BÀI ĐỌC I: Cv 1, 1-11
Hỡi Thêôphilê, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những điều Đức Giêsu đã bắt đầu làm và giảng dạy, cho đến ngày Người lên trời, sau khi căn dặn các Tông đồ, những kẻ Người đã tuyển chọn dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Sau cuộc thương khó, Người đã tỏ cho các ông thấy Người vẫn sống, với nhiều bằng chứng Người đã hiện ra với các ông trong khoảng bốn mươi ngày và đàm đạo về Nước Thiên Chúa. Và trong một bữa ăn, Người đã ra lệnh cho các ông chớ rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa. Người nói: “Như các con đã nghe chính miệng Thầy rằng: Gioan đã làm phép rửa bằng nước, phần các con, ít ngày nữa, các con sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.
Vậy các kẻ có mặt hỏi Người rằng: “Lạy Thầy, có phải đã đến lúc Thầy khôi phục Nước Israel chăng?” Người bảo họ rằng: “Đâu phải việc các con hiểu biết thời gian hay kỳ hạn mà Cha đã ấn định do quyền bính Ngài. Nhưng các con sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần ngự xuống trên các con, và các con sẽ nên chứng nhân cho Thầy tại Giêrusalem, trong tất cả xứ Giuđêa và Samaria, và cho đến tận cùng trái đất”. Nói xong, Người được cất lên trước mắt các ông, và một đám mây bao phủ Người khuất mắt các ông.
Đang khi các ông còn ngước mắt lên trời nhìn theo Người đang xa đi, thì bỗng có hai người mặc áo trắng đứng gần các ông và nói rằng: “Hỡi người Galilê, sao các ông còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa các ông mà lên trời, sẽ đến cùng một thể thức như các ông đã thấy Người lên trời”.
BÀI ĐỌC II: Ep 1, 17-23
Anh em thân mến, xin Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, là Cha vinh hiển, ban cho anh em thần trí khôn ngoan và mạc khải, để nhận biết Người, xin cho mắt tâm hồn anh em được sáng suốt, để anh em biết thế nào là trông cậy vào ơn Người kêu gọi, thế nào là sự phong phú gia nghiệp vinh quang nơi các thánh, và thế nào là quyền năng vô cùng lớn lao của Người đối với chúng ta, là những kẻ tin, chiếu theo hành động của sức mạnh quyền năng Người, công việc mà Chúa đã thực hiện trong Đức Kitô, tức là làm cho Ngài từ cõi chết sống lại, và đặt Ngài ngự bên hữu mình trên trời, vượt trên mọi cấp trật, các lãnh thần, quyền thần, dũng thần, và quản thần, vượt trên mọi danh hiệu được xưng hô cả đời này lẫn đời sau. Chúa khiến mọi sự quy phục dưới chân Ngài, và tôn Ngài làm đầu toàn thể Hội Thánh là thân thể Ngài, và là sự sung mãn của Đấng chu toàn mọi sự trong mọi người.
PHÚC ÂM: Mt 28, 16-20
Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu đã chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”.
Suy Niệm 1: CHÚA LÊN TRỜI – BAN THÁNH THẦN – TRAO SỨ MẠNG
“Có Chúa cùng hoạt động với các ông” – đó là Chúa Giêsu, Đấng hứa ở cùng các môn đệ thừa sai của Người mọi ngày cho đến tận thế. Và đó cũng là Chúa Thánh Thần, vì chính bằng Thánh Thần của Người mà Chúa Phục sinh tiếp tục hiện diện với chúng ta, các môn đệ thừa sai của Chúa, cho đến ngày Người trở lại.
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng Lễ Chúa Thăng Thiên [Chúa Lên Trời]. Chúng ta cử hành Thánh Lễ này mỗi năm, nhưng chúng ta có hiểu và sống ý nghĩa của Thánh Lễ này trong đời sống thường ngày của chúng ta hay không? Đây chính là vấn đề mà nhiều người Kitô hữu chúng ta không để ý. Hằng năm, chúng ta vẫn cử hành Thánh Lễ này. Cử hành xong, chúng ta trở về lại với cuộc sống bình thường của mình như không có gì thay đổi, như Thánh Lễ này không mang lại ý nghĩa gì cho cuộc sống của chúng ta. Để biết, hiểu và sống trọn vẹn ý nghĩa của mầu nhiệm chúng ta cử hành hôm nay, chúng ta hãy để lời Chúa hướng dẫn.
Trong bài đọc 1, tác giả sách Công Vụ Tông Đồ thuật lại cho chúng ta sự kiện Chúa Giêsu được đưa lên trời. Khi đọc kỹ trình thuật này, chúng ta thấy tác giả sắp xếp một cấu trúc thật chặt chẽ cho trình thuật để chuyển tải sứ điệp của mình: Trước khi lên trời – công việc của các môn đệ khi Chúa Giêsu lên trời – khi Chúa Giêsu lên trời. Trước khi lên trời, “trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình: trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa” (x. Cv 1:1-3). Những lời này trình bày các Tông Đồ là những người được Chúa Giêsu tuyển chọn, dạy bảo và cho nhìn thấy, nghe thấy những gì Ngài đã thấy và nghe từ Chúa Cha. Ngài cũng chứng tỏ cho họ biết Ngài đã phục sinh sau khi chịu khổ hình. Các Tông Đồ được sai đi để làm chứng nhân của Chúa Giêsu sau khi Ngài lên trời. Cũng như các Tông Đồ, chúng ta được Chúa Giêsu tuyển chọn, dạy bảo. Chúng ta cũng đã được chứng kiến những kỳ công Ngài đã thực hiện. Chúng ta đã trở nên chứng nhân như thế nào của Chúa Giêsu? Tác giả sách Tông Đồ Công Vụ cho thấy, chỉ với sức mạnh của Thánh Thần các Tông Đồ và chúng ta mới có thể trở thành chứng nhân của Chúa Giêsu trong từng ngày sống của mình: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:7-8). Dưới tác động và với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ [và chúng ta] trở nên chứng nhân cho Chúa Giêsu, Đấng “được cất lên ngay trước mắt các ông” (Cv 1:9). Ngài sẽ trở lại trong vinh quang để đưa chúng ta về với Ngài. Chi tiết này giúp chúng ta ý thức rằng quê hương thật của chúng ta là ở trên trời. Cuộc sống trên dương thế là hành trình chứng nhân của Chúa Giêsu trong từng ngày sống. Một cách cụ thể, qua thập giá, đến vinh quang là hành trình chứng nhân mà mỗi người chúng ta phải trãi qua đến khi đạt đến quê trời là quê hương thật của chúng ta.
Thánh Phaolô, trong bài đọc 2, nói cho các tín hữu Êphêsô về lời cầu nguyện chuyển cầu của mình cho họ. Lời cầu nguyện này chứa đựng những ngôn từ của thư gởi tín hữu Côlôxê và của lời chúc tụng trong thơ gởi tín hữu Êphêsô, nhưng cũng đưa vào những tư tưởng từ Thánh Vịnh 110 và 8 để tạo ra những khẳng định đặc thù về việc tôn vinh Đức Kitô và Giáo Hội. Chúng ta thấy có hai phần rõ rệt trong bài đọc 2. Phần 1 là lời cầu xin (Eph 1:17-20) và phần 2 (Eph 1:21-23) là lời tôn vinh Đức Kitô và Giáo Hội. Trong lời cầu xin của mình cho các tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô xin Thiên Chúa ban cho họ sự khôn ngoan thông hiểu để hiểu được mầu nhiệm của Thiên Chúa và ý định của Ngài cho con người: “Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mạc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Kitô, khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” Chi tiết chúng ta cần lưu ý là thuật ngữ “dân thánh” [hagioi] (câu 18). Thuật ngữ này có thể ám chỉ cộng đoàn dưới đất (x. Eph 1:1,15) hoặc cộng đoàn trên trời, các thiên thần. Trong bối cảnh của bài đọc, thuật ngữ này ám chỉ đến các thiên thần, nhữnng vị mà cộng đoàn dưới thế được nối kết trong Đức Kitô. Trong Đức Kitô, chúng ta được liên kết với các thiên thần và các thánh trên trời. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng niềm hy vọng của chúng ta là được sống trên thiên đàng với Thiên Chúa và các thần thánh trên trời. Như vậy, chúng ta không bao giờ cô độc và cuộc sống của chúng ta là hành trình nhìn lên cao, hành trình đi về quê trời. Nhưng nhiều khi chúng ta sống đời sống của mình như mọi sự kết thúc trên trần thế này. Chúng ta chạy theo bạc tiền; chúng ta đi tìm vinh quang danh dự ở đời để nhiều lần không tích luỹ cho mình kho tàng ở trên trời. Hãy sống như những người đang đi trên trái đất, nhưng con tim và tâm hồn hướng về trời cao!
Trong phần tôn vinh Đức Kitô và Giáo Hội, Thánh Phaolô sử dụng lời Thánh Vịnh (110:1 và 8:7): “Người đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.” Quyền năng của Thiên Chúa được mạc khải trong sự phục sinh và lên trời của Đức Kitô và việc tôn phong Ngài trỗi vượt trên mọi quyền lực thần thiêng. Tác giả đã sử dụng những câu khẳng định trong kinh tin kính của các Kitô hữu thời sơ khai để công thức hoá sự kiện Đức Kitô hầu gây ấn tượng cho người đọc về vị trí vinh quang mà họ được mời gọi đến chia sẻ trong Đức Kitô. Bên cạnh đó, hình ảnh Đức Kitô được đặt làm đầu toàn thể Hội Thánh được tác giả sử dụng nhằm công bố một hình ảnh quan trọng sẽ là trung tâm của toàn bộ lá thư, đó là việc Chúa Giêsu là đầu của Hội Thánh. Đây chính là sự phát triển khái niệm của Thánh Phaolô về nhiều thành phần [bộ phận] khác nhau hợp lại tạo nên thân mình Đức Kitô (1 Cr 12:12-17). Hội Thánh là người thừa hưởng kế hoạch phổ quát của Thiên Chúa, như là người thừa hưởng quyền cai trị của Ngài trên mọi sự và trên mọi quyền lực thiêng liêng. Hội Thánh – thân thể Đức Kitô – chia sẻ trong sự thống trị của Đức Kitô, là Đầu của mình.
Bài Tin Mừng trích từ phần kết của Tin Mừng Thánh Mátthêu. Chúng ta cũng tìm thấy trình thuật này trong các Tin Mừng khác (x. Mc 16:14-18; Lc 24:36-49; Jn 20:19-23; Cv 1:9-11). Phần kết thúc này rất giàu về ý nghĩa vì thực tế cho chúng ta thấy rất khó để nói nhiều điều quan trọng hoặc vĩ đại trong một số chữ thật giới hạn. Trình thuật này trình bày một phần nào đó về viễn cảnh cánh chung, là sự hoàn thành của viễn cảnh mà Đanien có về Con Người. Thể loại của trình thuật nối kết nhiều yếu tố của một kiểu mẫu phong vương trong Cựu Ước trong một cuộc sai đi.
Bài Tin Mừng bắt đầu với con số “mười một môn đệ” ám chỉ đến kết thúc đáng buồn của Giuđa Ítcariốt. Hình ảnh quen thuộc trong Tin Mừng Thánh Mátthêu được đưa ra ở đây, đó là ngọn núi: “Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến” (Mt 28:16). Đây là ngọn núi của mạc khải (x. 17:1), nơi Chúa Giêsu chạm đến họ (x. 17:7). Trên ngọn núi này, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28:17). Các môn đệ nhìn thấy sự hiện ra của Chúa Giêsu sống lại, nhưng lời của Ngài được nhấn mạnh hơn là diện mạo của Ngài. Không có một đề cập nào đến việc thăng thiên [lên trời] bởi vì điều đó xảy ra cùng lúc với sự kiện phục sinh. Sự bái lạy của các môn đệ tỏ cho thấy đức tin của họ, nhưng đức tin này vẫn còn trộn lẫn với nghi ngờ, một kinh nghiệm tâm lý chung mang lại niềm hy vọng cho những con người hiện đại. Đây chính là tình trạng đức tin của mỗi người chúng ta. Khi đến với Chúa Giêsu, đức tin của chúng ta vẫn có những nghi ngờ. Những nghi ngờ này là hệ quả của những đau khổ mà chúng ta đã trải qua. Chúng ta nghi ngờ không biết Chúa có đủ khả năng để đạt đến “vinh quang qua thập giá” hay không?
Sau khi nói đến hành động thờ lạy và thái độ còn nghi ngờ của các môn đệ, Thánh Mátthêu đề cập đến hành động của Chúa Giêsu: “Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: ‘Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế’” (Mt 28:18-20). Những lời từ biệt này của Chúa Giêsu có thể được chia ra làm ba phần, ám chỉ cách tương ứng với quá khứ, hiện tại, và tương lai. Trong phần quá khứ, chúng ta đọc thấy việc Chúa Giêsu được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Ở đây, cấu trúc câu được sử dụng thì quá khứ và ở trạng thái thụ động mang tính thần học: Thiên Chúa [Chúa Cha] là đấng trao quyền thống trị cho Chúa Giêsu như là Con Người. Quyền này là quyền của Nước Thiên Chúa (x. Dan 7:14; 2 Bns 36:23; Mt 6:10). Việc sai đi được đặt trong thì hiện tại, liên quan đến vấn đề hiện tại. Nó bao gồm một mệnh lệnh tổng quát ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ và sau đó là hai mệnh đề phụ, đó là (1) làm phép rửa và (2) dạy bảo. Hai mệnh đề phụ này giải thích về mệnh lệnh tổng quát phải được thực hiện như thế nào. Việc rao giảng của các môn đệ phải nhắm đến muôn dân. Đây chính là lời mời gọi phổ quát áp dụng cho mọi người bao gồm mọi văn hoá, và ngay cả những người Do Thái, là những người chưa là môn đệ của Chúa Giêsu. Sau mệnh lệnh mang tính cụ thể trong Mt 10:16 và 15:24, mệnh lệnh này được đưa ra như một cái gì đó rất ngạc nhiên cho các môn đệ. Tuy nhiên, sứ mệnh cho dân ngoại đã được ám chỉ trong Mt 2:1-12; 4:15-16,23-25; 26:13. Điểm đáng lưu ý khác là công thức “Ba Ngôi” của phép rửa. Công thức này có thể có nguồn gốc trong Cựu Ước trong hình thức “Ba Ngôi” mang tính khải huyền trong sách Đanien: Đức Chúa, Con Người hoặc Đấng được chọn, và Thiên Thần (x. Đn 7; Ez 1). Ở đây, chúng ta thấy vấn đề cắt bì không được đề cập đến, có thể bởi vì vấn đề được giải quyết và thuật lại trong sách Công Vụ Các Tông Đồ (15:1-29).
Tương lại của các môn đệ luôn có Chúa Giêsu hiện diện. Các môn đệ sẽ tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu, qua đó đặt nền tảng cho nền giáo dục, thần học và những công việc trí tuệ khác mang tính Kitô giáo. Nội dung chính của việc giảng dạy của họ là những trình thuật chính trong Tin Mừng Thánh Mátthêu [những gì Chúa Giêsu đã truyền cho họ], nhất là Bài Giảng Trên Núi [Tám Mối Phúc Thật] vì nó giải thích toàn bộ Cựu Ước. Toàn bộ công việc rao giảng rất khó khăn nên câu cuối cùng của Tin Mừng là lời hứa về một sự nâng đỡ cho tương lai, “Thầy ở cùng anh em.” Công thức khế ước này tạo thành một inclusio (tổng hợp) với Mt 1:23 [x. 18:20). Chúa Giêsu là Emmanuel, là sự hiện diện của Thiên Chúa (shekinah) với dân của Ngài trong khi họ quyết định, học hỏi, cầu nguyện, rao giảng, làm phép rửa và giảng dạy. Món quà của Chúa Thánh Thần không được nêu lên cách rõ ràng, ngược với Tin Mừng Thánh Gioan (20:22) và Công Vụ Tông Đồ (2:1-4), nhưng trong các thư của Thánh Phaolô, Chúa Thánh Thần là sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa chúng ta (x. 2 Cr 3:17). Chúa Giêsu không ở với các môn đệ cho đến khi họ kết thúc việc giảng dạy của họ trên trần gian, nhưng cho đến “tận thế.” Thuật ngữ “tận thế” ám chỉ đến việc Nước Thiên Chúa đến trong sự hoàn thành của nó.
Lm. Anthony, SDB.
……………………….
Suy Niệm 3: GIÁO HỘI THI HÀNH SỨ VỤ MỚI
A. DẪN NHẬP
Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người chịu chết trên thập tự để chuộc tội cho lòai người, để con người được quyền làm con Chúa và được thừa hưởng Nước Trời. Ngài đã đi rao giảng Tin mừng Nước Thiên Chúa, chiêu tập môn đệ, thành lập Giáo hội để tiếp nối công việc của Ngài ở trần gian. Sau khi đã hòan tất sứ mạng một cách hòan hảo, Đức Giêsu trở về cùng Chúa Cha để được hưởng vinh quang mà Cha đã dành cho Ngài. Hôm nay là lễ Thăng Thiên và cũng là ngày bàn giao quyền năng và sứ mạng của Ngài cho các môn đệ và Giáo hội.
Trước khi từ giã các Tông đồ đi về cùng Chúa Cha, Đức Giêsu trao lại sứ vụ của Ngài cho các ông là loan báo Tin mừng cho muôn dân. Tuy Đức Giêsu hứa sẽ ở cùng các ông cho đến ngày tận thế nhưng Ngài không trực tiếp giảng dạy được mà phải nhờ đến các ông và Giáo hội. Từ đó, Giáo hội phải nhận lấy trách nhiệm tiếp nối công trình của Ngài như Ngài đã dạy :”Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”.
Hiệp thông với các môn đệ được chứng kiến việc Chúa lên trời, ta cùng mang lấy tâm tình và bắt chước công việc các ông sau khi Chúa về trời, đó là “Chúa về trời, ta vào đời”. Ta phải vào đời để làm tròn sứ mạng Chúa đã trao phó cho chúng ta, đó là “Làm cho muôn dân trở nên môn đệ của Chúa”(Mt 28,20) bằng đời sống chứng nhân của mình. Đồng thời hãy vui mừng phấn khởi với lời hứa của Chúa :”Thầy ra đi để dọn chỗ cho các con… để Thầy ở đâu, các con sẽ ở đó với Thầy”. Thiên đàng là quê hương của chúng ta, nơi Chúa đang chờ đợi. Nhưng dầu sao chúng ta phải nỗ lực không ngừng để tiến tới nơi đó vì “Nuớc Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh”(Mt 11,12; Lc 16,16).
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Cv 1,1-11.
Bài đọc 1 được rút ra từ sách Công vụ Tông đồ của thánh Luca và cũng là tác giả của sách Tin mừng thứ ba. Thánh Luca cho biết Chúa Giêsu kết thúc công việc mà Chúa Cha đã trao phó cho Ngài, nay Ngài về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Trước khi về trời Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ hai điều :
* Thứ nhất Ngài hứa ban Chúa Thánh Thần cho các ông. Hãy tin tưởng chờ đợi.
* Thứ hai Ngài trao cho họ sứ mạng làm chứng cho Ngài trên khắp cùng trái đất.
+ Bài đọc 2 : Ep 1,17-23.
Trong thư gửi cho tín hữu Êphêsô, thánh Phaolô cầu xin Chúa Cha ban cho các tín hữu thần khí khôn ngoan để nhận biết mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, và mở trí lòng ra mà hiểu rõ đâu là niềm hy vọng mà họ đã lãnh nhận. Đức Kitô đã được trỗi dậy từ cõi chết, lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và được làm chúa muôn vật :”Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh, mà Hội thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1,23).
+ Bài Tin mừng : Mt 28,16-20.
Thánh Matthêu kết thúc sách Tin mừng của Ngài bằng một bài ngắn gọn tường thuật việc Chúa Giêsu từ giã các môn đệ mà về trời. Ý chính của bài Tin mừng này cũng giống như bài trích sách Công vụ tông đồ hôm nay : Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ hãy tiếp nối công trình của Ngài.
Tuy Ngài không hiện diện để các ông trông thấy hay nghe thấy nhưng Ngài sẽ hiện diện bằng một cách thế mới để hoạt động trong Hội thánh. Ngài sẽ còn ở lại với Hội thánh cho đến ngày tận thế. Phần các ông ở lại, hãy thực hiện lời Chúa :”Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Chúa về trời, ta vào đời
I. ĐỨC GIÊSU VỀ TRỜI
Sau khi sống lại, Đức Giêsu liên tiếp hiện ra với các môn đệ để vừa xác nhận việc Ngài sống lại vừa để bổ túc việc dạy dỗ các ông.
Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ trong thời gian bao lâu ? Thánh Luca cho biết là 40 ngày (các sách ngụy thư nói đến 50 ngày hay 18 tháng), một thời gian khả dĩ cần thiết để kiện tòan việc dạy dỗ các Tông đồ.
Hôm nay Đức Giêsu quyết định ra đi vĩnh viễn trong một cuộc hiển linh đầy quyền năng, một cuộc Thăng thiên về nhà Cha trên trời. Có người cho rằng đây là lần hiện ra lần sau hết với 500 môn đệ để mọi người chứng kiến việc Chúa lên trời. Nhưng trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Matthêu cho biết chỉ có 11 Tông đồ qui tụ về Galilê để được dạy dỗ và chứng kiến việc Chúa lên trời. Sở dĩ chỉ có 11 Tông đồ vì Giuđa đã phản bội Chúa, đáng lẽ phải hối hận và đi tìm gặp Chúa đệ tạ lỗi thì lại đi thắt cổ tự tử (Mt 27,5).
Thánh Matthêu cho biết tiếp :”Mười một môn đệ đi tới Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã hẹn với các ông” (Mt 28,16). Trong Thánh Kinh, núi là nơi mang một tính chất thiêng liêng. Theo thánh Matthêu, các bản văn, lề luật quan trọng đều được ban ra từ trên núi như Thập giới, Tám mối phúc thật (Mt 5,1), Biến hình (Mt 17,1). Núi là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, để tôn vinh và thờ lạy.
Khi thấy Đức Giêsu “Các ông phục lạy Ngài”(Mt 28,17). Thánh Matthêu có ý dùng chữ “Phục lạy”. Động từ này có ý nghĩa thần học chính xác. “Phục lạy” chỉ được dùng cho những ai đã nhận biết phẩm vị của Đức Giêsu và nhìn nhận phẩm vị này qua cử chỉ đó như ba nhà Đạo sĩ đến triều bái Chúa Hài nhi (Mt 2,11), người phung cùi được sạch (Mt 8,2), các môn đệ trên thuyền (Mt 14,33), người đàn bà xứ Cana (Mt 15,25). Hôm nay các ông thờ lạy cách kính cẩn hơn nữa vì Ngài huy hòang trong ánh sáng Phục sinh, vì nơi Ngài “Mọi quyền năng trên trời dưới đất được trao phó”. Tuy nhiên, cũng có mấy ông còn hòai nghi, nhưng không nói rõ tên ai.
Đức Giêsu tiến lại gần họ và phán :”Mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được ban cho Thầy. Các con hãy đi giảng dạy muôn dân”(Mt 28,18). Đức Giêsu đã chính thức trao quyền hành và sứ mạng của Ngài cho các ông để tiếp tục hòan thành. Hôm nay Đức Giêsu ra đi nhưng là ngày các môn đệ lên đường, họ có nhiệm vụ đi chinh phục thế giới. Chinh phục bằng lời giảng dạy, chinh phục bằng phép rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi : Cha, Con và Thánh Thần.
Hôm nay, sau cuộc bàn giao, Đức Giêsu lên trời, các môn đệ phấn khởi nhìn theo, nhưng các ông còn nghe văng vẳng bên tai lời Chúa kết thúc Tin mừng :”Này đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”(Mt 28,20). Rồi họ xuống núi trở về xây dựng Giáo hội, làm cho Giáo hội thêm vững mạnh và phát triển chờ đợi Ngày Chúa lại đến.
Giáo hội của Chúa sẽ đứng vững kiên cường không một thế lực nào có thể làm sụp đổ như lời sử gia Ba lan, ông Henryk Sienkievick, nói :”Các bạo Chúa cùng với triều đại của họ đều lần lượt tiêu tan – Nhưng con thuyền của người dân chài Galilê cầm lái vẫn hiên ngang lướt sống”. Đấng là chủ con tầu đã chẳng từng nói đó sao (Mt 16,18) ?
II. CHÚNG TA VÀO ĐỜI
- Chúa về trời
a) Chúa Giêsu về với Cha
Nhiều lần Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ là Ngài sẽ về cùng Cha, Ngài hay nhắc đến Cha Ngài, đến nỗi ông Philipphê đã thưa với Ngài :”Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14,8).
Sau khi hoàn thành sứ mạng của Cha giao phó là chịu chết chuộc tội cho nhân loại và sống lại để phục hồi cho con người sự sống mới, thì Chúa Giêsu đã lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và được đặt làm chủ tể muôn loài :”Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giêsu Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Ngài lên trời” (Cv 1,11).
Hôm nay chúng ta mừng lễ Chúa lên trời hay mừng lễ Thăng thiên. Theo chữ Nho thì “Thăng” là lên và “Thiên” là trời. Xét theo nghĩa chữ thì “thăng thiên” chính là “lên trời”. Thế nhưng tại sao Ngài lại nói rằng “Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” ? Nói như vậy là Chúa vẫn còn ở với chúng ta chứ đâu có “lên trời” !
Chúng ta phải lưu ý đến cách viết của tác giả Matthêu. Ngài đã dùng từ không theo sát nghĩa đen, nhưng theo nghĩa mà người dân quen hiểu. Theo đó, cái gì cao thì gọi là “trời”, cái gì thấp thì gọi là “đất”, tình trạng tiến khá hơn thì gọi là “lên”, lùi tệ hơn thì nói là “xuống”. Như thế, “thăng thiên” hay ‘lên trời” không chỉ một chuyển động trong không gian, mà chỉ một tình trạng tốt hơn trước.
Ngày xưa, Đức Giêsu nhập thế thì được diễn tả là “giáng trần” hay “xuống đất”. Hôm nay Ngài trở về tình trạng vinh quang với Chúa Cha thì được diễn tả là “lên trời”. Bởi vì, Đức Giêsu chỉ thay đổi tình trạng thôi cho nên dù bây giờ Ngài vinh quang, Ngài vẫn ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, chứ không phải Ngài lên “ở trên trời” và để chúng ta phải mồ côi “ở dưới đất”.
Lễ Thăng thiên đánh dấu sự thay đổi tình trạng của Đức Giêsu. Hình dung Đức Giêsu đang bay lên giữa các tầng mây, hay đang ngồi bên phải Chúa Cha chỉ là những cách tưởng tượng. Những hình ảnh tưởng tượng này có cụ thể với đầu óc bình dân đấy, nhưng gây tai hại là khiến người ta nghĩ rằng Đức Giêsu đã xa cách loài người.
Chúng ta phải đi xa hơn những hình ảnh tưởng tượng kia để đạt đến ý nghĩa đích thực của việc thăng thiên : đó là Đức Giêsu đã lấy lại vinh quang, Ngài vẫn còn ở bên cạnh chúng ta luôn mãi, và nhờ vinh quang, Ngài sẽ hỗ trợ đặc biệt cho chúng ta (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 215).
b) Có thiên đàng không ?
Chúa Giêsu về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha, đó là phần thưởng Cha dành cho Ngài sau khi đã hoàn thành sứ mạng được giao phó. “Lên trời” hay “lên thiên đàng” cũng là một , chỉ khác từ ngữ, còn ý nghĩa vẫn như nhau. Vậy Chúa Giêsu lên trời cũng có nghĩa là lên thiên đàng.
Trước đây Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ việc Ngài ra đi và đi để làm gì trong bài Tin mừng Chúa nhật 5 vừa qua :”Anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thày, có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3).
Chúa Giêsu đi dọn chỗ cho chúng ta ở đâu, nếu không phải là ở thiên đàng ? Đúng vậy, Chúa Giêsu lên trời tức là lên thiên đàng như ở trên chúng ta đã nói. Do đó, chúng ta đặt ra hai vấn đề :
* Thiên đàng thế nào ?
Ta không biết rõ Thiên đàng như thế nào, nhưng ta chỉ biết đó là nơi ta sẽ được thấy Thiên Chúa nhãn tiền và được hạnh phúc vô cùng. Những người đã được nếm thử cảnh hạnh phúc thiên đàng nói lại cho ta điều họ thử nghiệm như sau :
Các Tông đồ ngây ngất nhìn về trời khi Chúa Giêsu được cất lên khỏi mặt đất, đến nỗi phải có hai thiên thần đến thức tỉnh các ông (Cv 1, 9-10).
Ba môn đệ Phêrô, Giacôbê và Gioan ngây ngất nhìn Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê (Mt 17,1tt).
Còn thánh Phaolô thì thốt lên như sau :”Người ấy đã được nhắc lên đến tận tầng trời thứ ba. Và tôi biết rằng người ấy – hoặc trong thân xác hoặc ở ngoài thân xác, tôi không biết, có Thiên Chúa biết – đã được nhắc vào Thiên đàng và được nghe những lời khôn tả, người phàm không được phép nói lại”(2Cr 12,2-4).
Thiên đàng như thế nào không ai biết và nếu có biết thì không thể nào diễn tả được, cứ lên thiên đàng rồi sẽ biết.
* Thiên đàng ở đâu ?
Ta dùng hai từ “lên thiên đàng” và “xuống hỏa ngục”, hai từ ấy gợi cho chúng ta cái ý nghĩ về một không gian vật chất có thể trông thấy được, sờ mó được . Nhưng đúng ra, thiên đàng hay hỏa ngục chỉ là một trạng thái của tâm hồn. Tâm hồn ta có thể là thiên đàng, cũng có thể là hỏa ngục. Nếu thi sĩ Nguyễn Du nói “Thiện tâm ở tại lòng ta” thì ta cũng có thể nói :”Thiên đàng hỏa ngục ở ngay trong lòng ta”.
Truyện : Không có thiên đàng
Chính vì hiểu Thiên đàng là không gian vật chất nên ông Kroutchev, thủ tướng của Liên xô cũ, đã nói với ký giả C. Sulberger ngày 5.9.1961 rằng :”Để điều tra trên trời có Thiên đàng thật như người ta nói hay không, chúng tôi đã gửi một thám tử lên không trung, anh YOURI GAGARINE. Anh đã đi vòng quanh quả địa cầu, mà chỉ trông thấy những bóng đen dầy đặc. Không có chi giống như thiên đàng cả. (Sau đó) chúng tôi đã suy nghĩ và chúng tôi đã gửi một thám tử khác lên : GERMAN TITOV. Chúng tôi đã bảo anh rằng :”Hãy bay lâu hơn một chút nữa. Có lẽ Gagarine chưa trông thấy thiên đàng, vì chàng chỉ mới bay có một tiếng rưỡi thôi. Vậy chuyến này anh hãy trông cho kỹ”. Titov đã trẩy đi, rồi trở về, và anh đã xác nhận lời tuyên bố của Gagarine :”Hư vô ! Chỉ có hư vô”.
Rồi Kroutchev xoa tay kết luận :”Cho nên người Cộng sản chúng tôi không tin có đời sau”(Information catholique, ngày 1.10.1961, tr 14).
- Ta vào đời
Khi Chúa Giêsu về trời, các môn đệ ngây ngất nhìn lên trời để chiêm ngắm vẻ đẹp của Chúa Giêsu. Các ông đã quên trần gian, đến nỗi hai thiên thần phải hiện đến nhắc nhở cho các ông hãy quay về với thực tại, nghĩa là hãy quay về với đời sống hằng ngày, nhưng lòng vẫn hướng về trời. Vậy , Chúa đã về trời, còn chúng ta vào đời để làm gì ?
a) Để loan báo Tin mừng
Quang cảnh Chúa Giêsu lên trời đẹp quá, khiến các môn đệ còn ngước mắt lên trời nhìn theo. Các ông ước ao được hưởng vinh quang và vẻ đẹp của Chúa Giêsu như khi Ngài biến hình trên núi Taborê. Còn đang say sưa nhìn trời thì hai thiên thần hiện ra nhắc nhở cho các môn đệ “Sao các ông còn đứng nhìn trời” ? Điều này nhắc nhở cho các ông và mọi Kitô hữu hãy quay trở lại với thực tế trần gian để tiếp tục công trình cứu độ của Chúa Giêsu.
Vậy vào đời để tiếp tục sứ mạng của Chúa Giêsu là gì ? Ta hãy nghe lời nhắc nhở sau cùng của Chúa Giêsu trước khi từ giã các ông :”Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy sẽ ở cùng anh em cho đến tận thế”(Cv 1,11).
- b) Để chuẩn bị về quê trời
Ngày lễ Thăng thiên hôm nay nhắc nhở chúng ta sống tốt lành và hướng lòng ta về trời là quê hương, như thánh Phaolô nói :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người”(Pl 3,20-21).
Quê trời là niềm hy vọng của chúng ta, là động lực khuyến khích chúng ta chấp nhận một cuộc sống đầy gian nan ở trần gian này, nếu không thì những cố gắng của chúng ta sẽ trở nên vô ích. Thánh Ambrôsio nói :”Nếu Chúa chết đi mà không sống lại thì mọi tin tưởng của chúng ta đều là ảo tưởng (1Cr 15,17). Nhưng nếu Chúa sống lại mà không lên trời thì bao gian lao đau khổ chúng ta phải chịu vì Chúa phải cho là vô ích. Bởi vì, chúng ta sẽ lấy đà nào để chịu khó, nếu chúng ta không có hy vọng lên trời”.
Ai muốn lên thiên đàng thì phải yêu mến Chúa và yêu mến Chúa thì phải thi hành lời Chúa như Ngài đã phán :”Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các đều răn của Thầy” (Ga 14,15). Thi hành lời Chúa là phải đem ra thực hành các điều Chúa dạy ; điều này đòi hỏi mọi Kitô hữu phải cố gắng, phải hy sinh, phải dấn thân, phải nép mình vào mà đi qua cửa hẹp, bởi vì Chúa đã nói:”Không phải cứ kêu Lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai làm theo thánh ý Cha Ta ở trên trời” (Mt 7,21)
Việc lên trời là việc của từng người, mỗi người phải quyết định lấy, không ai có thể làm thay được. Chúa thương yêu chúng ta thật, nhưng Ngài không áp đặt chúng ta, Ngài không cưỡng chế chúng ta phải về trời, Ngài luôn tôn trọng quyền tự do của mỗi người. Nhưng dù sao, muốn lên thiên đàng cũng phải có điều kiện như người ta nói :
Lênh đênh trên cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.
(Ca dao)
Mỗi người phải khéo lèo lái con thuyền của mình trên biển trần gian này mới được yên ổn, giống như ở Thánh hóa, ngày xưa có cửa biển Thần Phù (bây giờ không biết có còn không), ở đó có dòng nước xoáy, rất nguy hiểm, người chèo qua đó phải rất cứng tay và khéo léo, nếu không sẽ bị chìm. Người ta lấy câu ca dao này để khuyên mọi người phải sống tốt lành để khỏi hư đi. Người ta rất khéo léo dùng chữ “tu” ở đây. Theo chữ Nho , chữ “tu” thì có nghĩa là “sửa”. Tu thân là sửa mình. Vậy ai khéo tu thân tích đức là người khéo chèo chống thì sẽ nổi, sẽ được rỗi ; còn ngược lại thì sẽ bị chìm, tức là phải trầm luân.
Truyện : Ai muốn lên thiên đàng ?
Một hôm, trong nguyện đường D.S, một vị giảng thuyết hỏi giáo dân :
– Những ai muốn lên thiên đàng hãy đứng lên.
Tất cả cử tọa đều nhất loạt đứng dậy, chỉ trừ một người : anh ta cứ ngồi yên hàng ghế bên cạnh. Vị giảng thuyết liền hỏi anh ta :
– Thế còn bạn, bạn muốn đi đâu ?
Chàng uể oải trả lời :
– Chả đi đâu cả ! Tôi muốn được lên Thiên đang ngay ở đây.
Những người muốn một đời sống dễ dàng thường quên mất sự kiện này là : để sống dễ dàng, họ đã ỷ lại nhờ vả kẻ khác làm công việc mà đáng lẽ chính họ phải thực hiện. Nói khác đi, họ muốn đi du lịch mà không mất tiền (J. Keller, báo Thẳng tiến, số 29, th 01/63).
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt
…………………..
Suy Niệm 4: Hãy nâng tâm hồn lên
Phải chăng chúng ta thực sự cần phải nâng tâm hồn lên hướng về trời khi trên trái đất này con người có một cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc vừa tầm tay với? Thế giới ngày nay muôn mầu muôn vẻ, hứa hẹn đủ điều. Khoa học và kỹ thuật đã giúp con người sống sung túc hơn, hạnh phúc hơn, tự do thoải mái hơn. Con người làm việc theo thời biểu và có nhiều thì giờ và phương tiện để giải trí. Trong những ngày nghỉ có thể đi du lịch đây đó, có dịp tiếp xúc làm quen với những nền văn hoá phong tục của các dân tộc khác. Nền y học tân tiến giúp chúng ta thắng vượt nhiều bệnh tật, giúp thân xác trở lại cường tráng như xưa! Trong nhiều lãnh vực luôn được cải thiện, đã có những bước nhảy vọt. Cuộc sống dễ dãi làm cho nhiều người chỉ biết sống hưởng thụ. Họ không cảm thấy mất mát chi khi thấy chim muông tự do bay lượn trên vòm trời. Cầu nguyện, đi nhà thờ là chuyện dư thừa!
Khi đưa mắt thoáng qua lãnh vực thông tin và truyền hình chúng ta sẽ có cảm nhận: Con người có khả năng biến tất cả thành hiện thực, tốt xấu lẫn lộn: Không những hạnh phúc, thành công, tình yêu và sự hiểu biết, mà còn cả hiếp dâm, loạn luân, giết người, cướp giật, thù ghét và bạo lực, … Thế giới ngày nay có thể ví như con tàu vũ trụ, được trang bị bằng những thiết bị và máy móc tân kỳ nhất với một phi hành đoàn tinh nhuệ, được đào tạo huấn luyện rất chu đáo, tỉ mỉ, … Con tàu chỉ thiếu một thứ duy nhất: Địa bàn, kim chỉ nam! Không ai biết rõ, con tàu sẽ đi về đâu. Albert Einstein, một bác học lỗi lạc người Đức, đã mô tả hiện trạng này như sau: “Chúng ta sống trong một thế giới với những phượng tiện hoàn hảo hơn nhưng mục đích hỗn độn hơn!”
Trong thực tế, bên cạnh những viễn tượng đầy hứa hẹn có những lúc con người sống trong hãi sợ và phải chịu đựng vì sức đè nén do sự vô nghĩa của kiếp người! Bởi vậy lễ Đức Giêsu lên trời không phải là chuyện dư thừa. Con người có khả năng biến tất cả thành hiện thực. Đó chính là ý nghĩa căn bản của ngày lễ hôm nay, nhưng chúng ta cần phải thêm vào một vài chữ tối ư quan trọng: ngay cả khả năng đạt đến một cuộc sống vĩnh cửu. Lẽ dĩ nhiên không chỉ do tài cán riêng tư. Đó chính là lý do để chúng ta hân hoan vui mừng, để cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những ân huệ Ngài ban. Thiên Chúa phán ngay từ lúc khởi đầu công cuộc sáng tạo: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, …” Và Ngài nói như thế với mỗi một người trong chúng ta khi chúng ta được hình thành trong bào thai. Tôi chính là hình ảnh của Thiên Chúa và những người khác cũng vậy. Mỗi người đều có nhân phẩm, cho dù người đó là ai: bệnh nhân cũng như người khoẻ mạnh, người tàn tật cũng như những thai nhi, … Nhưng tất cả có liên quan gì đến lễ Đức Giêsu lên trời mà chúng ta cùng với toàn thể Giáo hội mừng kính hôm nay?
Con người có khả năng biến tất cả thành hiện thực, ngay cả phúc trường sinh. Bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta đưa mắt hướng về trời cao. Từ biến cố Đức Giêsu phục sinh và lên trời thì cuộc sống tại thế đối với con người không còn đơn lẻ bởi vì một sự kiện tốt quan trọng đã diễn ra trên trời. Qua Đức Giêsu con người sống dưới một bầu trời rộng mở. Chúng ta không còn phải sống gò bó trong khuôn khổ đầy giới hạn của kiếp người. Chúng ta có thể hướng về vô tận, hướng về một tương lai tươi sáng như Đức Giêsu đã hứa ban. Chúng ta cảm nghiệm được sự ân huệ lớn lao khi được làm người. Bởi vì Đức Giêsu đã chuẩn bị cho mỗi người một chỗ ở bên Chúa Cha cho nên quê hương đích thực của chúng ta là quê trời. Ân huệ này không có sức mạnh nào có thể đoạt đi, cho dù là bệnh tật, thất bại, vấp té, … Thiên Chúa đã ban cho con người khả năng đạt tới phúc thiên đàng. Đó là điều chúng ta phải am tường. Thánh Phaolô đã cầu chúc chúng ta như thế khi ngài viết: “Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh …“
“Hãy nâng tâm hồn lên“ – Đây chính là lời mời gọi tha thiết của Giáo hội mỗi lần chúng ta tham dự thánh lễ. Bởi vì chỉ trong tư thế sẵn sàng này niềm hy vọng trong tâm hồn chúng ta mới mỗi ngày một phát triển. Chúng ta ý thức mình đi đâu và đâu là nơi Đức Giêsu muốn dẫn chúng ta tới.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức
