BÀI ĐỌC I: 1 V 19, 9a. 11-13a
Trong những ngày ấy, khi Êlia đã lên núi Horeb của Thiên Chúa, ông trú ẩn trong một cái hang… Có lời Chúa phán cùng ông rằng: “Hãy ra đứng trên núi trước tôn nhan Chúa”. Bỗng Chúa đi qua; có một cơn gió mạnh xé núi non và nghiền nát đá trước mặt Chúa; nhưng Chúa không ở trong gió bão. Sau trận gió bão thì đất động; Chúa cũng không ở trong cơn động đất. Sau cơn động đất thì có lửa; nhưng Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa thì có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe thấy, Êlia liền lấy áo choàng che mặt lại, đi ra đứng ở cửa hang.
BÀI ĐỌC II: Rm 9, 1-5
Anh em thân mến, tôi xin nói thật trong Đức Kitô, tôi không nói dối: lương tâm tôi làm chứng cho tôi trong Thánh Thần: là tôi buồn phiền quá đỗi, lòng tôi hằng đau đớn luôn. Chính tôi đã ao ước được loại khỏi Đức Kitô vì phần ích anh em của tôi, là những thân nhân của tôi về phần xác. Họ đều là người Israel, họ được quyền làm nghĩa tử, được vinh quang, giao ước, lề luật, việc phượng tự và lời hứa: các tổ phụ cũng là của họ, và bởi các đấng ấy mà Đức Kitô sinh ra phần xác, Người là Thiên Chúa trên hết mọi sự, đáng chúc tụng muôn đời.Amen.
PHÚC ÂM: Mt 14, 22-33
Khi dân chúng đã ăn no, lập tức Chúa Giêsu giục môn đệ trở xuống thuyền mà qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi cầu nguyện một mình. Đến chiều, Người vẫn ở đó một mình. Còn thuyền thì đã ra giữa biển, bị sóng đánh chập chờn vì ngược gió.
Canh tư đêm tối, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hồn mà nói rằng: “Ma kìa!”, và các ông sợ hãi kêu la lớn tiếng. Lập tức, Chúa Giêsu nói với các ông rằng: “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!” Phêrô thưa lại rằng: “Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”. Chúa phán: “Hãy đến!” Phêrô xuống khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa Giêsu. Khi thấy gió mạnh, ông sợ hãi và sắp chìm xuống nên la lên rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con!” Lập tức, Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông mà nói: “Người hèn tin, tại sao mà nghi ngờ?” Khi cả hai đã lên thuyền thì gió liền yên lặng. Những người ở trong thuyền đến lạy Người mà rằng: “Thật, Thầy là Con Thiên Chúa”.
Suy Niệm 1: GẶP CHÚA, NHẬN RA CHÚA, VÀ ĐƯỢC BÌNH AN!
Sóng gió luôn luôn xảy ra trong cuộc sống mỗi người chúng ta. Khi gặp sóng gió, chúng ta thường sợ hãi và trong sóng gió, nhiều khi chúng ta trách Chúa vì để chúng ta chèo chống một mình. Có khi chúng ta bỏ Chúa vì khi cần Ngài chúng ta không thấy Ngài ở đâu. Tuy nhiên, khi nhìn lại, chúng ta nhận ra rằng Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Tâm tình này cũng được đức cố giám mục Giuse Vũ Duy Thống diễn tả trong bài hát DẤU CHÂN: “Hôm nao, thấy dấu chân đôi: Đó là Chúa đi bên tôi. Hôm nào còn một dấu chân thôi: Là bởi vì Chúa ẵm tôi lên rồi.” Thật vậy, sự hiện diện của Chúa thật âm thầm nhẹ nhàng đến nỗi nếu không nhạy bén với sự hiện diện của Ngài, chúng ta sẽ không nhận ra Ngài đang ở bên hoặc bồng ẵm chúng ta trên tay.
Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta việc Êlia tới núi Khôrếp là núi của Thiên Chúa để gặp Ngài. Như chúng ta biết, theo truyền thống Kinh Thánh, núi là biểu tượng của nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người và cũng là nơi Thiên Chúa mặc khải chính mình và kế hoạch yêu thương của Ngài để cứu độ con người. Trong sự kiện trên núi Khôrếp, Đức Chúa sẽ đi ngang qua để ông Êlia được diện kiến: “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua. Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng đó, ông Êlia lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang” (1 V 19: 11-13a). Những lời trên chỉ rõ Đức Chúa không ở trong những gì [vĩ đại] làm lay động vũ trụ như bão lớn, động đất hoặc lửa. Đức Chúa đến trong tiếng gió nhẹ hiu hiu. Chi tiết này cho thấy để nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, chúng ta phải rất nhạy bén với cách thức Ngài đến trong cuộc đời của mình. Nói cách khác, Thiên Chúa hiện diện trong sự âm thầm, đơn sơ và thuần khiết.
Thánh Phaolô trong bài đọc 2 tỏ ra đau lòng vì những người đồng bào, cùng là con cháu các tổ phụ mà từ đó Đức Kitô đến với nhân loại lại không nhận ra thân phận cao quý của mình là “được Thiên Chúa nhận làm con.” Thánh Phaolô đã chấp nhận nhiều đau khổ và khó khăn để họ nhận ra điều này: “Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng. Họ là người Israel, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa; họ là con cháu các tổ phụ; và sau hết, chính Đức Kitô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Đấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời” (Rm 9:3-5). Qua những lời này, Thánh Phaolô cũng nhắc nhở cho chúng ta biết phẩm giá cao quý của mỗi người. Chúng ta không đơn giản là những “tạo vật yếu đuối.” Chúng ta là những người con của Thiên Chúa. Nhiều lần chúng ta đã quên căn tính và phẩm giá cao quý của mình để rồi sống một lối sống không xứng đáng với ơn gọi của mình. Cuộc sống chúng ta là một bài ca chúc tụng Thiên Chúa. Hãy sống thế nào cho xứng đáng với ơn gọi cao quý ấy.
Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta sự kiện xảy ra sau khi hoá bánh ra nhiều cho mọi người ăn và ai cũng được ăn no nê [mà chúng ta đã nghe trong bài Tin Mừng Chúa Nhật trước]. Chúa Giêsu hướng dẫn các môn đệ xuống thuyền và chính Ngài cũng chịu trách nhiệm giải tán dân chúng. Điều này cho thấy, Chúa Giêsu là nhân vật chính của toàn bộ câu chuyện: Ngài quy tụ và Ngài sai mọi người đi đến nơi Ngài muốn họ đến [kẻ về nhà, người đi ra vườn, kẻ đi làm trong văn phòng, v.v.]. Một cách cụ thể, bài Tin Mừng hôm nay thuật lại sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Câu chuyện này cũng được Thánh Máccô (6:45-52) và Thánh Gioan (6:15-21). Câu chuyện bắt đầu với việc kể ra những hoạt động của Chúa Giêsu sau phép lạ hoá bánh ra nhiều: “Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giêsu liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ” (Mt 14:22-25). Những lời này giới thiệu những sự kiện sẽ xảy ra sau khi Chúa Giêsu lên thuyền và cùng với các môn đệ đi qua bờ bên kia, đó là địa hạt của dân ngoại. Chúng ta thấy Chúa Giêsu chính là người giải tán đám đông chứ không phải các môn đệ vì họ là đàn chiên thuộc về Ngài. Ngài sai họ về nhà của mình, còn Ngài thì “về nhà” của mình để gặp gỡ Cha của Ngài trong giây phút cầu nguyện. Đời sống cầu nguyện của Chúa Giêsu chính là khuôn mẫu cho người Kitô hữu. Ngoài những thời khắc cầu nguyện chung cùng với cộng đoàn, người Kitô hữu được mời gọi dành những khoảng thời gian thinh lặng trong việc cầu nguyện cá nhân cùng với thiên nhiên trước Thiên Chúa. Chính trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu nhìn thấy chiếc thuyền của các môn đệ bị sóng đánh và Ngài đã đến với họ. Trong bối cảnh này, gió mạnh ám chỉ đến những mãnh lực chống đối của thế gian. Hình ảnh Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với các môn đệ chỉ rõ Ngài có quyền năng trên các mãnh lực chống đối của thế gian. Ở đây chúng ta thấy có sự ảnh hưởng truyền thuyết của người Canaan và của Cựu Ước, đó là Đức Chúa chiến thắng sóng biển của sự chết (x. Tv 77:19; Job 9:8; 38:16; Is 43:16). Tất cả những chi tiết trên nhắc chúng ta về việc Chúa Giêsu có quyền năng trên tất cả những mãnh lực của sự dữ, ngay cả sự chết. Những sóng gió trong cuộc sống của chúng ta
Khi Chúa Giêsu đến trong lúc giông bão, các môn đệ không nhận ra Ngài, nhưng Chúa Giêsu trấn an họ là chính Ngài luôn bên cạnh họ trong những lúc khó khăn trong cuộc sống: “Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: ‘Ma đấy!’ và sợ hãi la lên. Đức Giêsu liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14:26-27). Các môn đệ đã không nhận ra Chúa Giêsu trong đêm bão giông của cuộc sống. Nỗi sợ hãi đã làm họ mất niềm tin vào Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu trấn an họ, để họ không còn sợ hãi mà tin vào Ngài. Đây chính là điều Chúa Giêsu làm cho các môn đệ, đó là trấn an họ khi họ sợ hãi. Ngài khẳng định với họ rằng: “Chính Thầy đây!” những lời này chỉ rõ việc Chúa Giêsu chia sẻ trong quyền năng Thiên Chúa để cứu con người (x. Tv 18:17-18; 144:7; Xh 3:14; Is 43:10; 51:12). Nhiều lần Chúa Giêsu cũng đến với chúng ta trong những giông bão cuộc đời. Chúng ta cũng đã từng không nhận ra Ngài. Nhưng tiếng Ngài luôn vang lên nói chúng ta đừng sợ. Đừng sợ sóng gió trong cuộc sống, vì Chúa Giêsu luôn ở bên chúng ta, cầu nguyện cho chúng ta trong những lúc đó.
Câu chuyện chuyển từ phản ứng của các môn đệ đến phản ứng của một mình Thánh Phêrô trước sự kiện Chúa Giêsu đi trên mặt nước. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại này như sau:
Phêrô: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.”
Chúa Giêsu: “Cứ đến!”
[Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm]
Phêrô: “Thưa Ngài, xin cứu con với!”
Chúa Giêsu [liền đưa tay nắm lấy ông]: “Hỡi kẻ kém lòng tin! Sao lại hoài nghi?”
Thánh Mátthêu đã thêm vào cuộc đối thoại này (câu 28-31) nhằm mục đích nói lên vị trí cao trọng của Phêrô. Hành động của Phêrô không có ý nghĩa gì trừ khi chúng ta liên kết nó với một tình yêu được thúc đẩy và một đức tin bị yếu đi vì nghi ngờ. Các yếu tố đặc trưng và cá nhân độc nhất vô nhị quyện chặt vào nhau ở đây (x. Ga 20:28-29).
Câu chuyện trở lại với các môn đệ, những người trong thuyền: “Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: ‘Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!’” (Mt 14:32-33). Khi đã thấy Chúa Giêsu làm cho sóng lặng, các môn đệ hiểu được Ngài được chia sẻ trong quyền năng của Thiên Chúa nên đã “bái lạy” Ngài, đây là hành vi tôn thờ và tuyên xưng rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Chi tiết này trái ngược với kết thúc của Thánh Máccô, ở đây các môn đệ đã hiểu và tin; họ đã tiên báo trước lời tuyên xưng của Phêrô trong 16:16. Tóm lại, toàn bộ câu chuyện liên quan đến phép lạ về thiên nhiên và được xếp loại như là một sự hiển linh qua việc chế ngự mãnh lực của biển khơi. Câu chuyện này giống với câu chuyện làm biển lặng trong 8:18-27. Theo các học giả Kinh Thành, đây chính là dụ ngôn nói về Giáo Hội bị bao vây và là biểu tượng của một đức tin vững mạnh, đi ra khỏi vùng chưa biết, nhưng có thể bị tổn thương. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng trong sóng gió cuộc đời, dù có bị tổn thương, nhưng hãy vững tin vào Chúa luôn.
Lm. Anthony, SDB.
……………………..
Suy Niệm 3: HÃY TÌM GẶP THIÊN CHÚA
A. DẪN NHẬP
Trong cuộc sống ai cũng muốn cho mình có một đời sống an toàn, được bảo đảm, không gặp những thử thách, những trở ngại làm cho mình phải lo sợ. Đấy là ước vọng chung của mọi người. Nhưng trong thực tế, không ai có một cuộc đời tươi đẹp như thế, bao lâu còn ở trên trần thế này. Cuộc đời không thiếu gì chông gai, không thiếu gì những gian nan thử thách làm cho nhiều người có thể vươn lên và có thể làm cho nhiều người bị tụt xuống.
Phép lạ Chúa Giêsu đi trên mặt nước và cứu ông Phêrô cho khỏi bị chìm nói lên quyền năng vô biên của Chúa. Trong cuộc sống bình yên cũng như trong những lúc gặp gian nan thử thách, Thiên Chúa luôn ở bên cạnh con người. Chúa sẵn sàng ban ơn phù trợ và cứu giúp khi chúng ta kêu cầu. Để bảo đảm cho cuộc sống, chúng ta hãy luôn ngước mắt nhìn lên Chúa, đừng nhìn xuống, đừng cậy dựa vào mình hay vào người khác mà chỉ cậy nhờ ơn Chúa phù giúp, kêu cầu Chúa như thánh Phêrô đã làm :”Lạy Thầy, xin cứu con”. Tin tưởng phó thác vào Chúa như vậy con người sẽ có một cuộc sống an toàn.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : 1V 19,9a.11-13.
Thời vua Akháp đang trị vì nước Israel, hoàng hậu Zébabel đem việc thờ phượng thần Baal vào nước, tiên tri Elia phải liều mạng đến kéo đồng bào ông về với Thiên Chúa, giải thoát họ khỏi gông cùm của tà thần, dù một mình phải thách thức với cả ngàn sư sãi thờ thần Baal của hoàng hậu và nhà vua. Dù thắng cuộc và sư sãi thần Baal bị tiêu diệt, ông vẫn phải trốn thoát tay hung tàn của hoàng hậu lùng bắt.
Ông phải chạy trốn lên núi Horeb trong một quãng đường dài mệt mỏi. Nơi đây Thiên Chúa đã hiện ra với ông, không phải trong tiếng sấm sét ầm ĩ của một thiên nhiên giận dữ như khi hiện ra với ông Maisen, nhưng hiện ra với ông một cách êm dịu trong sự tĩnh mịch của miền rừng núi. Elia không nhìn thấy Ngài, nhưng ông biết Ngài đang hiện diện bên cạnh ông qua một làn gió hiu hiu.
+ Bài đọc 2 : Rm 9,1-5.
Thánh Phaolô giãi bầy tâm sự với tín hữu Rôma : Ngài rất đau buồn khi thấy đồng bào Do thái của Ngài không tin nhận Đức Kitô. Ngài muốn nói lên tình yêu của Ngài đối với dân Do thái, dân Chúa chọn, mà trong những thế kỷ trước đã được đầy tràn hồng ân của Chúa. Vì tình yêu thắm thiết ấy, thánh Phaolô sẵn sàng chịu cho người ta nguyền rủa, ngay cả việc xa rời Chúa Kitô, nếu mãi mãi sự hy sinh này cứu được dân Do thái
Nhưng dù sao, Ngài cũng hy vọng rằng cuối cùng dân Do thái cũng sẽ tin, bởi vì dù sao họ cũng “được quyền làm con, được cho thấy vinh quang, nhận giao ước, lề luật, phụng tự và lời hứa”.
+ Bài Tin mừng : Mt 14,22-33.
Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng hào hứng, muốn tôn Đức Giêsu lên làm vua. Điều đó không phù hợp với sứ mạng Messia của Ngài. Có lẽ Ngài không muốn cho lòng hăng hái lệch lạc này tác động lên các Tông đồ, nên đã vội vã bảo các ông lên thuyền sang bên bờ kia.
Sáng sớm Ngài đã đi trên mặt nước mà đến với các ông. Họ tưởng Ngài là ma nên đã kêu rú lên. Nhưng Chúa Giêsu đã trấn an họ. Ông Phêrô muốn rời thuyền đi trên mặt nước mà đến với Chúa. Được sự đồng ý của Chúa, ông mạnh dạn bước đi, nhưng vì sóng lớn, ông sắp bị chìm, đã kêu lên :”Lạy Thầy, xin cứu con”. Chúa Giêsu đưa tay ra đỡ ông lên thuyền và trách ông thiếu lòng tin. Sau biến cố này, các môn đệ đã thốt lên :”Quả thật, Ngài là Con ThiênChúa”.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Có Chúa trong cuộc đời
I. CUỘC ĐỜI CON NGƯỜI TRÊN TRẦN THẾ
Trên trần gian này ai cũng muốn được hạnh phúc, còn hạnh phúc đời sau thì tùy ở mỗi người, có đức tin hay không. Sống trên đời, con người ai cũng muốn được an toàn may mắn, gặp những điều tốt đẹp… nên họ chúc nhau : vạn sự như ý. Thế nhưng những trang lịch sử của toàn thế giới, của các dân tộc và của riêng bao con người, đã cho thấy rằng các điều tốt đẹp trên nếu có đạt được thì rất giới hạn và mau qua. Ngay trong đời sống của các thánh hiền hay của những người có đức Kitô hiện diện cũng không có nghĩa là họ thoát khỏi những khó khăn không ngờ xẩy đến.
Tuy nhiên, nếu như xưa Đức Kitô ở bên cạnh các Tông đồ, giúp đỡ các ông thắng vượt những khó khăn trên mặt biển, thì sự hiện diện của Đức Kitô nơi chúng ta sẽ giúp chúng ta dễ dàng chấp nhận và vượt qua những khó khăn hằng ngày trong cuộc sống như vậy vì “ngày nào có sự khó cho ngày ấy”. Chính trong các hoàn cảnh này, niềm tin của chúng ta mới phát triển và trưởng thành hơn.
Kinh nghiệm cho hay những người có đức tin hay những người chẳng có đức tin đều bị chi phối bởi những luật lệ thiên nhiên mà không ai chống lại được. Không thiếu gì những thiên tai do thiên nhiên đưa đến như bão lụt, động đất, hạn hán, sóng thần… hoặc do con người gây ra như chiến tranh, loạn lạc, hận thù chia rẽ, khủng bố, nghèo đói…
Nữ sĩ Đoàn thị Điểm đã nói lên nhận xét của mình về một xã hội chứa đầy những đau khổ loạn ly trong phần mở đầu cuốn “Chinh phụ ngâm khúc” :
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiêu nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng không,
Nào ai gây dựng nên nông nỗi này ?
Thi sĩ Nguyễn Du cũng gửi gấm tâm sự của mình trước những cảnh nhiễu nhương của xã hội thời ông, trong cuốn “Đoạn trường tân thanh” :
Trăm năm trong cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Theo nhận xét của Nguyễn Du đời người là một cuộc bể dâu, thay thay đổi đổi không ngừng, không có gì là vững chắc. Trong những thay đổi ấy thi sĩ thấy có biết bao nhiêu cảnh đoạn trường xẩy ra làm cho mình đau đớn. Chính những điều thay đổi ấy không làm cho thi sĩ được yên ủi, nhưng ngược lại làm cho thi sĩ phải buồn sầu đối với “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.
Thi sĩ Xuân Diệu thì có cái nhìn bi quan về sự thay đổi của sự vật, nghĩa là chỉ nhìn thấy cái mất mà không thấy cái còn :
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt.
Một thi sĩ khác cũng phát biểu như thế :
Hoa nở để mà tàn,
Trăng tròn để mà khuyết,
Mây hợp để mà tan,
Nước đầy để mà vơi.
Có rất nhiều người trên đời đã phải vật lộn với biết bao gian nan thử thách để mà sống. Có người đã vượt qua, có người bị đắm chìm, nên người ta đã gửi kinh nghiệm sống ấy vào câu tục ngữ : Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh : nghĩa là số phận của con người, hoặc cuộc sống long đong gặp nhiều gian truân vất vả.
II. NHỮNG THỬ THÁCH TRONG CUỘC ĐỜI
- Trong đời sống vật chất và tinh thần
Đối với những người yếu đuối tinh thần, những người nhu nhược thì sự gian nan khốn khó làm cho họ nản lòng rủn chí. Trái lại, đối với những người có ý chí vững mạnh, gian nan khốn khó càng là động lực thúc đẩy họ tiến lên.
Ông Baden Powell, ông tổ của Hướng Đạo, đã nói :”Đời sẽ thành vô vị nếu toàn là đường mật , muối sẽ mặn chát nếu ta nhấm một mình nó, nhưng khi bỏ nó vào đồ ăn, nó là một thứ gia vị ngon lành. Khó khăn, trở ngại đều là những hạt muối trong đời”.
Người Đông phương thường truyền lại một câu chuyện mang tính chất ngụ ngôn như thế này : Ngày xưa có chàng nông phu theo truyền thống lâu đời của gia đình, năm nào cũng chăm chỉ cầy bừa đào xới đất ruộng, dù mười hai năm liền trời không mưa.
Ngày nay phần đông chúng ta chỉ cần một năm trời hạn hán là đâm ra chán nản, không muốn tiếp tục cầy ruộng nữa. Chúng ta thường là những người thiếu ý chí, quên lời dạy của cổ nhân :”Ở đời không có con đường nào bước một bước mà đến nơi bao giờ”.
Người ta cho gian nan thử thách là một điều cần thiết để đề cao giá trị con người không biết mỏi mệt, không chịu đầu hàng trước những khó khăn :
Có gió lung mới biết tùng bá cứng,
Có ngọn lửa hừng mới biết thức vàng cao.
(Tục ngữ)
Hoặc một nhận xét rất thực tế của một danh nhân :
“Những cây mạnh nhất, cao nhất, mọc trên những mảnh đất cằn cỗi nhất”.
Bời vì kinh nghiệm của một thi sĩ đã cho biết :
“Chiến đấu có gian nan, khải hoàn mới vinh quang” (Corneille)
- Trong đời sống thiêng liêng
Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta về sự chấp nhận và biết thánh hoá những gian nan thử thách trong đời sống hằng ngày. Thánh Phaolô đã diễn tả trong một bài Thánh ca :
“Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Tc Pl 2, 6-8).
Kinh thánh cũng cho biết gian nan thử thách là cần vì nhờ đó mà vàng thau không còn lẫn lộn nữa. Nhờ thử thách vàng ròng sẽ được tinh luyện :”Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Vì thế người ta nói :
Vàng vào lửa hoá vàng y
Rác rơm vào lửa biến đi đàng nào.
Thánh vịnh 90 cho biết cuộc đời con người vắn vỏi chỉ như cơn gió thoảng qua, nhưng trong đó có biết bao đau khổ con người phải chịu :
Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục
Mạnh giỏi chăng là được tám mươi
Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ
Cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.
(Tv 90,10)
Thánh Phaolô đã bị đau khổ dằn vặt vì những khó khăn xẩy ra nơi mình. Ngài đã phải chiến đấu khổ sở. Ngài đã tiết lộ cuộc chiến đấu cam go của ngài cho tín hữu Côrintô:”Để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi đã bị như một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Đã ba lần tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi :”Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12,7-9).
Truyện: Chỉ bán hạt giống.
Cha Antony de Mello kể lại giấc mơ của Paquita như sau : Nàng rảo quanh các quầy hàng của một trong những cửa tiệm lớn nhất hành tinh. Bỗng nhiên nàng nhận ra Thiên Chúa sau một quầy hàng :
– Lạy Chúa, Ngài bán gì vậy ?
– Tất cả những gì mà lòng con mong ước.
– Con muốn mua sự bình an trong tâm hồn, tình yêu, sự khôn ngoan, những liều thuốc chữa trị mọi thứ sợ hãi.
– Tốt lắm, nhưng ở đây không bán trái mà chỉ bán hạt giống thôi.
(André Sève, Sương mai, tr 51-52)
III. THÁI ĐỘ CỦA TA TRƯỚC GIAN NAN THỬ THÁCH.
Ta có thể coi trần gian là một biển rộng mênh mông, con người chỉ là một chiếc thuyền trên mặt biển. Mặt biển có lúc phẳng lặng, con thuyền có thể lướt qua mặt nước một cách an toàn. Nhưng cũng có lúc mặt biển nổi sóng to gió lớn như biển Tibériade mà các Tông đồ đang gặp phải trong bài Tin mừng hôm nay, thì con thuyền sẽ chao đảo, phải chèo chống mạnh mẽ.
Trong những lúc con thuyền đời ta đang gặp sóng gió trên biển cả, ta phải làm gì ? Một mình chèo chống chưa đủ vì sức người yếu đuối, sóng gió lại dữ dội. Ngoài sức chèo chống của mình, chúng ta còn phải kêu cầu Chúa đến giúp đỡ như các Tông đồ đã làm :”Xin cứu con với”!
- Ta phải tin cậy Chúa
Trong cơn gian nan thử thách ta hay thất bại, nản lòng vì chỉ tin vào sức mình hay vào người khác. Để vượt qua những khó khăn ấy, Chúa đòi chúng ta phải có lòng tin vào Chúa. Thánh Phêrô đã chứng minh điều đó : khi bước xuống khỏi thuyền đi trên mặt nước đến với Chúa : ông tin. Khi sắp bị chìm, ông sợ hãi kêu cứu : ông mất tin. Khi Chúa kéo ông lên thuyền : ông tin. Tại sao ông Phêrô cũng như chúng ta sợ ? Vì thiếu lòng tin. Chúa khuyên :”Đừng sợ”.
Truyện : Đức tin lớn lao.
Có một bà nổi tiếng đạo đức, nhân hậu và luôn bình tĩnh trước mọi thử thách. Một bà khác ở cách xa ít dặm, nghe nói thì tìm đến, hy vọng học được bí quyết để sống bình tâm và hạnh phúc. Bà hỏi :
– Thưa bà, có phải bà có một đức tin lớn lao ?
– Ồ không, tôi không phải là người có đức tin lớn lao, mà chỉ là một người có đức tin bé nhỏ đặt vào một Thiên Chúa lớn lao (Trích ở Góp nhặt).
Hai hình ảnh về một lòng tin đã được thánh Matthêu nối kết với nhau, như một đối trọng, nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa ở cùng, luôn là điều cần thiết cho các môn đệ năm xưa. Lòng tin của chúng ta vào Thiên Chúa như một mặt hồ phản chiếu. Có những lúc phẳng lặng trong suốt soi rõ những vẻ đẹp thiên nhiên. Nhưng nhiều khi chỉ một làn gió nhẹ làm gợn sóng, mặt hồ liền xáo động, bao nhiêu vẻ đẹp đều tan biến.
Nhìn lại những thăng trầm của cuộc đời, mỗi khi chúng ta được sống trong bầu khí an vui, được hài lòng với mọi sở nguyện, chúng ta dễ dàng xác tín và cảm nhận mạnh mẽ sự quan phòng của Chúa. Thế nhưng khi gặp phải những gian nan thử thách, những điều bất ưng, những nghịch cảnh – như các môn đệ xưa ở giữa sóng gió – chúng ta dễ dàng hoang mang lo sợ và không nhận ra Ngài. Bởi lẽ chúng ta đã quá lo lắng về cuộc sống và chỉ biết tự lo liệu lấy một mình. Nhưng “Phúc thay ai bước đi không phải nhờ cái nhìn, mà nhờ sự phó thác của niềm tin” (Sh Roger). Quả thật, lòng tin của chúng ta đã nhiều lúc yếu ớt, mong manh – một khi chúng ta không biết tín thác vào Chúa Kitô để có sự bình an, không còn chia sẻ con đường thập giá như một phương tiện để hưởng nhờ vinh quang với Ngài (Mai Chi, CG và DT, số Giáng sinh 95, tr 228).
- Ta phải nỗ lực
Chúa luôn yêu thương ta, Chúa không bao giờ “đem con bỏ chợ”. Nhưng thương yêu không có nghĩa là lúc nào Ngài cũng âu yếm ôm ta vào lòng, chiều chuộng như một đứa con nít, nhưng Chúa muốn ta phải trưởng thành, phải chịu gian nan thử thách để thành nhân.
Tuy Chúa để ta phải chịu thử thách, Ngài đã đo lường sức chịu đựng của chúng ta, không bao giờ chúng ta phải chịu thử thách quá mức. Chúa chỉ đòi chúng ta cộng tác một nửa hay ít ra một phần, còn bao nhiêu thì để phần cho Chúa, giống như trường hợp các Tông đồ chỉ cung cấp cho Chúa có 5 cái bánh và 2 con cá, nhưng Chúa đã làm cho 5000 người đàn ông ăn no không kể đàn bà con trẻ, lại còn thu được 12 thúng bánh vụn.
Muốn thành công, Chúa đòi chúng ta phải cộng tác, Chúa không chịu làm một mình. Thánh Augustinô đã có kinh nghiệm về chân lý ấy khi viết trong cuốn “Tự thuật” :”Lạy Chúa, khi dựng nên con Chúa không cần có con, nhưng Chúa không thể cứu con nếu con không cộng tác’.
Truyện : Phải kiên trì
Ông Paden Powell kể : Có hai con ếch té nhào vào trong một lu sữa to lớn. Cả hai dẫy dụa và mệt lử. Một con nản lòng và chết đuối. Con kia cũng thất vọng, nhưng mà điều đó càng khiến nó vùng vẫy đến nỗi nó trèo được lên đỉnh một khối bơ, vì nhờ vậy mà nó thoát chết.
- Ta phải cầu nguyện
Trong cuộc sống chúng ta gặp phải nhiều khó khăn, những ngăn trở làm cho chúng ta hoang mang. Chúng ta có thể tham khảo ý kiến của những người khôn ngoan, hiểu biết hơn, nhưng những hiểu biết đó chỉ có hạn ; hơn nữa những khó khăn ấy vượt khả năng của chúng ta, chỉ còn một lối thoát là hãy chạy đến với Chúa, xin Ngài giúp đỡ. Hãy theo gương thánh Phêrô kêu xin Chúa giúp :”Lạy Thầy, xin cứu con”. Hãy nhìn thẳng vào Chúa, đừng rời Chúa. Bao lâu con mắt ta rời Chúa là ta thất bại vì chỉ biết nhìn vào chính mình hoặc vào người khác.
Truyện : Hãy nhìn lên.
Vào lúc mới có thuyền buồm, một cậu bé nọ xin đi biển để học làm thủy thủ. Một hôm biển có bão, người ta bảo cậu leo lên trên cột buồm. Leo được nửa phần đầu thì dễ dàng vì cậu cứ đưa mắt gắn chặt vào bầu trời. Nhưng đến lưng chừng cậu lại phạm một sai lầm. Cậu nhìn xuống mặt nước biển trong cơn bão, thế là cậu bị chóng mặt và sắp sửa ngã xuống.
Thấy thế, một thủy thủ già la to lên với cậu :”Này nhóc, ngước nhìn lên lại bầu trời đi ! Nhìn lên lại bầu trời đi”. Cậu bé nghe theo lời chỉ dẫn và cuối cùng đã leo lên được an toàn.
Lỗi lầm của cậu bé, giống hệt lỗi lầm của Phêrô trong bài Tin mừng hôm nay. Cậu ta đã rời mắt khỏi đích nhắm của mình và đã nhìn xuống mặt biển giông tố giống như Phêrô đã rời mắt khỏi Chúa Giêsu và nhìn xuống mặt biển giông tố.
(M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 242)
Bài Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta thẳng thắn nhìn vào cuộc sống của mình. Nếu chúng ta không cảm nghiệm được sự bình an là niềm vui thiêng liêng mà ta đã từng cảm nhận, thì chắc hẳn là vì chúng ta đã rời khỏi mắt Chúa Giêsu. Nếu chúng ta đang sắp bị bão tố cuộc đời nuốt trửng, thì có lẽ là vì chúng ta đã rời mắt đi xa Chúa Giêsu.
Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà Lạt
…………………………………………
Suy Niệm 4: Con mắt là cửa sổ của linh hồn
“Người ta chỉ nhìn thấy rõ ràng bằng trái tim”. Đây là một câu được trích trong tác phẩm “Hoàng Tử Nhỏ” của Antoine de Saint-Exupéry. Trên cơ bản chúng ta không thể phủ nhận, con mắt của chúng ta là một trong những cơ quan cảm giác quan trọng nhất. Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta muốn thu nhận và đánh giá sự việc một cách hiệu quả và nhanh nhất có thể. Những gì mắt thấy tai nghe càng có chất lượng. “Nói có sách, mách có chứng” càng làm tăng vẻ thuyết phục. Nhưng chúng ta chỉ mới đánh giá tất cả qua khía cạnh thị giác, qua dáng vẻ bề ngoài như một tổng thể, chẳng hạn như nét mặt hay cử chỉ. Ngày nay các phương tiện truyền thông đã lợi dụng yếu điểm này để nhồi nhét và lũng đoạn cuộc sống con người. Những cơn bão tin tức gây sốt, phim ảnh và tài liệu kéo đến dồn dập không ngoài mục đích thoả mãn thị hiếu và khống chế khả năng cảm nhận qua thị giác của con người.
Trong lãnh vực tôn giáo thì khó khăn hơn, bởi vì phần cốt yếu thường không lộ diện. Những gì chúng ta nhìn thấy chỉ là phần nổi của một tảng băng. Phần nhiều chỉ được tỏ lộ một cách gián tiếp qua những dẫn chứng của Kinh thánh hay những dấu chỉ. Kitô giáo chứa đựng rất nhiều biểu tượng và dấu chỉ tôn giáo. Tất cả đều hướng đến và mô tả cụ thể một điều gì đó. Phần cốt yếu của đức tin Kitô giáo chúng ta không thể nhìn thấy, nhưng chỉ có thể cảm nhận và phỏng đoán. Con mắt chính là cửa sổ của tâm hồn. Thánh giá, bánh và rượu, cây nến Phục sinh, bàn thờ và áo lễ của linh mục chỉ là đại diện cho một thực tại sâu thẳm hơn. Linh mục là đại diện của Đức Kitô khi dâng lễ và hôn chính Ngài khi hôn bàn thờ. Đức Kitô là Con Thiên Chúa và đồng thời là tâm điểm của niềm tin Kitô giáo. Chính Ngài cũng là người bằng xương bằng thịt như mỗi người trong chúng ta nhưng ngày nay chúng ta không thể dùng con mắt thế trần để trực tiếp nhận biết Ngài.
Ngôn sứ Êlia là một tiên tri trứ danh nhưng chính ông cũng cần một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa để tăng cường lòng tin của ông. Ông đã lật đổ và giết hại các linh mục của phái Baal nhưng giờ đây ông bị kẻ thù truy đuổi, phải trốn chạy vào sa mạc. Ông đã cùng đường bí lối, sức tận lực kiệt. Ông không thể tiếp tục cũng không muốn nữa. Ông đã can đảm làm chứng cho lòng tin của mình và tin rằng mình đã hành xử đúng đắn nhưng bây giờ ông muốn kiểm chứng lại tất cả. Ông lên đường tiến về núi Horeb là nơi khởi đầu niềm tin của ông. Cảm nghiệm về sự hiện diện của Thiên Chúa vượt ra ngoài sức tưởng tượng và chờ đợi của ông. Đao to búa lớn chỉ là thùng rỗng kêu to, không chứng minh được gì. Thiên Chúa không hiện diện trong bão tố, trong lửa hay trong cơn động đất. Nhưng một cơn gió thoảng qua làm thay đổi tất cả. Thiên Chúa hiện diện nơi cô tịch của tâm hồn. Cách Ngài xuất hiện nằm ngoài mọi suy đoán của chúng ta. Ông phải che mắt lại để có thể cảm nhận sự hiện diện của Thiên Chúa bằng trái tim.
Thánh sử Mátthêu tường thuật một thí dụ khác. Hành trình đi trên biển của Đức Giêsu tạo nên một trường căng thẳng giữa nhìn và giống như không nhìn, giữa hãi sợ và tin tưởng. Sự nhận thức của các Tông đồ thường dừng ở chỗ lưng chừng, bởi vì các ông không thực sự nhìn thấy hoặc chỉ nhìn thấy một phần của tổng thể. Họ bị chao đảo giữa hai thái cực, một bên là nỗi sợ và nghi hoặc, một bên là tin tưởng và an ninh. Chiếc ghe tròng trành vì bị sóng vỗ là một hình ảnh cụ thể.
Con mắt là một cơ quan cảm giác rất quan trọng trong cuộc sống hằng ngày. Thông thường tất cả chỉ là một ánh nhìn thoáng qua và bề ngoài. Nếu muốn cảm nhận sâu xa hơn thì chúng ta cần nhiều thứ hơn. Lòng tin của chúng ta cũng vậy. Muốn sống lòng tin Kitô giáo thì đừng nhẹ dạ liều lĩnh tin tưởng mù quáng những gì mắt thấy tai nghe. Và ngược lại chưa gì đã cuống cuồng sợ hãi cũng không phải là cách. Lênin nói một câu rất chí lý: Tin thì tốt, nhưng kiểm tra thì tốt hơn.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức