Thêm

    CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN.

    BÀI ĐỌC I: Hc 27, 33 – 28, 9

    Thịnh nộ và giận dữ, cả hai đều đáng ghê tởm, người có tội đều mắc cả hai. Ai muốn báo thù, sẽ bị Chúa báo thù, và Chúa nghiêm trị tội lỗi nó. Ngươi hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha. Người này tích lòng giận ghét người kia, mà dám xin Chúa cứu chữa sao? Nó chẳng thương xót người đồng loại với nó, mà còn cầu xin tha thứ tội lỗi nó làm sao? Nó là xác thịt mà tích lòng thịnh nộ, thì dám xin Chúa tha thứ làm sao? Ai sẽ khẩn cầu cho tội ác nó? Ngươi hãy nhớ đến điều sau hết, và chấm dứt hận thù: hãy nhớ đến sự hư nát và sự chết, hãy trung thành với các giới răn. Hãy nhớ kính sợ Thiên Chúa, và đừng giận ghét kẻ khác. Hãy nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao, và hãy bỏ qua sự lầm lỗi của kẻ khác.

    BÀI ĐỌC II: Rm 14, 7-9

    Anh em thân mến, không ai trong anh em được sống cho mình, và cũng không ai chết cho mình. Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa; nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Vậy, dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Vì lẽ ấy, nếu Đức Kitô đã chết và sống lại, là để cai trị kẻ sống và kẻ chết.

    PHÚC ÂM: Mt 18, 21-35

    Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không?” Chúa Giêsu đáp: “Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy. “Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả”. Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y. “Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: “Hãy trả nợ cho ta”. Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: “Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh”. Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong. “Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến vào bảo rằng: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?” Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ. “Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình”.

    Suy Niệm 1:  BẢY MƯƠI LẦN BẢY!

    “Ngươi hãy nhớ đến điều sau hết, và chấm dứt hận thù: hãy nhớ đến sự hư nát và sự chết, hãy trung thành với các giới răn. Hãy nhớ kính sợ Thiên Chúa, và đừng giận ghét kẻ khác. Hãy nhớ đến giao ước của Ðấng Tối Cao, và hãy bỏ qua sự lầm lỗi của kẻ khác” (x. Hc 27,33-28,9). Giáo huấn ngay trong Cựu ước đấy. Hãy tha thứ, hãy chấm dứt hận thù, đừng giận ghét nữa! Chúng ta đừng nghĩ về thời Cựu ước chỉ như là thời của “mắt đền mắt, răng đền răng”.
    Lý do hay động lực của sự tha thứ là chính lòng kính sợ Thiên Chúa và sự khôn ngoan của kẻ biết nhìn xa trông rộng. Cuối cùng, tất cả sẽ qua đi, chỉ Thiên Chúa và tình yêu thương xót của Ngài mới vững bền – như nhận thức và kinh nghiệm được chuyển tải trong Thánh vịnh 102: “Chúa là Ðấng từ bi và hay thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan nhân … Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa theo điều oan trái chúng tôi… Cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân hậu Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi”… Lý do và động lực thâm sâu hơn nữa của sự tha thứ, đó là: chính chúng ta đã được Thiên Chúa thứ tha vô hạn!
    Giáo huấn về tha thứ, nhất là lý do thâm sâu của nó như vừa đề cập trên, được Chúa Giêsu xác nhận một cách rõ ràng và mạnh mẽ trong bài Tin Mừng hôm nay. Phải tha thứ không giới hạn và không điều kiện, ý nghĩa của kiểu nói “bảy mươi lần bảy”! Và phải luôn nhớ rằng chính mình đã được tha thứ trước một cách vô cùng quảng đại (dụ ngôn về người đầu tớ độc ác) (x. Mt 18,21-35).
    “Xin Cha tha cho chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ với chúng con” – Chúa Giêsu đã dạy ta cầu xin như thế, và mỗi ngày chúng ta vẫn cầu xin nhiều lần như thế… Thật ý nghĩa, vì không có lời cầu nguyện nào đặc trưng cho đạo của chúng ta cho bằng Kinh Lạy Cha.
    Cuối cùng, sự tha thứ của Thiên Chúa dành cho chúng ta đã được thực hiện qua cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô, nghĩa là đã được trả giá đắt nhất. Vì thế, chúng ta không còn lý do để thoái thác điều Chúa đề nghị với mình, đó là sống và chết cho Chúa, chứ mình không còn thuộc về mình nữa (x. Rm 14,7-9). Sống và chết cho Chúa, điều này trước hết bao hàm khả năng tha thứ đối với anh chị em, đối với mọi người, ngay cả những người chống lại chúng ta!
    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
    …………………….
    Suy Niệm 2: THA THỨ VÔ ĐIỀU KIỆN

    Ai trong chúng ta cũng đã có lần tha thứ cho anh chị em mình, hoặc nhận được sự tha thứ của người khác. Như chúng ta biết, tha thứ và tình yêu như hai mặt của một đồng tiền: Tình yêu chân thật luôn đòi hỏi sự tha thứ vô điều kiện. Đây chính là đề tài chính của lời Chúa hôm nay. Trong bài đọc 1, tác giả sách Đức Huấn Ca, nói đến sự tha thứ. Tuy nhiên, chi tiết đầu tiên làm chúng ta suy gẫm là tác giả sách Đức Huấn Ca chỉ ra đâu là biệt tài của những kẻ tội lỗi, đó là “oán hờn và giận dữ” (Hc 27:30). Hai điều này là “những điều ghê tởm.” Dẫu biết là “những điều ghê tởm,” nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn không chịu tránh xa. Chúng ta vẫn giữ sự oán hờn và giận dữ với anh chị em mình. Làm sao chúng ta có thể được chữa lành những vết thương giận hờn khi chúng ta cứ nuôi lòng hờn giận: “Kẻ báo thù sẽ chuốc lấy báo thù của Đức Chúa, tội lỗi nó, Người xem xét từng ly. Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin Đức Chúa chữa lành! Nó chẳng biết thương người đồng loại, mà lại dám xin tha tội cho mình! Nó chỉ là người phàm mà để tâm thù hận, thì ai sẽ xin tha tội cho nó?” (Hc 28:1-5). Những lời này chỉ cho chúng ta biết cách thức hành xử với anh chị em mình: Khi chúng ta không có lòng khoan dung tha thứ với anh chị em mình, thì làm sao chúng ta có thể mong chờ được Thiên Chúa tỏ lòng khoan dung và tha thứ vì chính chúng ta đã từ chối điều đó trong cuộc đời mình. Điều này sẽ được làm sáng tỏ trong bài Tin Mừng hôm nay. Chúng ta cần nhớ rằng, ai trong chúng ta cũng sẽ có ngày từ giã cõi đời, tại sao lại không chấm dứt hận thù sớm để sống những ngày tháng an vui, bình yên? (x. Hc 28:6-7). Người không tha thứ cho người khác là người sống bất an.

    Về phần mình, Thánh Phaolô trong bài đọc 2 chỉ cho các tín hữu Rôma biết đâu là tâm điểm cuộc sống của họ, đó là Thiên Chúa. Dầu sống hay chết, mỗi người chúng ta đều thuộc về Thiên Chúa: “Thưa anh em, không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa; vì Đức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14:7-9). Những lời này mang cho chúng ta sự an ủi và thách đố: An ủi vì chúng giúp chúng ta biết rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta vì dù sống hay chết chúng ta vẫn thuộc về Ngài; thách đố vì chúng mời gọi chúng ta sống cuộc sống thế nào để mãi vẫn thuộc về Ngài, ngay cả khi chúng ta chết. Tóm lại, qua lời dạy của mình, Thánh Phaolô muốn nhấn mạnh rằng, sự sống và sự chết của chúng ta sẽ trở nên vô nghĩa nếu không gắn kết với Đức Kitô.

    Tin Mừng hôm nay thuật lại dụ ngôn về người đầy tớ không tha thứ. Câu chuyện này cũng là câu trả lời của Chúa Giêsu cho câu hỏi của Phêrô về “số lượng” của tha thứ và câu trả lời của Chúa Giêsu chỉ ra cho chúng ta không chỉ quan tâm đến “số lượng” của tha thứ mà còn cả “chất lượng” nữa. Trong trình thuật này, Thánh Matthêu biến lời dạy của Chúa Giêsu trong nguồn Q thành cuộc đối thoại giữa Phêrô và Chúa Giêsu. Trong cuộc đối thoại này, chúng ta sẽ chứng kiến sự tự phụ mang tính ngạo mạn của Lamech trong sách Sáng Thế bị đảo ngược (x. St 4:15,24). Dụ ngôn đi kèm chỉ nhằm mục đích làm sáng tỏ lời dạy này. Theo các học giả Kinh Thánh, dụ ngôn là một bài giảng midrash về những lời dạy trong Mt 6:12,14-15. Dụ ngôn này được viết ra bởi chính thánh sử để làm cho một phần của lời kinh Lạy Cha được trở nên rõ ràng cho dân chúng [“và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”]. Cuộc đối thoại bắt đầu với câu hỏi của Phêrô: “Thưa Ngài, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải đến bảy lần không?” (Mt 18:21). Chúa Giêsu trả lời Phêrô rằng: “Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy’” (Mt 18:22). Trong câu hỏi của mình, Phêrô đổi ngược điều được nói trong việc báo thù cho Cain: “Đức Chúa phán với ông: ‘Không đâu! Bất cứ ai giết Cain sẽ bị trả thù gấp bảy’” (St 4:15). Trong câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy sự tự phụ mang tính ngạo mạn của Laméc bị đổi ngược từ báo thù đến tha thứ: “Cain sẽ được báo thù gấp bảy, nhưng Laméc thì gấp bảy mươi bảy!” (St 4:24). Nhìn từ khía cạnh này, Chúa Giêsu không đơn giản nhắm đến số lượng và chất lượng của việc tha thứ, mà là việc thay thế thù hận bằng việc tha thứ. Thật vậy, khuynh hướng tự nhiên của con người là giữ trong lòng thù hận. Nếu có tha thứ thì tính toán bao nhiêu lần. Lời dạy của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tha thứ hoàn toàn, trọn vẹn. Điều này được diễn tả trong con số 7, con số mà trong tư tưởng của người Do Thái là con số hoàn hảo, tròn đầy. Ngài mời gọi chúng ta không giữ lòng hận thù. Nếu có người anh chị em nào đó xúc phạm đến mình, chúng ta sẵn sàng tha thứ cho họ. Chúng ta tha thứ cho người khác không phải chỉ vì họ đáng được tha thứ, nhưng vì chúng ta đáng được hưởng sự bình an.

    Dụ ngôn Chúa Giêsu sử dụng để làm sáng tỏ lời dạy của mình là dụ ngôn về Nước Trời. Trong dụ ngôn, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh người “đầy tớ” trong tương quan với vua. Thuật ngữ “đầy tớ” ở đây được sử dụng trong Cựu Ước ám chỉ đến những người làm trong triều đình hoặc những thừa tác viên tôn giáo. Tuy nhiên, trong dụ ngôn người đầy tớ có thể ám chỉ đến những người thu thuế hoặc quản gia. Hình ảnh đáng để chúng ta lưu ý là sự tương phản giữa khoản nợ của người đầy tớ nợ vua và của người đồng bạn nợ người đầy tớ, giữa lòng thương xót của vua và lòng thương xót của người đầy tớ. Cụ thể hơn, chúng ta thấy người đầy tớ nợ vua một khoản rất lớn [“mười ngàn yến vàng”]. Một khoản nợ mà ngay cả bán hết tất cả những gì người ấy có để trả nợ: “Y không có gì để trả, nên tôn chủ ra lệnh bán y, vợ con y, cùng tất cả tài sản mà trả nợ” (Mt 18:25). Còn người đồng bạn của người đầy tớ mắc nợ chỉ một khoản nhỏ [“một trăm quan tiền”] so với khoản nợ của người đầy tớ. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về khoản nợ [tình yêu và tha thứ] mà chúng ta nợ Thiên Chúa lớn gấp nhiều lần so với khoản nợ mà anh chị em nợ chúng ta. Khi không nhận ra điều này, chúng ta sẽ không mở rộng cõi lòng để tha thứ cho người khác. Chi tiết này được chứng minh trong thái độ của người đầy tớ với đồng bạn của mình. Chúng ta lưu ý đến hành động của người đầy tớ trước mặt vua và người bạn đồng hành trước mặt người đây tớ là giống nhau: “sấp mình xuống van xin” (Mt 18:26,29). Cũng hành động này, nhưng làm cho vị vua “chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ” (Mt 18:27), còn người đầy tớ thì “túm lấy, bóp cổ mà bảo: ‘Trả nợ cho tao!’” (Mt 18:28). Điều này cũng thường xảy ra trong cuộc sống của chúng ta. Cùng một hành động, nhưng có những phản ứng khác nhau, lệ thuộc vào cõi lòng chúng ta dành cho người khác. Chúng ta có đóng cửa lòng mình, không tha thứ cho người khác khi họ đến nài xin không?

    Chi tiết cuối cùng chúng ta có thể suy gẫm là cấu trúc của dụ ngôn. Dụ ngôn bắt đầu với vị vua và người đầy tớ, kế đến là giữa những người đầy tớ của vua, và kết với việc trở lại với vị vua và người đầy tớ. Đây là cấu trúc “bánh mì kẹp” quen thuộc: Mở và kết giống nhau. Tuy nhiên, hành động của vị vua trước và sau có thay đổi: trước vị vua tỏ lòng thương xót – sau vị vua xét xử theo lẽ công bình. Sự thay đổi này lệ thuộc vào việc đối xử của người đầy tớ dành cho đồng bạn của mình. Chi tiết này cho chúng ta thấy rằng kết cục của chúng ta trước mặt Thiên Chúa lệ thuộc vào việc chúng ta đối xử với anh chị em của mình như thế nào. Dụ ngôn mời gọi chúng ta bắt chước lòng thương xót của Thiên Chúa trong cách cư xử với anh chị em mình.

    Lm. Anthony, SDB.

    ……………………..

    Suy Niệm 3: HÃY THA THỨ CHO NGƯỜI KHÁC


    A. DẪN NHẬP

    Không ai trong chúng ta là người hoàn toàn trong sạch trước mặt Chúa.  Không ai dám tự hào nói  mình không hề lỗi phạm đến Chúa. Trái lại, phải thành thực mà nói, ai cũng đã phạm đến Chúa rất nhiều, nhưng Chúa lại rộng lòng tha thứ cho sự yếu đuối của chúng ta.

    Nếu Chúa đã tha thứ cho chúng ta thì, như Chúa dạy, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau.  Chúa Giêsu đã nói :”Khi con đi dâng lễ vật trên bàn thờ mà sực nhớ có người anh em  đang bất hoà với con, thì hãy để lễ vật lại, trở về làm hòa với người anh em ấy trước đã, rồi mới trở lại dâng lễ vật sau”.  Đó là cách nói mạnh, nhằm khuyến khích chúng ta tha thứ cho người khác như Chúa đã tha cho chúng ta.

    Hơn nữa, nếu chúng ta có tha thứ cho người khác thì Cha trên trời mới tha thứ cho chúng ta, đó là một điều kiện bắt buộc phải có khi chúng ta cầu nguyện :”Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

              +  Bài đọc 1 : Hc 27, 30 – 28.7.

    Ông Ben Sira, tác giả sách Huấn ca, khuyên người ta phải biết tha thứ. Ông đưa ra những lý do bênh vực cho sự tha thứ :

    – Ai báo thù phải chuốc lấy báo thù của Chúa.
    – Ai bỏ qua điều sai trái cho người khác, Chúa sẽ tha tội cho.
    – Nếu nuôi lòng oán thù thì làm sao dám xin Chúa tha thứ cho mình.
    – Hãy nghĩ đến điều sau hết, tức là cái chết, để chấm dứt hận thù.
    – Và sau cùng, hãy nghĩ đến giao ước của Chúa, tức là giao ước yêu thương, để bỏ qua sự lầm lỗi của kẻ khác.

              +  Bài đọc 2 : Rm 14,7-9.

    Thánh Phaolô nhận thấy tín hữu Rôma hay phê bình chỉ trích nhau vì họ không có cùng một quan niệm về nhiều vấn đề, ví dụ như ăn của cúng hay là tin vào ngày tốt xấu…  Ngài cho họ biết là mọi người chỉ có Đức Kitô là đối tượng duy nhất để tin theo.  Chúng ta có sống hay chết cũng là sống chết cho Chúa. Cũng như chỗ khác Ngài khẳng định : Sống của tôi là Đức Kitô. Như vậy Ngài có ý khuyên : đừng để ý đến người khác, cũng đừng để ý đến mình, nhưng tất cả hãy qui chiếu vào Chúa Kitô.

              +  Bài Tin mừng : Mt 18,21-35.

    Ông Phêrô tỏ ra hào hiệp khi hỏi Chúa Giêsu : khi anh em xúc phạm đến mình, thì phải tha tới mấy lần ? Có đến 7 lần không ? Đối với ông, con số 7 là con số tròn đầy, con số quá lớn đối với ông, vì theo thói quen người ta chỉ : “quá tam ba bận” thôi

    Để trả lời, Chúa Giêsu đưa ra một dụ ngôn : Một ông quan nợ vua 10 ngàn nén vàng, nhưng không có gì trả, xin khất một kỳ hạn. Vua thương tha ngay, tha hết nợ cho.

    Khi ra đường, ông quan này gặp một người bạn nợ có 100 nén bạc (quá nhỏ đối với 10 ngàn nén vàng). Anh này xin khất nợ nhưng quan không chịu, tống anh ta vào ngục cho đến khi trả hết nợ.

    Sự việc đến tai vua, nhà vua thịnh nộ ra lệnh bắt ông quan tống ngục cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng.

    Dụ ngôn trên có ý khuyên chúng ta hãy tha thứ cho anh em vì nếu chúng ta có tha thứ cho anh em thì Thiên Chúa mới tha cho chúng ta. Lỗi của chúng ta thì nặng nề vô cùng mà Chúa còn tha thứ cho ta, phương chi anh em chỉ lỗi đến ta có một chút, tại sao ta lại không biết tha thứ .


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                              Tha thứ thì được thứ tha


    I. 
    THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG THA THỨ 

    1. Trong Cựu ước

    Chính lúc đối diện với tội lỗi mà Thiên Chúa hay ghen (Xac 20,5) tỏ ra là Thiên Chúa đầy lòng tha thứ. Việc chối bỏ Thiên Chúa sau khi đã ký giao ước, đáng lý ra khiến Thiên Chúa hủy diệt toàn dân (Xac 32,30tt), lại trở nên cơ hội để Thiên Chúa tự xưng là “Thiên Chúa dịu dàng và hay thương xót, chậm bất bình, giầu ân sủng và trung tín… dung thứ lẫm lẫn, sai phạm và tội lỗi, tuy nhiên Ngài sẽ không bỏ qua sự gì mà không sửa phạt…”

     Thế nên Maisen mới có thể yên tâm cầu nguyện với lòng tin tưởng :”Thật là một dân cứng đầu cứng cổ. Nhưng xin Chúa tha thứ tội lỗi cho chúng con và cho chúng con trở thành gia nghiệp Ngài” (Xac 34,6-9).

    Xét theo khía cạnh nhân bản và pháp lý, sự tha thứ tự nó không thể biện minh được, Thiên Chúa thánh thiện đã không phải bầy tỏ sự thánh thiện của Ngài bằng sự công bình của Ngài (Is 5,16) và gia phạt những ai khinh thường Ngài đó sao ? Làm sao vị hôn thê bất trung với Giao ước lại có thể ỷ lại  vào lòng tha thứ khi nàng không biết xấu hổ vì mình đã gian dâm (Gr 3,1-5) ? Tuy nhiên lòng Thiên Chúa không như lòng loài người và đấng thánh không thích hủy diệt, thay vì muốn cho tội nhân  phải chết, Ngài muốn cho họ hoán cải (Ez 18,23) để có thể đổ tràn ơn tha thứ của Ngài , vì đường lối của Ngài vượt xa tư tưởng của chúng ta một trời một vực.

    Sau cùng, Thiên Chúa thực hiện ơn tha thứ một cách hoàn hảo nơi Đức Giêsu. Ngài đã tuyên bố Tin mừng cứu độ, Ngài kêu gọi hoán cải tất cả những ai cần trở lại (Lc 5,32t) và Ngài thúc đẩy họ trở lại bằng cách mạc khải cho biết Thiên Chúa là một người Cha chỉ vui khi tha thứ (Lc 15) và Ngài không muốn ai bị hư mất (Mt 18,12t).

    1. Trong Tân ước

    Chúa Giêsu đến không phải phá hủy lề luật nhưng để kiện toàn. Các lề luật trong Đạo Cũ đều tốt nhưng chưa được hoàn hảo. Vì thế khi ai phạm đến ta thì người ấy trở nên kẻ thù của ta. Do đó, theo Đạo Cũ, người ta không cần thương yêu kẻ thù, chỉ cần thương yêu thân nhân thôi, còn kẻ thù thì phải chịu luật công bình. Ta hãy nghe Chúa nói :”Các ngươi có nghe lời truyền rằng : hãy yêu thương thân nhân, mà ghét thù địch mình. Song Ta dạy các ngươi rằng : hãy yêu thương kẻ thù, cứ làm ơn cho kẻ ghét mình, lại cầu nguyện cho những người bắt bớ vu vạ cho ngươi nữa,  để các ngươi nên con cái Cha các ngươi ở trên trời : vì Ngài cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ tốt cũng như người xấu, và làm mưa trên người chính trực cũng như kẻ bất luơng” (Mt 5,43-45). 

    Theo với luật yêu thương, ta thấy cần có luật tha thứ đi kèm, vì nếu không có luật tha thứ thì luật thương yêu sẽ bị giới hạn rất nhiều. Nên Chúa Giêsu đã phán :”Nếu khi nào ngươi dâng của lễ trên bàn thờ. mà ngươi sực nhớ ra anh em có điều bất bình với ngươi, hãy để của lễ ngươi trên bàn thờ, hãy đi làm hòa cùng anh em đã, rồi ngươi mới đến dâng của lễ”(Mt 5,23-24).  Hoặc chỗ khác Chúa cũng nói :”Nếu các ngươi tha thứ cho người ta, thì Cha các ngươi trên trời cũng sẽ tha thứ cho các ngươi”(Mt 6,14).

    II. CON NGƯỜI PHẢI THA THỨ. 

    1. Thực hiện lời Chúa dạy 

    Người ta thường nói :”Quá tam ba bận”, nghĩa là chỉ tha có 3 lần thôi, quá 3 lần thì không tha nữa.  Thánh Phêrô cũng theo chủ trương đó nhưng có phần rộng rãi hơn. Ông tin rằng tha thứ 7 lần đã là quá nhiều, vì số 7 là con số tối đa theo quan niệm của Kinh thánh, nói lên tính chất dư dật đúng mức.

    Vì thế, ông Phêrô mới hỏi Chúa Giêsu rằng :”Lạy Thầy, nếu anh em con lỗi phạm đến con, con phải tha cho họ mấy lần, đến 7 lần không” ? Chúa Giêsu đáp :”Thầy không bảo đến 7 lần đâu, mà đế 70 lần 7”(Mt 18,21-22 ; Lc 17,4). Chúa bảo không tha chỉ tới 7 lần nhưng phải 70 lần 7, nghĩa là tha thứ đến 490 lần. Chúa trả lời như thế không có nghĩa chỉ tha 490 lần, rồi sang lần 491 thì không tha nữa, nhưng Chúa có ý nói rằng : phải tha luôn mãi không có giới hạn (x. Mt 18,22 ; Lc 17,4).

    Để quảng diễn tư tưởng ấy, Chúa Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn : một người nợ vua 10.000 nén vàng mà không có gì trả, vua đã quảng đại tha nợ cho ; nhưng chính người được tha nợ lại không tha cho người bạn chỉ nợ có 100 quan tiền. Nghe được câu truyện đó, nhà vua phải nổi cơn thịnh nộ mà phạt tên bất nhân đó.

    Để hiểu thêm số tiền nợ này cách nhau thế nào, theo các nhà chú giải Thánh kinh, thì một nén  vàng tương đương 10.000 quan tiền.  Vậy tên đầy tớ nợ ông chủ 60.000.000 quan tiền, một số tiền quá lớn. Trong khi người bạn chỉ mượn anh ta  một số tiền là 100 quan,  như thế tỷ lệ chênh lệch là 1/600.000.

    Dụ ngôn này nói lên cách đầy đủ một thực tại khác. Mặc dầu giữa những con người có những khác biệt, nhân loại vẫn có vẻ ngang hàng với nhau và những bất công gây ra cho con người không đến nỗi qúa trầm trọng nếu so với những bất công đối với Thiên Chúa. Đối với con người tất cả đều giới hạn. Dù con người có tỏ ra đòi hỏi nghiêm khắc, họ cũng chỉ cốt nhằm  bảo vệ quyền lợi nên không muốn tha thứ.

    Vì thế, chúng ta nói rằng nhân danh con người, các bất công gây nên những tranh luận và kiện tụng.  Nhưng nếu nhân danh Thiên Chúa và căn cứ theo ân sủng hơn là quyền lợi,  con người sẽ tỏ lòng thương xót đối với anh em.  Trước mặt Thiên Chúa, con người phải điều chỉnh tương quan của mình với tha nhân.  Thái độ đối với Thiên Chúa sẽ xác định thái độ đối với anh em.  Ngược lại, tương quan giữa con người với anh em sẽ xác định lối cư xử của họ đối với Thiên Chúa.

    Người tín hữu khi đã biết Thiên Chúa đối xử với họ tốt lành, mà còn tới gần anh em với tinh thần khắc nghiệt, họ cũng sẽ bị điều mà Đức Kitô nhấn mạnh khi tuyên bố :”Cha Ta cũng đối xử như thế đối với các con, nếu các con không tha thứ cho nhau” .  Lòng quảng đại của Thiên Chúa sẽ thắng vượt tính hèn kém của con người, và lòng từ ái của Ngài sẽ biến cải thái độ khắc nghiệt của họ (R. Gutwiller, Suy niệm Tin mừng Matthêu, tập 2, tr 78).

    1. Người đời và sư tha thứ 

    Tha thứ không phải là một giáo thuyết xây trên không tưởng, hay chỉ dành cho những người theo giáo lý cuả Chúa Giêsu, mà dành cho mọi người. Có những người đã xuất hiện trước Chúa Giêsu mà họ cũng đã đề cập đến vấn đề này. Chúng ta thử rảo qua xem :

    * Nhận xét của nhân gian

    Người đời chia con người làm hai loại xung khắc nhau, đó là hiền nhân quân tử và kẻ tiểu nhân. Trong xã hội bị ảnh hưởng Nho giáo, con người hiền nhân quân tử được đề cao, coi là bậc thầy, coi như mẫu mực của con người ; còn tiểu nhân là những người tầm thường, bề tôi và nếu hiểu theo tinh thần Kitô giáo, thì lại hiểu tiểu nhân là những kẻ tội lỗi. Vì thế, người đời mong ước được trở nên các hiền nhân :”Sĩ hy hiền, hiền hy thánh, thánh hy thiên “: người học mong ước trở nên hiền nhân, hiền nhân mong được trở nên thánh nhân, và thánh nhân được ví như trời.

    Những kẻ tiểu nhân, những kẻ vũ phu có những hành động vụt chạc, thiếu suy nghĩ, không cầm mình được, khi bị xỉ nhục là tuốt gươm xông đánh kẻ thù giống như trường hợp chàng Tân Ti Tụ ; còn người quân tử hiếu dũng không thèm chấp nhặt những sỉ nhục ấy, họ bình thản đón nhận như không có sự gì xẩy ra, lại còn đón nhận một cách vui vẻ như hiền triết Socrates. Vì thế, người đời coi tha thứ là đặc tính của bậc trượng phu, anh hùng :

                                 Đấng trượng phu đừng thù mới đáng,
                                 Đấng anh hùng đừng oán mới hay.

     

    Chủ trương của hiền nhân quân tử

    Các hiền nhân quân tử luôn đề cao sự tha thứ, đặc biệt các vị sáng lập các tôn giáo, trong đó ta thấy có hai khuôn mặt dạy sự tha thứ nổi bật nhất là Phật Thích Ca và Đức Giêsu. Nhưng về phương diện thực hành thì Đức Kitô là một tấm gương sáng chói.

    Nhà Nho dạy thế nào ? Trong vấn đề cư xử, học thuyết của Đức Khổng Phu Tử còn giống với luật báo oán của Cựu ước, ngài dạy học thuyết :”Dĩ trực báo oán”. Nhưng sau này, các đồ đệ của ngài muốn đi xa hơn, họ thêm vào học thuyết của ngài câu :”Dĩ đức báo oán”.

    Ông Gandhi nói :”Luật vàng của xử thế là sự tha thứ lẫn nhau”. Chính ông đã dùng thuyết bất bạo động để giải phóng dân tộc Ấn độ khỏi ách thống trị của người Anh.

    Ông Tertullien nói :”Kẻ bị nhục, dùng sỉ nhục để báo thù, có khác gì người sỉ nhục họ không ? Chẳng qua là những kẻ cùng làm quấy như nhau, nhưng chỉ kẻ trước người sau mà thôi”.

    Hiền triết Marc Aurèle  nói :”Biết yêu kẻ đã xúc phạm mình, đó là hạnh phúc của quân tử. Muốn được vậy, phải biết nghĩ rằng : những kẻ ấy là họ hàng thân thích mình – Những kẻ ấy phạm lỗi, là vì không biết, chớ không phải cố ý – Những kẻ ấy rồi chẳng bao lâu cũng cùng với ta mà chết – mà thứ nhất, những kẻ ấy, không có làm thiệt hại cho mình chút nào cả, bởi họ không từng làm cho tâm tính mình hư  đi được”. 

    Hiền triết Épictète có một lối suy nghĩ khác, vượt trên lối suy nghĩ của mọi người. Ông tìm cách qui lỗi vào mình và không oán giận kẻ khác nữa. Bằng cớ là nhà ông có một chiếc đèn khá qúi, bị thằng ăn trộm lấy mất. Ông tự trách mình có chiếc đèn qúi đã khêu gợi lòng tham của kẻ ăn trộm, chứ ông không trách lòng tham của đứa ăn trộm ấy. Ông cho rằng chính người gây ra căn cớ cho sự ăn trộm mới là đáng trách, và như vậy chính ông là thủ phạm.

                                 Truyện : Hoàng đế Trung hoa trả thù.

    Một hoàng đế Trung hoa nói :”Một khi chinh phục quốc gia ấy rồi, ta sẽ tiêu diệt tất cả các địch thù của ta”.

    Ông đã chinh phục nước ấy, và cả đình thần của ông chờ đợi một cuộc thảm sát địch quân. Họ mong cho những địch thủ đó sau khi bị hành hình thì đem chém đầu. Họ rất bỡ ngỡ khi thấy tất cả các địch thù ngồi ăn với vua và lại nói cười vui vẻ nữa.

    Họ tâu vua :
    – Muôn tâu hoàng thượng, hoàng thượng nói  hoàng thượng sẽ tiêu diệt tất cả địch thù kia mà.
    Hoàng đế trả lời :
    – Ta đã tiêu diệt bọn họ rồi đó, tiêu diệt bằng cách tha thứ cho họ và biến họ thành những người bạn của ta (Diamond, Đồng cỏ non, 1968, tr 166).

    Cách trả thù hay nhất

    Có những người có tâm hồn cao thượng, họ không thèm đếm xỉa gì đến những xúc phạm người khác làm cho mình, vui vẻ đón nhận tất cả. Và cách trà thù cho người khác tức là tha thứ cho họ. Sở dĩ họ làm như thế vì họ muốn làm người trên chứ không ngang hàng với người làm sỉ nhục họ. Khi tha thứ  là mình đã đứng trên người được tha thứ.

    Ông Swift nói :”Bị người ta làm nhục mà hận, là đem cái lỗi của người mà hành hạ báo thù mình”. 

    Hiền triết Marc Aurèle nói :”Không có cách nào báo thù những kẻ làm ác với mình hay bằng cách này : đừng giống họ”.

    Người ta ở đời, đối với loài người mà gặp phải kẻ xử với mình một cách ngang ngược, thì nên coi như mình  đi trong bụi rậm, vướng phải gai, chỉ nên thong thả đứng lại, gỡ dần ra mà thôi. Gai góc kia có đáng gì đâu mà giận ? Xử được như thế, thì tâm hồn không phiền não, mà bao nhiêu nỗi oán hận cũng tiêu tan.

    Mạnh Tử nói :”Ta nên coi những sự ngang ngược phạm đến ta  như chiếc thuyền không lỡ đâm phải ta, như cơn gió dữ lỡ tạt nhằm ta, ta nghĩ cho cùng thì có gì đáng giận”.

     

                                          Truyện : Trọng danh dự

    Một thi hào Ý danh lừng bốn bể, ông Le Tasse, tác giả cuốn “Thành Giêrusalem được giải cứu” có thời bị bao nhiêu quân thù ganh tị âm mưu ám hại. Người ta loan tin xấu về ông. Các lời lăng mạ, vu khống đổ về ông như mưa bấc có ý cho ông ở tù.  Có người thân tín cho ông biết tên đầu sỏ của vụ vu oan cáo ông  đã phạm một tội nhục nhã tầy trời và yêu cầu ông phổ biến điều ấy ra để trả đũa.

    Le Tasse nghiêm trang trả lời :
    – Tôi không muốn làm mất danh dự và sinh mệnh của người ta. Tôi chỉ muốn bài trừ ở họ ý muốn hành ác thôi : đó là sự phục thù độc nhất của tôi.
    (Hoàng  xuân Việt, Thuật sống dũng, 1970, tr 200)

    Vì thế, nhà hùng biện trứ danh nước Pháp, cha Lacordaire, đã khuyên bảo ta :”Anh muốn vui sướng trong chốc lát : cứ trả thù. Anh muốn yên ủi mãi mãi : nên tha thứ”.

    III. CHÚNG TA CŨNG PHẢI THA THỨ 

    Với tất cả những tư tưởng được trình bầy ở trên, chúng ta thấy rằng tha thứ là một điều cao thượng và cần thiết. Không những người Kitô phải biết tha thứ theo lời Chúa dạy, mà cả những người ngoại giáo cũng đã thực hiện.

    Trong bài giảng tên núi, Đức Giêsu đặc biệt lưu ý chúc phúc cho ai hiếu hoà, một cách gián tiếp Chúa bảo những kẻ hiếu hòa là kẻ biết tha thứ cho nhau để tạo bầu không khí hoà thuận giữa mọi người (x. Mt 5,9). Còn nhiều phần thưởng được dành cho người biết tha thứ, như ta thấy có hai phần thưởng được Chúa ban trực tiếp khi ai biết tha thứ và cũng là điều kiện “sine qua non” của lời cầu nguyện :

              . Được Chúa tha thứ tội lỗi cho (Mt 6,14-15 ; Mc 11,25; Lc 11,4).
              . Được Chúa nhận của lễ ta dâng (Mt 5,23-24) ; Mc 11,25). 

    Ta còn phải tha thứ cả bề trong lẫn bề ngoài.  Tha thứ cho người khác những xúc phạm đến mình, tha thứ thật trong lòng đã là một điều đáng khen ngợi,và đấy là điều kiện căn bản và khởi điểm để đi xa hơn nữa.  Tha thứ bề trong mà thôi, chưa đủ,  còn phải biểu lộ ra bên ngoài nữa.  Tại sao lại chưa đủ ? Vì ta dựa vào  lời Chúa khi Ngài nói :”Hãy để của lễ ngươi trước bàn thờ, hãy đi làm hoà cùng anh em đã, rồi ngươi mới đến dâng của lễ”(Mt 5,23-24). Chúa dạy phải đi làm hoà cùng anh em đã.

    Chữ “đi làm hoà” gợi lên trong đầu óc ta một hành động cụ thể.  Chúa đòi ta phải thực hiện sự tha thứ bằng việc làm bên ngoài, nếu không thì Chúa chỉ bảo “hãy để của lễ trên bàn thờ, tha thứ cho anh em đã rồi hãy dâng của lễ”.  Như vậy ta có thể kết luận rằng : không những Chúa đòi ta  tha thứ trong lòng, mà còn đòi ta phải thực hiện sự tha thứ ấy ra bên goài, bằng một hành động cụ thể.

    Tại sao sự tha thứ cần được biểu lộ ra bên ngoài bằng những hành động cụ thể ? Sở dĩ cần có những hành động bên ngoài vì chính những hành động ấy phá tan tình trạng lạnh lùng, khẩn trương, phá tan một cuộc chiến tranh lạnh bao trùm cuộc sống giữa hai người. Nhiều khi trong lòng đã thực sự tha thứ, nhưng vẻ lạnh lùng bên ngoài khiến người khác tưởng rằng mình không tha thứ hoặc coi như họ khinh mình.

     Văn hào Goethe đã nói :”Sự tha thứ chỉ có thể là một trạng thái trung gian. Nó phải đưa đến sự kính trọng. Tha thứ là làm nhục”.

     Và còn tệ hơn nữa, như  P.J. Poulet nói :”Sự tha thứ  có khi chỉ là một bộ mặt của sự trả thù”.

    Đã nhiều lần chúng ta đọc kinh Lạy Cha, chúng ta có để ý đến câu này không :”Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” ? Có lẽ chúng ta chỉ chú ý đến phần trên “và tha nợ chúng con”, mà lại bỏ quên phần sau “như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.  Nếu trong chúng ta có sự xích mich với nhau thì hãy tha thứ đi đã rồi hãy dâng lễ, nếu không Chúa sẽ không nhận lễ vật chúng ta dâng.

    Truyện : Hoàng đế Othon tha thứ

    Dưới thời hoàng đế Othon I, các vương hầu nổi lên làm loạn nhiều lần. Đặc biệt chính bá tước Henri, em ruột của hoàng đế lại là kẻ cầm đầu quân phản loạn. Nhiều lần bị hoàng đế đánh bại, ba lần bị lên án tử hình, nhưng được ân xá nhờ lời cầu khẩn của hoàng thái hậu Mathilde. Lần thứ tư  Henri lại nổi loạn, bị bắt,  lại bị xử tử hình.  Hoàng đế nổi giận không muốn nghe sự thỉnh cầu của bất cứ ai. Mặc dầu biết mất hết mọi hy vọng, nhưng Henri cố gắng lần cuối.

    Đó là hôm áp lễ Noel năm 945, hoàng đế và các vương hầu khanh tướng đến dự lễ tại nhà thờ chính toà Quellimbourg.  Đến phần phụng vụ lời Chúa, bá tước Henri mặc áo nhặm xuất hiện trong nhà thờ, tiến đến và xấp mình dưới chân hoàng đế xin tha mạng, nhưng Othon nhìn bá tước nghiêm khắc và nói :”Ba lần ta đã tha chết cho ngươi mà ngươi vẫn cố tình, đừng xin xỏ nài nỉ gì nữa, ba ngày tới đầu ngươi sẽ rơi. Đúng lúc đó vị chủ tế mở sách Phúc âm và đọc đoạn thánh Phêrô hỏi Chúa :”Lạy Thầy, con phải tha cho anh em bao nhiêu lần ? Có phải 7 lần chăng “? Chúa đáp :”Ta không nói với con là 7 lần mà là 70 lần 7”

    Nghe lời đó, hoàng đế rúng động tâm can đến phát khóc và không những nhà vua tha mạng cho đứa em phản loạn, mà còn ôm vào lòng rồi ban cho em lãnh thổ Bavier nữa (Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr 113-114).

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm, GP. Đà Lạt

                                                                      

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com