BÀI ĐỌC I: Ed 37, 12-14
Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: “Hỡi dân Ta, này Ta sẽ mở cửa mồ các ngươi, Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi mồ và dẫn dắt các ngươi vào đất Israel. Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa, lúc Ta mở cửa mồ các ngươi, và kéo các ngươi ra khỏi mồ, Ta sẽ cho các ngươi thần trí của Ta, và các ngươi sẽ được sống, Ta sẽ cho các ngươi an cư trên đất các ngươi, và các ngươi biết rằng: Ta là Chúa, chính Ta đã phán và đã thi hành”.
BÀI ĐỌC II: Rm 8, 8-11
Anh em thân mến, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Chúa. Còn anh em, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Ðức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Nhưng nếu Ðức Kitô ở trong anh em, cho dù thân xác đã chết vì tội, nhưng tinh thần vẫn sống vì đức công chính. Và nếu Thánh Thần của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em.
PHÚC ÂM: Ga 11, 1-45
Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt”. Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển”. Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: “Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa”. Môn đệ thưa: “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?” Chúa Giêsu đáp: “Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng”. Người nói thế, rồi lại bảo họ: “Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông”. Môn đệ thưa: “Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại”. Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: “Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông”. Lúc đó Tôma, cũng có tên là Ðiđimô, nói với đồng bạn: “Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người”. Ðến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Chúa Giêsu nói: “Em con sẽ sống lại”. Martha thưa: “Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại”. Chúa Giêsu nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?” Bà thưa: “Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”. Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: “Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em”. Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ. Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết”. Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: “Ðã an táng Ladarô ở đâu?” Họ thưa: “Thưa Thầy, xin đến mà xem”. Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: “Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!” Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: “Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?” Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: “Hãy đẩy tảng đá ra”. Martha là chị người chết, thưa: “Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày”. Chúa Giêsu lại nói: “Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con”. Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: “Ladarô! Hãy ra đây!” Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: “Hãy cởi ra cho anh ấy đi”.
Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.
Suy Niệm 1: ĐÃ CHẾT ĐI, NHƯNG SỐNG LẠI
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
Lời Chúa của Chúa Nhật thứ V Mùa Chay chuẩn bị chúng ta cách gần hơn với mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu qua việc trình bày về đề tài sự chết và sống lại. Trong bài đọc 1, chúng ta nghe ngôn sứ Isaia trình bày sấm ngôn của Đức Chúa cho con cái Israel về một viễn cảnh tươi sáng mà Đức Chúa chuẩn bị cho họ. Đức Chúa sẽ mở huyệt và đưa dân Ngài ra khỏi nơi chết chóc và đưa họ vào đất hứa. Không những thế, Đức Chúa “sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi và các ngươi sẽ được hồi sinh. Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, Ta đã phán là Ta làm. Đó là sấm ngôn của Đức Chúa” (Ed 37:14). Trong những lời này, chúng ta thấy điều quan trọng là sau khi được đưa từ cõi chết đến sự sống, Đức Chúa muốn dân Israel nhận biết Ngài là Thiên Chúa của họ. Theo dòng lịch sử của dân Israel, Đức Chúa luôn thực hiện những kỳ công cho dân Ngài, nhưng họ lại mau quên những việc kỳ diệu Ngài đã làm. Hệ quả là họ không bước đi trong đường lối của Ngài để được sống, mà bước đi trong bóng tối của tội lỗi, của sự chết. Đây cũng là hình ảnh của mỗi người chúng ta. Thiên Chúa cũng thực hiện biết bao kỳ công trong cuộc đời chúng ta, nhưng chúng ta không nhận ra hoặc có nhận ra thì cũng mau quên. Vì vậy, nhiều lần chúng ta trách Chúa và không bước đi trên con đường thánh thiện mà chọn bước đi trong bóng đêm của tội lỗi. Thiên Chúa luôn mong chờ để ‘mở huyệt’ mang chúng ta ra khỏi quyền lực của sự chết, của tội lỗi và đưa chúng ta vào sự sống mới của Ngài. Chúng ta có để cho Ngài thực hiện điều đó trên cuộc đời chúng ta không?
Thánh Phaolô trong bài đọc 2 trình bày cho chúng ta hai cách sống, sống theo xác thịt và sống theo Thần Khí. Những người sống theo xác thịt “thì không thể vừa lòng Thiên Chúa” (Rm 8:8), không thuộc về Đức Kitô và sẽ phải chết. Còn những người sống theo Thần Khí thì đẹp lòng Thiên Chúa và họ thuộc về Đức Kitô (x. Rm 8:9). Chính Thần Khí sẽ làm cho thân xác của những người sống theo Thần Khí được sống lại qua việc làm cho họ được nên công chính để được chia sẻ trong sự phục sinh của Đức Kitô: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8:11). Ai trong chúng ta cũng cảm nghiệm được sự nặng nề của thân xác. Có nhiều lần chúng ta cảm thấy tinh thần mạnh mẽ, muốn sống thánh thiện, muốn làm điều tốt, nhưng rồi thân xác kéo chúng ta xuống. Chúng ta chỉ có thể chiến thắng được thân xác khi chúng ta để cho Thần Khí của Đức Kitô hoạt động trong chúng ta. Ngài là Thần Khí của tình yêu và thánh hoá.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta câu chuyện Chúa Giêsu làm cho Ladarô sống lại. Đề tài về sự chết và sự sống lại của Chúa Nhật hôm nay tìm thấy sự hoàn thành nơi Đức Giêsu, Đấng gọi Ladarô ra khỏi sự chết để bước vào sự sống. Đây là ‘dấu lạ’ vĩ đại nhất của Chúa Giêsu, đó là trao ban món quà sự sống. Tuy nhiên, dấu lạ này đưa đến quyết định là Ngài phải chết cho toàn dân (x. Ga 11:1-57). Để hiểu bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta cần trở lại với câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành người mù từ thuở mới sinh mà chúng ta đã nghe Chúa nhật tuần trước. Trong câu chuyện đó, Chúa Giêsu tỏ mình ra là ‘ánh sáng thế gian’ và ai đi trong ánh sáng của Ngài sẽ có được sự sống đời đời. Điều này được Thánh Gioan đưa đến đỉnh cao trong câu chuyện hôm nay, đó là trình bày Chúa Giêsu là chính sự sống. Theo các học giả Kinh Thánh, trình thuật Chúa Giêsu cho Ladarô sống lại có thể được xem như là sự hoàn thành những lời hứa được trình bày trong Ga 5:24-29. Nói tóm lại, việc Chúa Giêsu cho Ladarô sống lại là dấu lạ chứng minh rằng Chúa Cha đã trao quyền trên sự sống và sự chết cho Người Con (x. 5:26). Chúng ta có thể suy niệm trình thuật này dựa trên những điểm sau:
Thứ nhất, Chúa Giêsu đợi để đến với Ladarô: “Tuy nhiên, sau khi được tin anh Ladarô lâm bệnh, Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở.” (Ga 11:6). Đây là chi tiết quan trọng và là chìa khoá để mở cửa cho chúng ta bước vào câu chuyện. Chúng ta thấy trong các câu chuyện trong Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giêsu cho những người mới chết sống lại và chưa được chôn trong mồ (x. Mc 5:22-23; Lc 7:11-16). Còn phép lạ của Ladarô là một ‘dấu lạ’ chỉ cho biết Chúa Giêsu là sự sống và là sự sống lại. Ngài gọi một người đã chôn trong mồ chỗi dậy. Đây chính là điều làm cho thị kiến của Ngôn Sứ Êdêkien trong bài đọc 1 được hoàn thành. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng, sự kiện Ladarô chết và Chúa Giêsu cho sống lại là để củng cố đức tin của các môn đệ trước cuộc khổ nạn của Ngài: “Nói những lời này xong, Người bảo họ: ‘Ladarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây.’ Các môn đệ nói với Người: ‘Thưa Thầy, nếu anh ấy yên giấc được, anh ấy sẽ khoẻ lại.’ Đức Giêsu nói về cái chết của anh Ladarô, còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường. Bấy giờ Người mới nói rõ: ‘Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin” (Ga 11:11-16). Những lời này cho thấy mục đích của các dấu lạ Chúa Giêsu thực hiện là để các môn đệ tin vào Ngài. Chúng ta cũng đã chứng kiến nhiều phép lạ Chúa Giêsu đã thực hiện trong cuộc đời của mình và của người khác. Nhất là mỗi lần chúng ta bước từ sự chết của tội lỗi vào sự sống công chính qua bí tích hoà giải, đức tin của chúng ta có được củng cố và trở nên sâu đậm không?
Thứ hai, việc Chúa Giêsu làm cho Ladarô sống lại là để Thiên Chúa được tôn vinh. Trong trình thuật này, Thánh Gioan cho thấy bệnh tật và cái chết của Ladarô có một mục đích đặc biệt, đó là làm cho vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện, để Chúa Giêsu [Người Con] được tôn vinh (x. 9:3). Chi tiết này nhắc chúng ta về Ga 2:11 [dấu lạ đầu tiên của Chúa Giêsu tại tiệc cưới Cana] và chỉ đến vinh quang thật trên thập giá của Chúa Giêsu (x. Ga 13:31-32; 17:1). Nhìn từ khía cạnh này, trong việc cho Ladarô sống lại, chúng ta đã nhìn thấy bóng dáng của thập giá. Nói cách khác, chính trong việc cho Ladarô sống lại Chúa Giêsu phải chịu chết. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta muốn được vinh quang nhưng không qua thập giá, muốn người khác được hạnh phúc mà không phải hy sinh. Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng muốn đến vinh quang phải qua thập giá, để người khác được sống chúng ta phải chết đi mỗi giây phút.
Thứ ba, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là sự sống và là sự sống lại. Tuy nhiên, câu khẳng định này phải được đón nhận với đức tin. Chúng ta thấy điều này qua cuộc đối thoại của Chúa Giêsu và Mácta: “Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Người. Còn cô Maria thì ngồi ở nhà. Cô Mácta nói với Đức Giêsu:
Mácta: ‘Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng sẽ ban cho Thầy.’
Đức Giêsu: ‘Em chị sẽ sống lại!’
Mácta: ‘Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết.’
Đức Giêsu: ‘Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?’
Mácta: ‘Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian’ (Ga 11:20-26).
Trong cuộc đối thoại này, chúng ta thấy đức tin của Mácta bắt đầu từ xác tín là nơi đâu có Chúa Giêsu, nơi đó không có sự chết nhưng chỉ có sự sống, và điều gì Ngài xin là Thiên Chúa ban cho Ngài. Niềm tin này, sau khi đã ‘đối thoại’ với Chúa Giêsu, nhất là sau lời ‘mạc khải’ của Chúa Giêsu về căn tính của Ngài là sự sống và là sự sống lại, đã được diễn tả qua lời tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về mối dây liên kết giữa đức tin và tuyên xưng, giữa tuyên xưng và thực hành. Thánh Giacôbê nhắc nhở chúng ta rằng: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:14). Hãy tuyên xưng niềm tin mình và hãy diễn tả đức tin qua hành động yêu thương, cảm thông và tha thứ cho anh chị em của chúng ta.
Thứ tư, Chúa Giêsu thương Ladarô với một tình yêu thật con người, đầy thiêng liêng: “Khi đến gần Đức Giêsu, cô Maria vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: ‘Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết.’ Thấy cô khóc, và những người Do Thái đi với cô cũng khóc, Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: ‘Các người để xác anh ấy ở đâu?’ Họ trả lời: ‘Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.’ Đức Giêsu liền khóc. Người Do Thái mới nói: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!” (Ga 11:33-36). Lại một lần nữa, Maria có cùng niềm tin vào Chúa Giêsu là nơi đâu có Ngài, nơi đó không có sự chết. Ngài là Đấng chiến thắng sự chết. Chi tiết chúng ta lưu ý là việc những người Do Thái đi theo Maria đã tỏ lòng liên đới với cô trong sự mất mát, và chính Chúa Giêsu cũng tỏ ra sự liên đới đó. Nhưng sự liên đới của Chúa Giêsu đi xa hơn chứ không dừng lại ở việc ‘cảm thấy đau lòng với và cho Maria,’ nhưng tìm cách để đưa Maria ra khỏi tình cảnh đau đớn, mất mát, đó là làm cho Ladarô sống lại. Tình liên đới chân thành nhất không dừng lại ở những giọt nước mắt cảm thông, nhưng đi đến hành động cụ thể để đưa anh chị em mình ra khỏi hoàn cảnh đau buồn của họ.
Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng mục đích chính của câu chuyện xoay quanh đề tài đức tin và tuyên xưng đức tin mà chúng ta đã nghe trong những Chúa Nhật vừa qua, nhất là trong hai câu chuyện về người phụ nữ Samaria và người mù từ thuở mới sinh. Đề tài đức tin được trình bày rõ trong câu kết của Tin Mừng hôm nay, niềm tin vào Chúa Giêsu, Đấng là sự sống và là sự sống lại “Trong số những người Do Thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Đức Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người” (Ga 11:46). Trong những lời này, chúng ta thấy có hai yếu tố quan trọng của đức tin mà Thánh Gioan trình bày ngay từ đầu đó là ‘đến’ và ‘xem.’ Nói cách khác, đức tin chỉ có được khi chúng ta sống thái độ của các môn đệ đầu tiên. Họ đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Họ đã đến, xem và ở lại với Ngài. Như vậy, nếu chúng ta không đến với Chúa Giêsu, không xem thấy [nhận ra] những gì Ngài làm cho chúng ta [và người khác], và không ở lại trong Ngài, đức tin của chúng ta chỉ là một đức tin chết.
Lm. Anthony, SDB.
……………………………..
Suy Niệm 3: NIỀM HY VỌNG SỐNG LẠI
A. DẪN NHẬP
Cổ nhân đã đặt câu hỏi :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” : con người từ xưa đến nay ai mà không chết ? Đây là một sự thật hiển nhiên, không ai có thể chối cãi được. Nhưng chết rồi sẽ ra sao ? Có nhiều ý kiến cho câu hỏi này ? Hòai nam Tử nói :”Sinh ký tử qui” : sống là gửi, chết mới là về. Câu hỏi tiếp : về đâu và để làm gì ? Đó là câu hỏi đòi chúng ta phải suy nghĩ và tìm ra câu giải đáp cho bản thân mình.
Trong bài Tin mừng hôm nay, Thánh Gioan thuật lại việc Đức Giêsu làm cho Lazarô đã chết được sống lại trước mặt nhiều người chứng kiến. Cô Martha và những người chứng kiến đã xác nhận : Lazarô đã chết được 4 ngày và đã nặng mùi rồi. Đức Giêsu đòi cô Martha phải chứng minh cho mọi người thấy là Lazarô đã chết thật và đòi cô phải tin vào Ngài. Sau khi truyền mở cửa mộ, Ngài hô lớn tiếng :”Lazarô, hãy ra đây” ! Lazarô đã chỗi dậy và ra khỏi mồ trước mặt mọi người. Sau đó Ngài truyền cởi dây băng và khăn liệm cho anh. Qua phép lạ này, Đức Giêsu hé mở cho chúng ta thấy viễn tượng sống lại trong ngày chung thẩm.
Chúng ta đã đi qua được một nửa Mùa chay trong sự hy sinh hãm mình, trong việc sửa đổi con người cũ của mình. Chúa nhật này mở ra cho chúng ta một chân trời hy vọng của Kytô giáo. Chúa Giêsu đã đem đến cho chúng ta niềm hy vọng ấy, đồng thời mời gọi chúng ta hãy hoàn toàn phó thác cuộc sống chúng ta cho Ngài : :”Ai tin vào Ta sẽ không phải chết đời đời”. Với niềm tin tưởng đó người Kitô hữu chúng ta phải cố gắng sống một đời sống xứng đáng ở trần gian này, và mạnh dạn đón nhận cùng vượt qua mọi gian nan thử thách trong cuộc sống hằng ngày. Như thế, cuộc sống của chúng ta có một ý nghĩa cao đẹp và lạc quan.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Ez 37, 12-14.
Dân Israel đang bị lưu đầy ở Babylon. Đối với họ, tương lại hoàn toàn mù mịt. Nhiều người đã tỏ ra thất vọng, sống cho qua ngày, coi mình như đã chết. Thiên Chúa cho tiên tri Ezéchiel đến yên ủi và báo cho họ biết rằng Ngài sẽ đoái thương họ, Ngài sẽ giải cứu họ và đem họ về quê hương. Lời loan báo này của tiên tri Ezéchiel đi sau thị kiến đặc biệt về “các bộ xương khô”. Đó là hình ảnh tượng trưng cho Israel. Các bộ xương sẽ được cơ thịt bao phủ, được thổi hơi làm cho sống lại, trở thành một sinh linh mới. Lời hứa Phục sinh này mang hai ý nghĩa :
a) Phục sinh tinh thần : họ sẽ được hồi hương.
b) Phục sinh thể xác : họ sẽ được sống lại.
Lịch sử dân Israel cho thấy lời hứa phục sinh tinh thần đã được thực hiện vào năm 539. Còn phục sinh thể xác sẽ diễn ra sau này nơi Chúa Kitô và mọi Kitô hữu.
+ Bài đọc 2 : Rm 8,8-11.
Theo thánh Phaolô, con người có hai sự sống : sự sống theo thể xác và sự sống theo Thần Khí. Sự sống theo Thần Khí quan trọng hơn. Mặc dầu thân xác Kitô hữu đã bị dâng cho tử thần vì tội lỗi, nhưng nhờ Phép Rửa, Kitô hữu lại nhận được Thần Khí sự sống và Phục sinh của Đức Kitô :”Đấng đã làm cho Đức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em mà làm cho thân xác anh em được sự sống mới”(Rm 8,11).
+ Bài Tin Mừng : Ga 11,1-45.
Bài trình thuật việc ông Lazarô sống lại khá dài, có nhiều chi tiết, mỗi chi tiết đều có ý nghĩa, nhưng điểm nổi bật nhất là việc Đức Giêsu làm cho kẻ chết sống lại, loan báo sự phục sinh thể xác sau này. Việc cứu sống Lazarô là sự phục sinh thể xác cho chính Lazarô, nhưng việc cứu sống ấy còn báo trước cho chúng ta sự phục sinh thể xác của Chúa Giêsu và của mọi người nữa.
Phép lạ phục sinh Lazarô như là một dấu chỉ : một đàng để làm vinh danh Chúa Cha nơi Người ; đàng khác, để cho các môn đệ tin rằng Người được Chúa Cha sai đến. Lời tuyên xưng của cô Martha đã nói lên điều ấy :”Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11, 27) và trong số những người Do thái đến thăm cô Maria và được chứng kiến việc Chúa Giêsu làm, có nhiều kẻ đã tin vào Người (Ga 11,15).
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Chúng ta sẽ được sống lại
I. ĐỨC GIÊSU CHO LAZARÔ SỐNG LẠI
Câu chuyện Đức Giêsu cho Lazarô sống lại là một trình thuật căn bản của Tin mừng Gioan. Đức Giêsu được mô tả như Ngôi Lời nhập thể, đến trong thế gian để con người được đưa từ bóng tối ra ánh sáng, từ sự chết vào cõi sống, từ đất đến trời. Đức Giêsu Nazareth là một con người huyền diệu và là một Thiên Chúa tòan năng.
- Đức Giêsu đến Bêtania
Bêtania ở cách Giêrusalem khỏang 3 cây số. Ở đó có một gia đình gồm ba chị em mà Đức Giêsu quen biết, đó là Martha chị cả, Maria và Lazarô là em út. Mỗi người có một tính tình khác nhau : Martha năng động, lo việc bếp núc và chạy vạy mọi việc trong nhà. Maria thì trầm lặng, ít họat động, thích chiêm mộ. Còn Lazarô, bạn thân của Chúa, đã được mời dự tiệc tại nhà ông Simon tật phong.
Một hôm Lazarô bỗng đau nặng, hai chi em sai người đi báo tin cho Đức Giêsu một cách tế nhị :”Người Thầy yêu đau liệt”. Lúc đó Ngài còn đang đi truyền giáo tại Pêrê bên kia sông Giorđan chưa về. Ngài còn ở lại đó hai ngày nữa vì Ngài đã bảo người đưa tin rằng :”Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó con người sẽ được hiển vinh”. Nhưng dù sao lễ Vượt Qua sắp tới, Ngài cũng cần phải đi Giêrusalem để dự lễ.
Các môn đệ có vẻ ngần ngại vì thái độ thù nghịch của biệt phái mỗi ngày một tăng :”Mới hôm nào bọn Do thái tìm ném đá Thầy mà nay Thầy lại trở về đó sao”? Tuy các ông vẫn còn lưỡng lự, Đức Giêsu mới cho biết rõ :”Lazarô đã chết”. Rồi Ngài cương quyết :”Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông”.
- Đàm thọai với Martha và Maria
Khi tới Bêtania thì được tin Lazarô chết chôn được 4 ngày rồi. Nếu tính thời gian ấy thì tròn bốn ngày : đi báo tin Lazarô chết mất một ngày, Đức Giêsu ở lại hai ngày và trở về mất một ngày. Và theo phong tục Do thái thì chết là chôn ngay : chết sáng thì chiều chôn và chết đêm thì ban mai phải chôn, không được để lâu.
Khi Đức Giêsu tới nơi thì có nhiều người Do thái đang đến chia buồn với gia đình này. Vừa được tin Đức Giêsu đến, cô Martha đã vội vàng chạy ra đón và thưa ngay :”Nếu Thầy có mặt ở đây thì em con đã không chết”. Qua lời nói đó, chúng ta có thể đọc rõ tâm trí của Martha. Cô muốn nói rằng :”Lúc được báo tin, sao Thầy không chịu đến ngay ? Bây giờ mới đến thì đã muộn mất rồi”. Ngay sau khi thốt ra những lời ấy, tiếp theo là những lời nói trong đức tin, một đức tin thách thức mọi sự kiện, mọi kinh nghiệm. Cô nói bằng một niềm hy vọng trong tuyệt vọng :”Tuy nhiên, con biết rằng Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy bất luận điều gì Thầy cầu xin”.
Để yên ủi cô, Ngài phán :”Em con sẽ sống lại”. Martha nói lên niềm tin của mọi người Do thái thời đó :”Con biết ngày tận thế em con sẽ sống lại”. Đức Giêsu cho cô Martha biết Ngài sẽ cho Lazarô sống lại nhưng đòi ở nơi cô lòng tin mạnh mẽ.
- Lazarô được sống lại
Đức Giêsu hỏi :”Đã an táng Lazarô ở đâu” ? Các cô dẫn Ngài đến mộ. Đứng trước cửa mộ, Đức Giêsu truyền mở cửa mộ ra, nhưng người ta trả lời :”Thưa Thầy, nặng mùi rồi vì đã 4 ngày”. Chúa đòi Martha xác nhận cho mọi người biết là em mình đã chết thực sự và đã bắt đầu thối. Trước khi làm phép lạ Chúa đòi cô phải có lòng tin mạnh mẽ vào Ngài.
Sau khi hòn đá che cửa mộ được cất ra, Đức Giêsu lớn tiếng gọi :”Lazarô, hãy ra đây”. Người chết liền đi ra trước mặt mọi người, chân tay còn quấn băng và mặt còn phủ khăn liệm. Ngài ra lệnh cởi băng cho ông.
Kết quả : một số đông người chứng kiến đã tin theo Đức Giêsu, nhưng còn một số đi báo tin cho nhóm biệt phái, những người luôn là đối thủ của Ngài.
Có lẽ đây là một phép lạ lớn nhất mà Gioan thuật lại trong Tin mừng của ông. Làm cho kẻ chết sống lại là làm chủ cả sự chết lẫn sự sống. Nếu so sánh việc làm cho con gái ông Giairô và cậu con trai bà góa thành Naim vừa chết chưa thối thì phép lạ này hòanh tráng hơn nhiều và củng cố niềm tin cho những người chứng kiến.
Trong câu chuyện này, cả Martha lẫn Maria đều được mời gọi tiến triển thêm. Martha đã có đức tin ở một mức độ nào đó, đức tin Do thái :”Con biết rằng em con sẽ sống lại vào ngày tận thế”. Đức Giêsu mời cô tiến thêm một bước :”Ta là sự sống lại và là sự sống. Con có tin điều đó không”? Phải tiến từ đức tin vào sự sống lại ngày tận thế đến đức tin vào lời Đức Giêsu Đấng ban sự sống ngay hôm nay cho những ai tin vào Ngài. Đó chính là mục đích của phép lạ này :”Lạy Cha, Con tạ ơn Cha đã nhận lời Con… Con nói ra đây chính là để cho đám đông chung quanh Con đây tin rằng Cha đã sai Con” (Fiches dominicales A, tr 102).
II. NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI.
- Tin vào Lời Chúa
Một quá trình dài tường thuật, chuẩn bị phép lạ cho Lazarô được sống lại, cho chúng ta thấy rằng mục tiêu chính yếu của đoạn trích Phúc âm Gioan 11,1-45 không phải là sự sống lại thể xác của Lazarô, nhưng chính là một “tiến trình niềm tin”cho những người vây quanh Đức Giêsu và cho chúng ta hôm nay.
Đức Giêsu ngước mắt lên trời cảm tạ Chúa Cha không có mục đích cầu xin để làm cho Lazarô được sống lại nhưng có mục đích củng cố niềm tin cho các môn đệ, cho chị em Martha và Maria cũng như cho những người đến chia buồn với chị em.
Tất cả bài học, lời dạy của Đức Giêsu hôm nay đều tập trung trong hai câu 25 và 26. Đức Giêsu đã mang lại cho chúng ta một mạc khải nền tảng :”Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25-26). Chính niềm tin vào Đức Kitô là một bảo đảm tuyệt đối để được sự sống muôn đời.
Phép lạ cho Lazarô sống lại chỉ là chuẩn bị cho một phép lạ vô cùng lẫy lừng, một phép lạ trọng đại nhất trong đạo, chính là Đức Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại vinh quang mà chúng ta sẽ cử hành trong Tuần thánh sắp đến. Đức Kitô chết và sống lại là để dẫn đưa con người từ cõi chết trở về cõi sống, tự nơi tạm bợ đến chốn vĩnh hằng. Đó là niềm tin của người tín hữu, cũng là đức tin của Kitô giáo. Niềm tin đó bảo đảm cho sự trường tồn của Giáo hội. Thánh Phaolô nói :”Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của mình” (1Cr 15,17).
Trong kinh Tin kính, chúng ta tuyên xưng :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại…” Chính là trên cơ sở phải tin Đức Kitô đã phục sinh… Sứ điệp Phục sinh không đem đến cho chúng ta những thực tế dễ dàng, hấp dẫn, dựa trên cở sở những kinh nghiệm khả giác và kỳ lạ, nhưng cho chúng ta một nhận thức về một mạc khải, một lời hứa : mạc khải Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết và lời hứa mà Ngài có quyền hội nhập chúng ta vào sự chiến thắng đó.
- Người đời nghĩ thế nào ?
a) Mọi người đều phải chết
Người ta công nhận rằng mọi người trên thế gian này đều phải chết, đây là một công lệ khắt khe buộc con người phải theo, dù muốn dù không. Vì thế cổ nhân đã nói :
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
(Văn thiên Trường)
Ngày xưa, người thế ai không chết,
Chết, để lòng son rạng sử xanh.
Mọi người cũng đều công nhận là đời sống rất mong manh : Sinh hữu hạn, tử bất kỳ. Nhưng triết lý về cuộc sống của mỗi người lại khác nhau, mỗi người có một cái nhìn, một nhân sinh quan về đời sống. Có người có cái nhìn lạc quan, có người lại có cái nhìn bi quan. Có người tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống, có người coi cuộc sống là phi lý, là vô nghĩa như trường hợp của những người theo triết thuyết hiện sinh vô thần như ông Jean Paul Sartre. Có lẽ họ thích sống theo triết lý người La mã xưa :”Hãy ăn nhậu cho say, vì ngày mai bạn có thể chết”.
Tâm lý con người : tham sinh húy tử.
Đúng như vậy, con người ai cũng thích sống và ai cũng sợ chết. Đó là mối bận tâm muôn thuở của nhân loại. Đã là qui luật là qui luật : mọi người đều phải chết. Nhưng khi con người biết sống thì không sợ cái chết nữa, hay ít là coi nhẹ cái chết :
Nhân cố hữu nhất tử,
Tử hoặc trọng ư Thái sơn,
Hoặc khinh như hồng mao.
Người đời ai cũng vẫn phải chết
Nhưng có cái chết nặng như núi Thái sơn
Có cái chết nhẹ như lông hồng.
b) Chết rồi sẽ ra sao ?
Đối với những người không có đức tin thì câu hỏi chết rồi sẽ ra sao thì không thành vấn đề. Theo họ, chết là hết. Chết là kết thúc cuộc sống ở trần thế này và sẽ trở về hư không.
Nhà văn Nhất Linh, một ngày bâng khuâng, ông tự hỏi mình :
– Chết rồi sẽ ra sao nhỉ ?
Nghĩ ngợi một chốc, rồi ông lại tự trả lời lấy :
– Hồi Hai Bà Trưng, tôi chưa ra chào đời. Thế khi ấy tôi ở đâu ? Chết, tức là trở về tôi hồi ấy vậy.
Nói cách khác, định mệnh bắt tôi phải đầu hàng thần Chết vô điều kiện. Tôi đã bởi hư vô mà có, thì chết rồi, tôi lại rơi vào cõi hư vô.
Thảo nào mà một nhà thi sĩ lương dân đã phải khóc lên não nuột khi tưởng nhớ đến giây phút tủi nhục này :
Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi !
Tôi run như lá, tái như đông,
Trán chảy mồ hôi, mắt lệ phồng,
Năm đẩy tháng dồn tôi đã đến
Trước bờ lạnh lẽo cõi hư không.
(Xuân Diệu)
Đối với một số người, không những chết là hết nhưng chết còn là một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp. Karl Marx, ông tổ thuyết mac-xít vô thần, trong một bức thư viết cho người bạn của ông là Lassanler đã nói về cái chết của đứa con mình như sau :
“Cái chết của đứa con trai tôi đã làm cho tôi đảo điên. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như cái chết ấy mới xẩy ra ngày hôm qua thôi. Còn vợ tôi thì hoàn toàn ngã gục vì biến cố này”.
Ai trong chúng ta cũng cảm thông được với nỗi đau đớn tột cùng này của ông tổ thuyết Mac-xít vô thần. Cái chết là một mất mát mà không gì có thể lấp đầy được. Sự mất mát ấy lại càng khủng khiếp hơn khi con người không còn một niềm hy vọng nào vào cuộc sống mai hậu. Chối bỏ cuộc sống mai hậu cũng có nghĩa là tự đọa đầy mình vào một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp nhất (D. Wahrheit, Phép lạ trong cuộc đời, tr 257).
Nếu không còn niềm tin nào vào cuộc sống mai hậu thì người ta dễ đi đến những kết luận bi quan, muốn tận hưởng trước khi chết để đi vào hư vô :
Người ơi, tận hưởng đi mùi thế tục,
Trước ngày tan nát cõi tha ma.
(Omar)
- Chúng ta nghĩ thế nào ?
Chúng ta hãy tin nhận Lời Chúa. Thiên Chúa là Đấng chân thật và trung thành với lời hứa. Tin vào Chúa sẽ không bị đi lầm đường :”Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. (Ga 11,25-26). Tuy đã tin vào Chúa, nhưng đức tin không miễn trừ cho chúng ta những thử thách khổ đau trong tang chế, trong sự từ bỏ mình hằng ngày và sự sợ hãi đối với sự chết, nhưng niềm tin của chúng ta chấp nhận để hiểu biết và sống trong những hoàn cảnh hiện tại theo ánh sáng của sự sống cao thượng hơn mà Đức Giêsu đã dạy và chính Ngài là nguyên nhân của sự sống cao thượng đó.
a) Mọi người đều phải chết.
Kinh nghiệm cho chúng ta thấy trên trần gian này không có ai sống trường sinh bất tử. Tuy khoa học và cách riêng ngành y học đã đạt được đỉnh cao nhưng người ta chưa tìm ra được một phương cách nào để con người được sống mãi.
Truyện : Thuốc trường sinh.
Thời chiến quốc, có người dâng vua nước Sở một vị thuốc bất tử. Người ấy bưng vị thuốc vào, viên quan canh cửa hỏi rằng :
– Vị thuốc này có uống được không ?
Người ấy đáp :
– Uống được.
Tức thì viên quan giật lấy mà uống. Chuyện đến tai vua. Ông liền bắt viên quan đem giết. Viên quan kêu rằng :
– Thần đã hỏi người đem dâng thuốc. Người ấy nói rằng :”Uống được”, nên thần mới dám uống. Thế là thần vô tội mà lỗi ở người dâng thuốc. Vả chăng, người đem dâng thuốc nói là thuốc bất tử. Thế mà thần mới uống vào đã sắp phải chết, vậy là thuốc tử chứ sao gọi là thuốc bất tử được ? Nhà vua giết thần, thực là bắt tội một người vô tội. Hơn nữa, còn chứng tỏ rằng thiên hạ dối được nhà vua mà nhà vua vẫn tin.
Vua nghe nói có lý, bèn tha cho viên quan ấy, không giết ông nữa.
b) Chết chưa phải là hết.
Nhà triết học Heiddeger đã nói :”Nếu chết là hết, thì người đời luôn luôn sống trong lo sợ. Bởi vì biết rằng mình sẽ chết, vậy sẽ trở về cõi hư vô, thì tức là đã mang hư vô trong mình rồi. Sống làm gì nữa để ngày mai rơi vào cõi hư vô”.
Thánh Phaolô đã xác quyết với chúng ta :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
c) Chết đi để sống lại
Một điều chắc chắn là sự chết dẫn ta đến sự sống lại. Lẽ dĩ nhiên chết không phải là điều tốt, nhưng nó là đoạn đường ta phải vượt qua để đi từ cuộc sống đời tạm này qua cuộc sống vĩnh cửu. Sự chết không phải là sự chết đơn thuần, không phải là con đường cụt, không lối thoát. Thiên Chúa không yêu thương chúng ta vô ích, không dựng nên ta để rồi biến ta ra hư vô. Chúa yêu thương ta vô hạn, đã ban chính Con Một của Ngài cho ta không phải để cho ta thấy ta biến vào hư vô sau cái chết, nhưng để ta được sống lại và được kết hợp với Ngài (Lm Đỗ thanh Hà, báo Lên đường).
Chúng ta tin là có sự sống lại trong ngày sau hết như Chúa đã báo trước. Chúng ta cũng tuyên xưng đức tin trong kinh Tin kính :”Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy”. Tuy thế vẫn có những người không tin.
Truyện : Không có sống lại.
Ở một nghĩa địa bên Đức, có một ngôi mộ lớn và đẹp, xây bằng đá hoa cương và bê tông cốt sắt. Đó là mộ của một bà giầu có và vô thần, trong chúc thư bà muốn xây như vậy để chối bỏ sự sống lại. Bà còn muốn trên ngôi mộ phải đề dòng chữ này : ngôi mộ này sẽ không bao giờ mở ra được.
Thời gian trôi qua, tình cờ một hạt giống rơi xuống, mọc cây, rễ của nó ăn vào mộ và xuyên thủng quan tài của bà. (Theo Veritas ngày 27.07.1993).
Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà Lạt.
…………………………..
Suy Niệm 4: Nước – Ánh sáng – Sự sống
Chúng ta có thể tóm tắt sứ điệp trong các bài Phúc âm của chúa nhật thứ 3, thứ 4 và thứ 5 mùa chay qua 3 khái niệm: nước – ánh sáng – sự sống. Lời Chúa mà chúng ta được phép lắng nghe, sẽ giúp các dự tòng chuẩn bị cho ngày lãnh nhận bí tích Rửa tội trong đêm Phục sinh. Không những các dự tòng mà chính chúng ta là những người Kitô hữu có thể tiến sâu vào mối tương quan mật thiết với Đức Giêsu qua việc canh tân lời hứa trong ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa tội. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa đã mặc xác phàm, sẵn sàng hiến mình cho chúng ta cho đến khi chết trên thập giá. Người muốn trở nên nước hằng sống, thứ nước có thể ban sự sống vĩnh cửu cho chúng ta. Người muốn trở nên ánh sáng đích thực cho chúng ta, thứ ánh sáng có thể xoá bỏ cảnh mù loà do tội lỗi và cảnh tăm tối do sự chết gây nên. Người muốn là sự sống vĩnh cửu, thứ mà Người muốn tặng ban cho những ai tin vào Tin mừng. Nước – Ánh sáng – Sự sống! Đức Giêsu mời gọi chúng ta hoán cải, có nghĩa là đổi mới cách tiếp nhận Người và như thế trở nên một tạo vật mới đó chính là người của mùa Phục sinh.
Thiên Chúa thực hiện lời mời gọi hoán cải trong ngày chúa nhật hôm nay qua dấu chỉ của sự sống. Khi mang thân phận làm người, ai cũng không khỏi xót xa khi chứng kiến cảnh người tóc bạc tiễn người tóc xanh ra phần mộ. Khi còn trẻ, ai cũng cảm nhận mình có một thế giới đang dần rộng mở trước mặt, ngày tháng tương lai đời mình dường như còn rất dài. Những câu hỏi có liên quan đến sinh lão bệnh tử chúng ta tìm cách né tránh hoặc gạt qua một bên. Nhưng ai ai cũng biết rõ không có thuốc trường sinh bất tử. Một ngày nào đó mỗi người trong chúng ta đều phải đối diện với cái chết. Thánh sử Gioan tường thuật về sự ra đi của một chàng trai trẻ và cảnh mất mát của người ở lại. Lazarô lâm trọng bệnh trong những ngày tháng có thể nói là đẹp nhất trong đời và đã yên giấc ngàn thu đã mấy ngày rồi! Khi Đức Giêsu đến anh đã được an táng trong mộ. Mátta, chị của Lazarô, không thể nào chấp nhận sự thật này, chị chạy ra đón Đức Giêsu mà trong lòng vẫn còn mang một vài tia hy vọng. Qua những lời ấm ức của Mátta, Đức Giêsu hiểu rằng Lazarô không nên chết trong hoàn cảnh như thế này. Lời của Mátta làm cho Đức Giêsu bị đánh động, Ngài đã khóc vì sự ra đi của Lazarô. Ngài rất yêu thương ba chị em, thỉnh thoảng còn ghé thăm khi có dịp đi ngang qua. Hình ảnh Đức Giêsu đang khóc là một thông điệp cực kỳ quan trọng mà Thiên Chúa muốn gửi đến từng người trong chúng ta. Thiên Chúa muốn ban tặng cho chúng ta một cuộc sống sung mãn, cho nên Ngài không ngoảnh mặt làm ngơ khi chúng ta phải từ giã cõi đời này, dù là do bệnh tật hiểm nghèo hay do tai nạn, dù là do cưỡng bức hay hãm hại, dù là trẻ em hay người già, … Thiên Chúa là Chúa của sự sống và Ngài muốn con người được sống. Ngài cảm thấy phẫn nộ khi chứng kiến thế giới của chúng ta đầy bất công, chỗ này bị thiên tai hay chỗ kia bị dịch bệnh mất mùa, …
Chúng ta đang tiến dần đến lễ Phục sinh. Cuộc sống, sự chết và sự sống lại của Đức Giêsu mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử lâu dài giữa Thiên Chúa và con người. Cuộc Exodus, cuộc xuất hành của dân Do thái từ Ai cập luôn được đọc trong nghi lễ đêm Phục sinh. Qua Đức Giêsu Thiên Chúa muốn chứng minh Ngài là Đấng muốn giải thoát loài người khỏi ách nô lệ do tội lỗi gây nên. Tình liên đới của Thiên Chúa đối với người nghèo nàn như chúng ta không còn mơ hồ mà là đã có thành quả qua Đức Giêsu, đã có đôi bàn tay và một trái tim như thành ngữ thường diễn tả. Cho nên sự sai phái của Đức Kitô, Con Chúa mặc xác phàm nơi Đức Giêsu là dấu chỉ của niềm hy vọng dành cho con người. Tình liên đới của Thiên Chúa đối với con người luôn sống động và tất cả những lời hứa trong sách tiên tri Isaia đã thành hiện thực qua Đức Giêsu: „Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin mừng cho người nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị ạp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.“ Khi Đức Giêsu gọi bạn mình là Lazarô ra khỏi mồ, thì đây chính là dấu hiệu chúng ta đang trên đường tiến gần đến lễ Phục sinh.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức

