xứng trước ơn gọi
Thiên Chúa đã kêu gọi mỗi người và mỗi người đều cảm thấy mình bất xứng, tội lỗi. Chúng ta có 3 ví dụ về ơn gọi :
– Isaia thốt lên :”Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế”(bài đọc 1).
– Phaolô tự nhận “Tôi là người hèn mọn nhất trong số các Tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đô, vì đã ngược đãi Hội thánh của Thiên Chúa”.
– Phêrô, sau mẻ cá lạ lùng, sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà thưa :”Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”.
Tuy thấy mình bất xứng nhưng vẫn được Thiên Chúa tín nhiệm. Đáp lại hồng ân của Chúa, các ông cố gắng chu toàn nhiệm vụ Chúa trao :
– Isaia mạnh dạn thưa lại với Chúa:”Dạ, có con đây, xin sai con đi”.
– Phaolô dám khoe:”Tôi đã làm việc hơn tất cả các vị khác, nhưng không phải tôi, mà là Thiên Chúa ở cùng tôi”.
– Còn Phêrô thì “đưa thuyền vào bờ và đi theo Ngài”
- Cần có ơn Chúa trợ lực
Ông Simon thưa với Đức Giêsu:”Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”. Đúng vậy, ông đã mất công toi cả một đêm với kinh nghiệm đánh cá. Nhưng Đức Giêsu thuyết phục ông thử thêm một lần nữa mà ông đã thành công rực rỡ giữa thất bại.
Câu chuyện này nhắc cho các ông và cho chúng ta một bài học : Khi Đức Giêsu bắt đầu tham dự vào sự việc, thì lập tức sự việc ấy sẽ đổi thay. Những lần buông lưới trước đó – có lẽ từ 20 đến 30 lần suốt đêm ấy – các môn đệ làm một mình. Nhưng lần cuối cùng, Đức Giêsu bắt đầu can dự vào, thì sự tình quay hẳn 180 độ. Việc diệu kỳ xẩy ra đã vượt quá ước mơ của họ.
Trên mảnh đất chuyên môn của mình, Simon tưởng mình có khả năng, nhưng Đức Giêsu đã đánh trúng ông, đã chỉ cho ông thấy những giới hạn của mình : ông không là gì cả nếu không có Ngài. Chúng ta cũng thế, trong chiếc thuyền của chúng ta, chúng ta thường phải nhường chỗ cho một “Đấng Khác”, để thả lưới ở nơi mà chúng ta không tự mình làm được.
Nhà bác học Archimède đã khẳng định :“Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhấc bổng trái đất lên”. Nếu Archimède dám khẳng định như vậy thì tại sao ta lại không dám xác tín rằng : Dựa vào Đức Giêsu, Đấng đã hiến mạng vì tình yêu, tôi có thể chinh phục mọi tâm hồn ? Như Simon đã dựa vào Lời Chúa mà thả lưới và bắt được mẻ cá lớn, thì chúng ta cũng có thể trở thành người chinh phục các tâm hồn cho Chúa một khi chúng ta biết dựa vào quyền năng của Chúa hơn là vào sức riêng mình.
Truyện : Thánh Gioan Vianney.
Thánh Gioan Vianney, lúc còn là chủng sinh, học rất chậm. Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức linh mục chăng ?
Tuy đã cố hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi chảy.
Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói:
– Vianney, anh dốt đặc như con lừa ! Với một con lừa như anh, Giáo hội hy vọng làm nên trò trống gì ?
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời:
– Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao”?
- Thực hành ơn gọi tông đồ
a) Về phần các Tông đồ
Sau khi Đức Giêsu về trời, các Tông đồ chia nhau ra đi truyền giáo. Các ông đã hăng say hoạt động, hy sinh rất nhiều vì danh Chúa và sau cùng đã nhận lấy cái chết để tỏ lòng trung thành với Chúa..
Trong bài đọc 2, chúng ta được nghe thánh Phaolô bộc bạch tâm tư của mình. Phaolô là một con người đầy nhiệt huyết, đã vòng quanh đế quốc La mã 4 lần, đã đưa dân ngoại vào Đạo. Làm sao cắt nghĩa được nội tâm của con người đầy lửa ấy ? Thưa vì ngài đã gặp gỡ Chúa :”Rồi sau cùng Ngài đã hiện ra với tôi như một đứa con sinh non”(1Cr 15,8). Phải, cuộc gặp gỡ đã đảo lộn cuộc đời Phaolô, từ một kẻ bắt bớ tín hữu trở nên một Tông đồ nhiệt thành. Tất cả là ơn của Chúa và ngài được vui mừng trả giá rất cao để “Ơn Chúa không ra vô ích”: 5 lần bị đánh đòn 39 trượng, 3 lần bị tra tấn, 1 lần bị ném đá, 3 lần bị đắm tầu, 1 ngày 1 đêm chơi vơi trong lòng biển (2Cr 12,24-25).
b) Về phía Giáo hội
Trước khi về trời, Đức Giêsu trao sứ mạng truyền giáo cho các Tông đồ:”Các con hãy đi khắp nơi giảng dạy cho muôn dân”. Các ngài đã ra đi rao giảng và cũng đã chu toàn sứ mạng Chúa trao phó. Nối tiếp các Tông đồ, Giáo hội tiếp tục sứ mạng đó như Công đồng Vatican II đã dạy :
“Vốn phát sinh từ ơn gọi làm Kitô hữu, việc tông đồ giáo dân không bao giờ có thể khiếm khuyết trong Giáo hội. Trong những buổi đầu Giáo hội, việc tông đồ này thật là hăng say và kết quả biết bao ! Chính Thánh kinh chứng minh cách phong phú điều đó (Cv 11,19-21; 18,26; Rm 16,1-16). Càng ngày dân số càng gia tăng, khoa học và kỹ thuật càng tiến triển, những mối tương quan mật thiết hơn giữa con người không những mở rộng môi trường hoạt động tông đồ giáo dân đến bao la, môi trường mà phần lớn chỉ dành riêng cho họ, và còn tạo nên nhiều vấn đề mới đòi hỏi họ phải đặc biệt lưu tâm học hỏi” (Apostolicam Actuositatem, đoạn 1).
Theo giáo huấn của công đồng, ta thấy người giáo dân thực hành việc tông đô có hiệu quả hơn các linh mục và tu sĩ. Bởi vì các Linh mục đâu có đến các gia đình hay gặp gỡ được những người không có đạo, và họ cũng đâu có đến nhà thờ để nghe các linh mục giảng. Chính các giáo dân là những Tông đồ cụ thể, trực tiếp và hữu hiệu nhất.
Lời Chúa hôm nay, cùng với lời kêu gọi của công đồng Vatican II đối với mỗi Kitô hữu trong việc phục vụ Giáo hội, nhắc nhở cho chúng ta về sứ vụ truyền giáo. Sự thường chúng ta hay tìm đủ mọi lý do để từ chối hay không tích cực đáp lại lời mời gọi này. Chúng ta thường viện lý do cho rằng mình không đủ phẩm chất để theo Chúa, thiếu kiến thức, thiếu lòng đạo đức, không xứng đáng được mời gọi đến phục vụ.
Tuy nhiên, Thiên Chúa không mời gọi chúng ta theo sự xứng đáng, phẩm chất hay kiến thức. Ngài gọi chúng ta theo ân sủng và tình yêu của Ngài. Khi Thiên Chúa mời gọi, nếu chúng ta đón nhận ơn gọi của Ngài, Ngài sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta, làm cho chúng ta trở nên giống như Ngài, và ban cho ta những ơn cần thiết để thi hành điều Ngài muốn chúng ta làm (Lc 1,38).
Thiên Chúa không bao giờ khước từ thiện chí của chúng ta. Bất kể chúng ta là ai, có khả năng gì, yếu đuối thế nào, Ngài luôn cần chúng ta trong công việc phục vụ Giáo hội của Ngài. Ngài luôn mời gọi chúng ta đi theo Ngài và trở thành những Tông đồ đồng hành với Ngài trong công cuộc cứu rỗi nhân loại .
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho mọi người chúng ta biết tin theo Chúa, tham gia vào công việc tông đồ giáo dân một cách tích cực, quảng đại để đem về cho Chúa nhều linh hồn, theo kinh của thánh Inhaxiô Loyola :
“Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại,
Biết phụng sự Chúa cho xứng đáng,
Biết cho đi mà không cần tính toán,
Biết chiến đấu mà không sợ thương tích,
Biết làm việc mà không tìm an nghỉ,
Biết xả thân mà không tìm một phần thưởng nào khác
Ngoài việc biết mình đang thi hành thánh ý Chúa.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt
……………….
Suy Niệm 3: Vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới
Lúc còn nhỏ tôi là một đứa trẻ yếu đuối sợ sệt! Hai lần thần chết đã chờ chực ngoài cửa! Bố mẹ đã chuẩn bị nhờ người đóng quan tài, báo tin họ hàng nội ngoại đến để gặp cháu lần cuối. Có lẽ Chúa chưa muốn gọi tôi về cho nên tai qua nạn khỏi. Nếu nói là thông minh sáng dạ thì chắc là sai bét! Sáng nào tôi cũng bị ăn đòn vì không muốn đi học. Tôi tìm đủ mọi cách để được ở nhà. Đi học thì hằng ngày bị trẻ con hàng xóm bắt nạt. Cô giáo mà hỏi tới thì chưa kịp trả lời nước mắt đã rơi. Chứng chỉ không có gì khả quan, chỉ đủ điểm lên lớp, thứ hạng hàng tháng phải tìm từ dưới lên trên! Bố mẹ tôi chả dám mộng tưởng cho con đi thi vô chủng viện. Có ai ngờ sau bậc tiểu học tôi lại trổi vượt hẳn lên. Tháng nào tôi cũng dẫn đầu lớp. “Con học giỏi thế sao không đi tu?“ Câu hỏi của thầy giám thị đã khai mở con đường ơn gọi của tôi.
Có lẽ chả mấy ai dám tự nhận mình là ngôn sứ hoặc đem bản thân mình sánh vai với ông Phêrô. Nhưng Lời Chúa của chúa nhật hôm nay lại tường thuật những đặc điểm chung dành cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi dấn thân: Những kẻ bị loại bỏ, bị người đời coi là bất xứng lại được Thiên Chúa dùng làm khí cụ rao giảng Tin mừng. Tiên tri Isaia tự nhận mình là một phần tử môi miệng ô uế đã được Thiên chúa tha lỗi xá tội và trao sứ mạng làm ngôn sứ. Thánh Phaolô tự nhận là người hèn mọn không đáng được gọi là Tông đồ! Thánh sử Luca cũng tường thuật một câu chuyện thật cảm động. Những môn đệ khác được đề cập đến nhưng nhân vật chính được Đức Giêsu kêu gọi chính là Simon. Tâm trạng của ông trong lúc này giống như bị một khối đá đè lên. Thân xác ông rũ rượi mệt nhoài sau một đêm vất vả tốn công vô ích. Đã thế lại còn bị một kẻ lạ mặt thách thức đưa thuyền ra chỗ nước sâu thả lưới. Bụng dạ tuy không phục bởi vì ông là người từng trải trong nghề nhưng có lẽ lời của Đức Giêsu chứa đựng một sức hấp dẫn kỳ lạ đến độ một người như ông phải khuất phục: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.“
Thoạt nghe ai cũng phải ngạc nhiên. Nghĩ cho cùng thì ai cũng thấy lời đề nghị của Đức Giêsu thật điên rồ! Hành động của ông Simon cũng điên không kém! Thân xác ông mỏi mệt, lòng dạ ông chán nản trống rỗng! Ông ngồi giặt lưới, làm những công việc cuối cùng trước khi về nhà nghỉ. Sự xuất hiện của Đức Giêsu trên thuyền của ông tạo nên một chút hiếu kỳ. Lời giảng của Đức Giêsu có lẽ ông không hiểu nhiều nhưng lại đủ sức đánh động ông. Mẻ cá trước mắt làm ông khẩu phục tâm phục. Ông không tìm được lý do nào đó để biện bạch, tìm được ai đó để đổ lỗi. Bức màn bí mật của cuộc đời ông đã được vén mở. Ông nhận biết mình là ai, đang đối diện với ai. Ông quyết định từ bỏ mọi sự để theo chân Đức Giêsu.
Vâng lời Thầy, Phêrô đã thả lưới! Không những chỉ có ông mà còn biết bao người tiếp nối chân ông đã có những quyết định tương tự. Nếu như ai siêng năng đọc hạnh các thánh sẽ khám phá ra nhiều nét thú vị. Thánh Ansgar là vị tông đồ truyền giáo cho vùng Bắc Đức trước đây hơn 800 năm, vị giám mục tiên khởi của Hamburg. Nếu dựa vào những tiêu chuẩn hiện đại thì quả thật ngài là một kẻ hoàn toàn thất bại. Suốt đời ra đi rao giảng Tin mừng nhưng cuối cùng có thể nói ngài chỉ có hai bàn tay trắng. Nhiền lần khởi công xây dựng những trạm truyền giáo nhưng phút chốc bị phá hủy tan tành. Nhưng chính trong những giây phút tuyệt vọng ngài nghe lời Đức Giêsu văng vẳng bên tai: Hãy đưa thuyền tiến ra khơi và thử thả lưới một lần nữa! Bước chân của thánh Ansgar tiến về miền Bắc để tái thiết những trạm truyền giáo không mang sắc thái của một cuộc phiêu lưu mạo hiểm mà là những dấu ấn của lòng tin. Cuộc đời của ngài nhằm mô tả cho chúng ta thấy rõ thế nào là sống đức tin, thế nào là làm chứng tá cho Tin mừng. Vâng theo lời của Đức Giêsu để sống, suy nghĩ, cảm nhận và làm chứng tá. Thánh Ansgar biết bản thân mình yếu đuối nhưng ngài là kẻ hoàn toàn tín thác vào Đức Giêsu. Thế giới ngày nay bị vật chất hoá cho nên nhu cầu rao giảng Tin mừng lại càng cấp bách hơn. Chỉ dựa vào sức con người thì tất cả chỉ hoài công vô ích. Nhưng nếu có Đức Giêsu hiện diện trên thuyền thì lưới sẽ đầy cá. Isaia, Phaolô, Phêrô, Ansgar, … là những hình ảnh điển hình, xứng đáng để chúng ta noi gương bắt chước.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức