BÀI ĐỌC I: Dcr 9, 9-10
Đây Chúa phán: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy nhảy mừng; hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy reo mừng! Này vua ngươi đến với ngươi. Người là Đấng công chính và là Đấng cứu độ; Người khiêm tốn ngồi trên lừa con, con của lừa mẹ. Người đã loại bỏ các chiến xa khỏi Ephraim, và ngựa khỏi Giêrusalem. Cung tên chiến trận sẽ được phá huỷ. Người sẽ công bố hoà bình cho các dân tộc. Quyền bính của Người sẽ bành trướng từ biển này đến biển nọ, từ sông cái đến tận cùng trái đất”.
BÀI ĐỌC II: Rm 8, 9. 11-13
Anh em thân mến, anh em không sống theo xác thịt, nhưng sống theo tinh thần, nếu thật sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em. Nếu ai không có Thánh Thần của Đức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người. Và nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Kitô từ cõi chết sống lại, cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống, nhờ Thánh Thần Người ngự trong anh em.
Anh em thân mến, chúng ta không phải là những kẻ mắc nợ xác thịt, để chúng ta sống theo xác thịt. Vì chưng, nếu anh em đã sống theo xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Trí mà anh em đã giết được các hành động (xấu xa của) thân xác, thì anh em sẽ được sống.
PHÚC ÂM: Mt 11, 25-30
Khi ấy, Chúa Giêsu lên tiếng nói rằng: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. – Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho.
“Tất cả hãy đến với Ta, hỡi những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhượng trong lòng, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an. Vì ách của Ta thì êm ái, và gánh của Ta thì nhẹ nhàng”.
Suy Niệm 1: KHIÊM TỐN, HIỀN LÀNH, THƯƠNG XÓT LÀ CON ĐƯỜNG BÌNH AN
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
Chúa Nhật tuần trước, lời Chúa mời gọi chúng ta nhìn lại thái độ và phần thưởng dành cho những người quảng đại đón tiếp anh chị em mình nhân danh Chúa Giêsu. Lời Chúa tuần này đưa chúng ta vào mầu nhiệm của niềm vui trong Chúa, niềm vui của những người được Thiên Chúa mạc khải mầu nhiệm nước trời. Như chúng ta biết, niềm vui luôn là một trong những hương vị không thể thiếu của cuộc sống. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta trở nên những chứng nhân của Niềm Vui Tin Mừng. Chúng ta là những người sống niềm vui của ơn cứu độ. Niềm vui cứu độ này được diễn tả trong bài đọc 1 qua lời sấm của Ngôn sứ Dacaria. Ngôn sứ Dacaria nói với thiếu nữ Xion “hãy vui mừng hoan hỷ!” và thiếu nữ Giêrusalem “hãy vui sướng reo hò!” (Dcr 9:9). Niềm vui của thiếu nữ Xion và thiếu nữ Giêrusalem là “vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ” (Dcr 9:9). Chi tiết này khiến chúng ta đặt câu hỏi cho chính mình: Niềm vui của tôi hệ tại điều gì? Có phải hệ tại việc tôi có Chúa thật gần trong tim tôi, trong cuộc đời của tôi? Chúng ta có hàng ngàn lý do để vui mỗi ngày. Nhiều lần, chúng ta đi tìm những thành công thật lớn để vui và quên mất hương vị cuộc sống hệ tại những niềm vui trao ban nhỏ bé mỗi ngày, niềm vui của những phúc lành Thiên Chúa ban cho ngày sống. Niềm vui chỉ có được khi chúng ta thật sự có bình an trong cuộc sống. Ngôn sứ Dacaria đã nói cho con cái Israel biết rằng niềm vui là hệ quả của bình an mà Đức Chúa tái thiết cho con cái Israel sau thời kỳ chinh chiến: “Người sẽ quét sạch chiến xa khỏi Épraim và chiến mã khỏi Giêrusalem; cung nỏ chiến tranh sẽ bị Người bẻ gãy, và Người sẽ công bố hoà bình cho muôn dân. Người thống trị từ biển này qua biển nọ, từ sông Cả đến tận cùng cõi đất” (Dcr 9:10). Kinh nghiệm đi tìm bình an sau thời kỳ chinh chiến của con cái Israel cũng là kinh nghiệm của mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng đi tìm bình an và niềm vui sau những sóng gió cuộc sống. Nhưng chúng ta cần lưu ý rằng, chỉ với và trong Thiên Chúa chúng ta mới có được sự bình an và niềm vui đích thật.
Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nói về hai lối sống: Lối sống đi tìm niềm vui của xác thịt và lối sống đi tìm niềm vui trong thần khí. Thánh Phaolô nhắc cho các tín hữu Rôma rằng: “Thưa anh em, anh em không bị tính xác thịt chi phối, mà được Thần Khí chi phối, bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em. Ai không có Thần Khí của Đức Kitô, thì không thuộc về Đức Kitô” (Rm 8:9). Điều này không có nghĩa là chúng ta không còn cảm thấy gì trong thân xác yếu đuối của mình, nhưng là chúng ta không còn sống theo những khuynh hướng tự nhiên của thân xác, mà được Thần Khí hướng dẫn đến sự sống mới: “Lại nữa, nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8:11). Trong Thần Khí, chúng ta chết đi cho con người ích kỷ của mình và chỉ sống cho Chúa và anh chị em mình: “Vậy thưa anh em, chúng ta mang nợ, không phải mang nợ đối với tính xác thịt, để phải sống theo tính xác thịt. Vì nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:12-13). Lời dạy của Thánh Phaolô đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm của con người. Nói cách cụ thể hơn, mỗi người chúng ta đôi khi cảm nhận được sự giằng co giữa tính xác thịt và sự lôi kéo của Thần Khi. Khi gặp một điều gì trái ý, chúng ta dễ dàng chiều theo tính xác thịt để phản ứng theo bản tính tự nhiên. Nhưng ngay lúc đó, chúng ta cũng cảm nghiệm một sức mạnh mời gọi chúng ta vượt qua những gì bản tính tự nhiên lôi kéo. Đây là một cuộc chiến đấu nội tâm mà mỗi người chúng ta phải đối diện trong đời sống hằng ngày. Hãy để Thiên Chúa lớn lên trong chúng ta mỗi ngày, để chúng ta không còn sống theo tính xác thịt của mình, nhưng hiến dâng thân xác làm của lễ đẹp lòng dâng lên Thiên Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta tiếng kêu của niềm vui và lời mời gọi của Đấng Cứu Độ. Trình thuật Tin Mừng bao gồm một câu chuyện mang tính mạc khải mà trong đó Chúa Giêsu xuất hiện để mạc khải về sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Theo cấu trúc, chúng ta có thể chia trình thuật ra làm ba phần: (1) lời tạ ơn về mạc khải (Mt 11:25-26); (2) nội dung của mạc khải (Mt 11:27); (3) lời mời gọi đến với mạc khải (Mt 11:28-30). Theo các học giả Kinh Thánh, cấu trúc này giống với cấu trúc trong sách Sirắc 51:1-12,13-22,23-30, nhưng chỉ có 51:23-30 thật sự gần với Mt 11:28-30.
Trong lời tạ ơn về mạc khải, Chúa Giêsu đã nói: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Mt 11:25-26). Những lời mở đầu [Lạy Cha là Chúa Tể trời đất] là công thức chúc lành đặc trưng của người Do Thái. Nhưng Chúa Giêsu thêm lời gọi thân tình Abba – Cha, vào trong công thức để cho thấy mối tương quan mật thiết giữa Ngài và Thiên Chúa của Israel. Trong lời tạ ơn này, Chúa Giêsu chỉ ra lý do của tạ ơn, đó là “mạc khải mầu nhiệm nước trời cho những người bé mọn.” Chúng ta tự hỏi, tại sao Chúa Cha lại giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết mầu nhiệm Nước Trời? Đây là lối nói tượng hình ám chỉ sự kiêu ngạo của những bậc khôn ngoan thông thái theo tiêu chuẩn con người. Họ cho rằng mình biết hết mọi sự. Nhưng mầu nhiệm nước trời chỉ được mạc khải cho những người đơn sơ, không học hành. Điều đẹp ý Thiên Chúa là vén mở mầu nhiệm Nước Trời cho những người được xem là bị loại ra ngoài. Đây là quyết định của Thiên Chúa để chọn một số người đến với ơn cứu độ. Chi tiết này cho thấy, mạc khải về tình yêu và ơn cứu độ là quyết định theo ước muốn của Thiên Chúa chứ không theo ước muốn con người.
Nội dung của mạc khải chính là Chúa Cha và không ai có thể đến được với Chúa Cha nếu Chúa Con không mạc khải cho: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho” (Mt 11:27). Trong những lời này, Chúa Giêsu khẳng định Ngài là “truyền thống cá vị của Thiên Chúa.” Nói cách khác, Ngài là “lời mạc khải tuyệt đối” về Thiên Chúa. Trong những lời trên Chúa Giêsu công bố Ngài chính là con đường “độc nhất vô nhị” để đến với Chúa Cha. Ngài chính là lối đi duy nhất để đạt đến sự hiểu biết và tình yêu của Chúa Cha. Bên cạnh đó, trong câu khẳng định của mình, Chúa Giêsu cũng cho thấy sự hiểu biết và tình yêu hỗ tương giữa Ngài với Chúa Cha. Ngài chính là mạc khải duy duy nhất về Chúa Cha (x. Mt 1:23; 28:18; Ga 3:35; 10:15; 13:3). Khi đến với Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi gắn bó với Chúa Giêsu, vì chỉ nơi Ngài chúng ta mới biết và cảm nghiệm cách cụ thể tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Những lời mời gọi đến với mạc khải của Chúa Giêsu thật nhẹ nhàng, êm ái: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11:28-30). Trong những lời này, Chúa Giêsu được nói đến như Sự Khôn Ngoan được cá vị hoá (x. Cn 8), với những đặc tính của người nữ như là người mang lại sự nghỉ ngơi và bồi dưỡng. Lời mời gọi của Ngài dành cho hết mọi người. Ngài mời gọi họ đến với Ngài để mang lấy ách của Ngài. Theo các học giả Kinh Thánh, các rabbi nói về cái ách của Luật [Torah] và cái ách của vương quốc [bị đô hộ]. Ở đây, cái ách của Chúa Giêsu ám chỉ lời giải thích luật của Ngài. Người môn đệ không chỉ mang lấy ách của Chúa Giêsu, nhưng còn học ở nơi Ngài. Chúa Giêsu, Đấng khiêm nhường và hiền lành, vừa là thầy dạy vừa là khuôn mẫu của các môn đệ vì Ngài chính là Luật được cá vị hoá. Là những người môn đệ của Chúa Giêsu, chúng ta đã học ở nơi Ngài sự khiêm nhường và hiền lành trong lời ăn tiếng nói, trong cách cư xử của mình với anh chị em của mình chưa? Nếu chưa, hãy bắt đầu từ hôm nay!
Lm. Anthony, SDB.
…………………………
Suy Niệm 3: HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG
A. DẪN NHẬP
Ngày nay, người ta say mê quyền lực và muốn khuất phục người khác dưới quyền mình, muốn sai khiến người khác theo ý mình. Con người có khuynh hướng trở nên kiêu ngạo. Người ta có dị ứng khi nói đến lời dạy “ hiền lành khiêm nhường “của Đức Kitô, nhất là khuyên chúng ta hãy thực hiện đức tính này.
Tuy nhiên, là Kitô hữu, chúng ta cần đi bước theo chân Chúa Kitô. Người đã đến chia sẻ kiếp người của chúng ta, Người đã đi đến mức cùng của việc tự hạ : sống chung thân phận với người nghèo khổ, như người tôi tớ rốt hết. Hiền lành và khiêm nhường là những đức tính mà Chúa Giêsu đã thực hiện trước và khuyên các môn đệ hãy đem ra thực hành :”Các con hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
Thực ra, truớc Chúa Giêsu mấy trăm năm, nhà hiền triết Lão Tử cũng đã đưa ra chủ trương:”Nhu nhược thắng cương cường” : lấy mềm dịu thắng cứng rắn (nhu thắng cương, nhược thắng cang). Đây là một chủ trương mới lạ, khó được chấp nhận, chỉ những người có tâm hồn cao thượng mới hiểu và chấp nhận được chủ trương này. Hôm nay chúng ta thấy lời khuyên của Chúa Giêsu rất gần với chủ trương của Lão Tử. Và trong thực tế, có rất nhiều người đã thực hiện lời khuyên của Chúa Giêsu. Họ đã thành công và đã để lại tấm gương sáng muôn đời cho nhiều người. Chúng ta hãy nhớ lại lời khuyên của Chúa Giêsu trong “Tám mối phúc thật” :”Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Dcr 9,8-10.
Trong thời Chúa Giêsu, người ta đang trông chờ Đấng Messia đến cứu dân Người với hình ảnh là một Đấng Messia đầy quyền uy, dùng võ khí để tái lập hoà bình. Nhưng tiên tri Giacaria lại loan báo cho dân thành Giêrusalem biết : Đấng Messia không đến trong quyền uy với võ khí hủy diệt, nhưng đến với một thứ võ khí đặc biệt là “hiền lành và khiêm nhường”.
Theo đó, Đấng Messia sẽ đến cũng là một vị Vua nhưng là vị Vua có những đức tính khác biệt :
. Ngài không phải là vị vua chiến tranh nhưng là vua hòa bình.
. Ngài rất khiêm nhường, không ngồi trên lưng ngựa mà trên lưng lừa.
. Ngài rất hiền lành : không muốn giết chết mà chỉ muốn cứu sống.
Đức Giêsu sẽ hoàn tất việc mong chờ này vào ngày lễ Lá, khi Người vào thành Giêrusalem trên lưng một con lừa, như những người nghèo.
+ Bài đọc 2 : Rm 8,9.11-13.
Đây là đề tài phụ. Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta rằng khi được chịu phép rửa tội, chúng ta thực sự đã trở nên môn đệ Chúa Kitô, và để phục sinh với Người chúng ta phải sống theo thần khí của Người (tức là Thánh Thần) chứ đừng “sống theo xác thịt” là mọi khuynh hướng xấu sẵn có trong chúng ta.
Ai sống đời sống cũ tức là sống theo xác thịt sẽ bị dẫn đến sự chết. Còn ai sống đời sống mới tức là sống theo Thánh Thần sẽ được dẫn tới sự sống vĩnh cửu.
+ Bài Tin mừng : Mt 11,25-30.
Trong bài Tin mừng hôm nay, chúng ta có thể tìm thấy hai ý tưởng chính :
a) Chúa Giêsu tạ ơn Chúa Cha vì Người qúi chuộng những kẻ bé mọn và khiêm nhường. Chính Người đã tiết lộ bí mật của Người cho họ trong khi Người lại giấu không cho những người khôn ngoan và quyền thế biết được những điều ấy. Vì sao ? Vì các luật sĩ và biệt phái đáng lẽ ra phải là những người đầu tiên nhận ra rằng Chúa Kitô là sứ giả của Thiên Chúa. Nhưng sự hiểu biết về Sách Thánh của họ đã làm cho họ đầy kiêu căng, một thứ vật cản.
b) Sang phần sau, Chúa Giêsu cho biết, vì không tự mãn, những trí óc khiêm nhường của những kẻ bé mọn lại được mở ra ngay từ đầu đối với những mầu nhiệm của Chúa. Họ đã nhận ra Chúa Giêsu là sứ giả của Thiên Chúa và đón nhận lời Người
Nhân dịp này, Chúa Giêsu cũng khuyên những người bé mọn đó hãy “mang lấy ách của Ngài” tức là “hãy học cùng Ngài” về hai đức tính căn bản là “Hiền lành và khiêm nhường” trong cuộc sống hằng ngày để làm môn đệ Chúa.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Người hiền lành khiêm nhường
Trong phần thực hành lời Chúa, chúng ta chỉ bàn đến lời khuyên của Chúa trong phần thứ hai của bài Tin mừng : “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”.
I NÓI VỀ HIỀN LÀNH VÀ KHIÊM NHƯỜNG
1. Nói về hiền lành
Hiền lành hay hiền hậu là con người tốt lành, không độc ác, nhưng có lòng thương người , có đức hạnh và hay làm điều thiện. Ví dụ : Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Theo nguyên ngữ Hy lạp được dùng trong Kinh thánh thì nó có nghĩa là dịu dàng, ngọt ngào, không thô bạo cứng cỏi. Như thế hiền lành phải có cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong thì phải êm ái, hòa nhã, yêu thương, khoan dung, thông cảm. Bên ngoài thì phải nhẹ nhàng, không có hành động cứng rắn hay thô bạo.
Hiền lành thì phải tránh tính nóng nảy. Trong đời sống hằng ngày, người có quyền bính đều xử dụng tính nóng nảy của mình đối với người khác, có khi còn “giận cá băm thớt”. Người ta từng nói :”No mất ngon, giận mất khôn”. Cho nên, để luôn luôn tự cảnh giác, ông Nguyễn đình Giản, thời Lê mạt, đã viết vào một mảnh giấy, dán lên chỗ ngồi giải trí, câu này :
Tảo cấp tắc bại sự
Nóng tính thì hỏng việc.
- Nói về khiêm nhường
Theo chữ thì Khiêm nhường hay khiêm nhượng là nhún nhường không khoe khoang, hạ mình xuống một chút. Căn bản của khiêm nhường là biết mình “là” thế nào : từ đó không muốn tỏ ra hơn cái “là” ấy ; và giả như người khác có coi mình kém hơn cái “là ấy” thì mình cũng không màng tới. Điều quan trọng là sống thanh thản và thành thật đúng với cái “là” của mình.
Khiêm nhường trái ngược với kiêu ngạo. Kiêu ngạo là muốn tự cho mình vượt quá cái “là” của mình và bắt người ta phải công nhận như vậy. Người kiêu ngạo được coi là người VIỆT VỊ trong bóng đá vì đã vượt quá vị trí của mình. Dĩ nhiên, cầu thủ “việt vị” thì đều bị trọng tài phạt.
Truyện : Hoàng đế Napoléon kiêu ngạo.
Trong trận đánh Nga, hoàng đế Napoléon đã mơ tưởng thu phục cả Ấn độ, và với lòng kiêu căng vô biên, nhà vua đã cho đúc một thứ huy chương có dòng chữ này :”THIÊN ĐÀNG LÀ CỦA CHÚA, TRÁI ĐẤT LÀ CỦA TÔI”. Nhưng rồi nhà vua đã mất ngôi báu vì trận Nga này. Sau trận thất bại của nhà vua, một viên đại tướng Nga cũng cho đúc một huy chương khác, trên mặt có một hình bàn tay đưa ra đám mây và cầm roi đánh vào lưng Napoléon cùng với lời này :”CÁI LƯNG LÀ CỦA MÀY, CÁI ROI LÀ CỦA TA”. Và như thế, vị hoàng đế kiêu ngạo, sau này trong nơi vắng vẻ bị tù đầy ở đảo Sainte Helène có thể suy nghĩ đến chân lý về những lời này của Chúa :”Kẻ nào đưa mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (Mt 23,12).
II. NGƯỜI ĐỜI NGHĨ THẾ NÀO ?
Tùy theo quan niệm của người ta, hiền lành nhịn nhục có thể bị coi như một thái độ hèn nhát, nhu nhược. Nhưng cũng có rất nhiều người coi đó là thái độ anh hùng đáng ca tụng. Phải là một con người có bản lĩnh vững vàng cao thượng mới có thể thực hiện được.
- Thái độ hèn nhát
Ngày nay sự hiền lành dễ thương không còn được đánh giá cao như trước. Trước đây lời khen ngợi tốt nhất mà ta có thể trao tặng cho kẻ khác là gọi họ là “người hiền lành dễ thương”. Nhưng ngày nay, bạo lực lại phổ biến hơn hiền lành dễ thương. Truyền hình đã làm cho bạo lực có rất nhiều khán giả bằng những chương trình Nielson rất phổ biến (bên Mỹ).
Nếu thi sĩ Alfred de Vigny coi cầu nguyện và than vãn là thái độ hèn yếu, thì đối với ông và với nhiều người khác, họ nghĩ sao với lời Chúa :”Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” ? Có lẽ họ muốn theo cách hành động của anh chàng Tân Ti Tụ suốt đời không chịu để cho ai làm nhục .
Truyện : Anh chàng Tân Ti Tụ.
Đời Trang Công nuớc Tề có người tên là Tân Ti Tụ đêm nằm mơ thấy một chàng cao lớn đội mũ trắng đi giầy mới, mặc quần gai, áo vải, đeo gươm tự dưng đến nhà mắng, nhổ vào mặt mà đi.
Tân Ti Tụ giật mình thức dậy, tuy biết chiêm bao nhưng vẫn tức tối, suốt đêm bực rọc khó chịu, không ngủ được.
Sáng dậy, Tân Ti Tụ mời một bạn thân đến nói rằng :
– Bác ạ, tôi từ nhỏ đến giờ vẫn là kẻ hiếu dũng, nay sáu mươi tuổi rồi mà chưa hề chịu ai làm nhục, thế mà đêm qua bị một đứa, tôi phải đi tìm để báo thù, nếu thấy thì hay, còn không tôi chết mất.
Thế rồi từ hôm ấy, sáng nào Tân Ti Tụ cũng cùng bạn ra đứng ngoài đường cái để rình. Rình mãi ba ngày không thấy, rút cục Tân Ti Tụ phải uất lên mà chết (Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, 1965, tr 134).
- Thái độ can đảm
Ngược lại với thái độ của những kẻ tầm thường chỉ biết hành động theo tình tư dục, những bậc thánh nhân, hiền nhân quân tử có cái nhìn khác hẳn. Những kẻ tầm thường không có cái suy nghĩ và hành động như các vị đó.
Thánh Francois de Sales nói :”Tất cả đều được chinh phục bởi hiền dịu chớ không phải bạo lực”.
Nhà hiền triết Mạnh Tử nói :
“Thiên đạo vô thân. Thường dữ thiện nhân”
Đạo trời không riêng một người. Luôn gia ân cho kẻ hiền lành.
Ông Tô đông Pha, một văn sĩ Trung hoa thời xưa nói rất chí lý :
“Chỗ mà người xưa gọi là hào kiệt, ắt phải có khí tiết hơn người. Nhưng, nhân tính có chỗ không thể nhịn được. Bởi vậy, kẻ thất phu gặp nhục, tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Kẻ Đại dũng trong thiên hạ, trái lại, thình lình gặp những việc phi thường cũng không kinh, vô cố bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão của họ rất lớn và chỗ lập chí của họ rất xa vậy”.
Để làm nổi bật cái triết lý “Nhu nhược thắng cương cường” trong phương diện cách mạng, ông Nguyễn duy Cần trong cuốn “Cái Dũng của thánh nhân” đã đề cập đến cuộc giải phóng Ấn độ do ông Gandhi điều khiển. Chính sách đề kháng bất bạo động của Gandhi đã làm cho thế giới hết sức ngạc nhiên và thán phục. Đâu phải người ta không biết dùng bạo động, nhưng vì người ta cho đó là còn hạ sách.
Ông Gandhi nói :”… Tôi tin rằng Ấn độ không phải là vô lực. 100.000 người Anh làm gì mà đến 300 triệu người Ấn kia phải sợ ? Bất bạo động đâu phải chịu lụy kẻ làm hại mình. Bất bạo động, là dùng sức mạnh của cả tâm hồn để chống lại với cường quyền của kẻ độc tài”.
Một người như thế thôi cũng đủ khiêu khích cả một đế quốc và làm cho nó “tan tành nghiêng ngửa”.
Truyện : Lạn Tương Như và Liêm Pha.
Lạn Tương Như được phong làm tướng quốc. Liêm Pha cậy mình có nhiều công hơn mà lại bị đứng dưới, nên tức giận hăm he hễ gặp mặt Tương Như là giết đi. Tương Như vì thế cứ lánh mặt mãi… Một hôm Tương Như ra ngoài, gặp toán lính tiền đạo của Liêm Pha, vội sai tên đánh xe đi tránh vào trong ngõ, đợi Liêm Pha đi qua rồi mới đi ra. Bọn xá nhân thấy thế càng giận bèn họp nhau hỏi Tương Như :
– Chúng tôi bỏ nhà cửa, xa thân thích đến đây hầu ngài, tức coi ngài là bậc thượng phu nên mến mà theo. Nay ngài cùng Liêm tướng quân cùng hàng mà hạng thứ lại ở trên. Liêm Pha dọa, ngài đã không báo lại, đã tránh ở triều, nay lại tránh ở ngoài đường. Sao ngài lại sợ quá thế vậy ? Chúng tôi lấy làm xấu hổ, vậy xin đi thôi không ở nữa.
Tương Như nói :
– Các ngươi xem tướng quân có hơn được vua Tần không ?
Bọn xá nhân đáp :
– Không.
Tương Như nói :
– Lấy cái oai của vua Tần, thiên hạ ai dám chống, mà Tương Như này dám mắng giữa triều đình, lại làm nhục cả quần thần nữa. Tương Như dẫu hèn, há lại sợ một Liêm tướng quân ư ? Nhưng ta nghĩ, Tần sở dĩ không dám đánh Triệu là vì e có ta và Liêm tướng quân. Nay hai con hổ tranh nhau, thế không cùng sống. Tần nghe tin, tất thừa cơ đánh Triệu. Ta sở dĩ chịu nhục tránh Liêm tướng quân là coi việc nước là trọng và thù riêng là khinh vậy thôi.
Bọn xá nhận mọp lạy mà rằng :
– Tiểu nhân chúng tôi trí hẹp làm gì hiểu nổi đại chí của tướng công.
Liêm Pha khi nghe thuật lại việc làm của Tương Như cả thẹn mà rằng :”Ta thật còn kém Lạn Tương Như xa lắm”. Bèn đến tạ tội với Tương Như, qùi mọp mà rằng :”Tôi tính thô bạo, đội ơn tướng quân bao dung, nghĩ lấy làm hổ thẹn quá”. Tương Như đỡ dậy, nắm tay cùng khóc và kết làm bạn sống chết với nhau.
(Nguyễn Duy Cần, Cái DŨNG của thánh nhân, 1958, tr 162-163)
III. CHÚNG TA NGHĨ SAO ?
Mỗi người phải lựa chọn cho mình một hướng đi. Chúng ta phải có lựa chọn nào trước lời Chúa dạy :”Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” ? Thái độ của người hiền lành là hèn nhát hay can đảm ?
Đối với chúng ta, sự hiền lành và khiêm nhường của Đức Giêsu đã làm cho không biết bao người đương thời với Chúa Giêsu và bao thế hệ sau này ngỡ ngàng và kinh ngạc.
Truyện : BEN HUR
Nhà văn Lewis Wallace trong tác phẩm BEN HUR cũng nói lên tâm tư sững sờ trước sự khiêm nhường sâu thẳm của Đức Kitô :
Ben Hur khi chứng kiến cảnh Đức Kitô bị Giuda phản nộp và bị các tên lính bắt trói, chàng hăm hở tiến đến gần Chúa Giêsu và hỏi :
– Lạy Thầy, hãy nghe tôi, có phải Thầy tự ý muốn đi theo bọn lính và các giáo sĩ hay không ?
Đức Giêsu lặng thinh.
– Lạy Thầy, tôi có một binh đoàn quân Galilê trong thành phố này. Hãy ra lệnh đi, họ sẽ phục tùng Thầy. Thầy có thuận không ?
Đức Giêsu vẫn một mực cúi nhìn đăm đăm xuống đất.
– Lạy Thầy, một lời thôi, một lời của Thầy thôi, tất cả sẽ theo Thầy…
Đức Giêsu vẫn im lặng, đến nỗi Ben Hur ngã vật xuống bờ sông Cédron và thốt lên :
– Người Nazareth, hỡi người Nazareth, thế thì thông điệp của Người mang ý nghĩa gì ?
Mang một ý nghĩa gì ư ? Đó là “Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Đó là thông điệp mà Đức Giêsu gửi cho mọi người chúng ta. Ngài đã làm gương trước, chúng ta chỉ việc học đòi bắt chước Ngài thôi.
Qua những tư tưởng trên, chúng ta thấy sự hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô không là một sự nhu nhược nhát đảm, nhưng đó là đức tính của những vĩ nhân, của những bậc đại thánh. Bởi vì chính tính khí kiêu căng đã làm cho thế giới bị đảo lộn, hận thù ghen ghét, chiến tranh. Những kẻ kiêu căng tự mãn là những tiểu nhân, hèn mọn, còn những tâm hồn hiền lành khiêm nhường là bậc anh hùng vì họ đã anh dũng chiến thắng được bản thân với những tính tự ái ích kỷ hẹp hòi. Đó mới là cuộc chiến quan trọng, và cái chiến thắng của cuộc chiến đó mới đáng kể.
Truyện : Đức Gioan 23 và bức thư.
Lúc được phong chức Tổng giám mục, Đức Cha Roncalli là khâm sứ Toà thánh kiêm đại diện Tông tòa quản trị các giáo phận ở Bungari và Thổ. Công việc của ngài rất khó khăn, vì phải trông coi một vùng rộng lớn đang sôi động về mặt chính trị, chia rẽ về mặt tôn giáo, Công giáo với Tin lành, Chính thống, Hồi giáo, các linh mục triều lại chia rẽ với các tu sĩ.
Trong lúc thi hành công việc mục vụ, Đức Tổng giám mục Roncalli nhận được một bức thư nặng lời chê bai chỉ trích Ngài về mọi mặt, do tay một linh mục bất mãn viết. Đọc xong, Đức cha Roncalli không nói một lời, lòng vẫn tha thiết yêu vị linh mục ấy.
Thời gian trôi qua, ngài được thăng chức sứ thần Toà thánh tại Paris, rồi hồng y giáo chủ Vênêcia, và cuối cùng đắc cử Giáo hoàng với danh hiệu Gioan 23 năm 1958.
Linh mục bất mãn viết thư năm nào vẫn còn sống. Về sau để ngài tháp tùng với giáo dân sang Rôma và xin được yết kiến Đức Giáo hoàng.
Linh mục ấy đã thuật lại cuộc tiếp kiến riêng tư với Đức Giáo hoàng :
“Trong lúc đứng ở phòng khách trên lầu cao Vatican, đầu óc tôi cứ nghĩ tới bức thư bất mãn năm xưa mà lòng tôi vô cùng hối hận. Tôi trộm nghĩ, đã mấy chục năm trời qua rồi, giờ đây chắc hẳn Đức Thánh Cha không còn nhớ gì… Nhưng ai ngờ, sau khi tiếp chuyện thân mật, Đức Thánh Cha với lấy cuốn Kinh thánh và lôi ra trước mặt tôi bức thư khốn nạn ấy. Đang khi tôi lo âu lúng túng, Đức Thánh Cha đã cầm lấy tay tôi và dịu dàng bảo :”Con đừng hoảng sợ, cha không bao giờ giận con đâu. Cha cám ơn con. Cha cũng là người, cũng yếu đuối, cha ngăn bức thư con viết vào cuốn Thánh kinh để hằng ngày đọc vào đó mà xét mình, hầu có thể dứt khoát với những khuyết điểm còn tồn tại, hoặc xa tránh những lầm lỡ có thể xẩy đến trong tương lai. Mỗi lần như thế cha lại nhớ đến con và cầu nguyện cho con”.
Trong bài “Anh hùng” được chia sẻ với giới trẻ hạt Đức trọng, tôi đã đề cập đến câu định nghĩa về anh hùng của Vương Thông, theo đó :
ANH là người tự biết mình.
HÙNG là người tự thắng mình.
Vậy người thực hiện được lời Chúa dạy :”Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” phải là vị anh hùng vì họ đã tự biết mình và đã thắng được mình, thắng được tính nóng nảy và hay trả thù của mình. Đứng trước tấm gương của những người hiền lành nhịn nhục, không ai dám coi họ là những người hèn nhát mà phải suy tôn họ là anh hùng.
Trong bài giảng “Tám mối phúc thật” , Chúa Giêsu đã khẳng định :”Phúc cho ai có tinh thần hiền lành vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”. Nếu người ta nói :”Cha nào con ấy” thì chúng ta phải nghĩ thế nào khi chúng ta là con cái Chúa ? Nếu Cha chúng ta là Đấng hiền lành khiêm nhường, còn chúng ta là con, thì không thể nào đi ra khỏi con đường Chúa đã vạch ra cho chúng ta. Bài học đã có sẵn, chúng ta chỉ việc đưa ra thực hành.
Lm. Giuse Đinh lập Liễm, GP. Đà Lạt
………………………
Suy Niệm 4: Hoạt động và nghỉ ngơi
Con người là một tạo vật có tự do. Con người có thể làm chủ vận mệnh của mình, có khả năng tự lựa chọn cho bản thân mình con đường để tiến thân, dùng những khả năng thiên phú để biến những ước mơ thành hiện thực. Mặt khác, con người thường cảm thấy tâm thần căng thẳng, thể xác mệt nhoài, gân cốt đau nhừ! Chúng ta không những cảm thấy kiệt quệ vì công việc, mà còn cảm thấy mệt mỏi vì phải sống trong thấp thỏm lo âu, … Mệt mỏi vì hiểu được thế nào là lực bất tòng tâm: thấy mình bất lực, không đủ khả năng thay đổi vận mệnh. Tất cả mọi cố gắng dường như công dã tràng, như nước đổ đầu vịt! Mệt mỏi vì mất phương hướng: đi vòng vo quanh quẩn cuối cùng lại trở về chốn cũ, tốn công tốn sức mà vô tích sự, nhiều khi còn chuốc lấy vô vàn bực dọc vô bổ! Mệt mỏi vì cảm thấy tâm hồn trống rỗng: tất cả đều ngổng ngang hỗn độn, nhiều lúc còn rối rắm như tơ vò! …
Cuộc sống nơi thế giới văn minh đã làm con người xa rời thiên nhiên, đảo lộn trật tự tự nhiên: biến ngày thành đêm, biến đêm thành ngày! Nhiều người than phiền vì bị áp lực tâm lý và tình trạng căng thẳng: làm việc này chưa xong đã phải lo đến chuyện khác! Họ luôn phải sống trong tình trạng bất ổn, ăn không ngon, ngủ không yên. Nhiều người không muốn để nỡ một cơ hội nào, muốn một bước đã tới trời, muốn có tất cả những gì họ muốn trong chốc lát! Họ vô tình biến mình thành phần tử của một xã hội liên tục xoay quanh chiếc đồng hồ. Tất cả đã cướp đi những giây phút yên tịnh, cuộc sống của họ giống như máy móc! …
Nhịp điệu của cuộc sống của Đức Giêsu mang nhiều sắc thái khác biệt: “Tiếng đồn về Người ngày càng lan rộng; đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và được chữa bệnh. Nhưng Người lui vào nơi hoang vắng mà cầu nguyện.” Tuy bận rộn nhưng Đức Giêsu không phải là người chìm đắm trong hoạt động, luôn say mê nâng cao thành tích, mà là một người lan toả sự an nhàn thanh thản. Ngài cho rằng, tất cả mọi người đều cần những giây phút thư giãn dành cho thể xác lẫn tâm hồn. Tình trạng căng thẳng hay là bị áp lực tâm lý không liên quan gì đến giai cấp, không phân biệt giầu nghèo! Cảnh bất ổn của mỗi người mỗi khác. Mỗi người đều cần một nơi để bồi dưỡng, giúp bản thân mình tìm lại sư hài hoà cho thể xác và tâm hồn.
Dựa vào lời của Đức Giêsu thì nơi đó phải tùy người tùy cảnh. Ngài nói như bậc thầy giảng dạy về đường giáo huấn và lẽ khôn ngoan trong sách Huấn ca: “Hỡi những người không được giáo huấn, hãy đến gần tôi và thụ huấn với tôi … Hãy thụ huấn những điều ấy, không phải trả đồng nào … giáo huấn này, các bạn có thể tìm thấy ngay ở bên cạnh mình. Hãy đưa mắt nhìn: tôi đâu vất vả bao nhiêu, và chính tôi đã được nghỉ ngơi an nhàn” (Hc 51, 23-27). Jesus Sirach đã vất vả tốn công để tham thấu lẽ khôn ngoan và tận hưởng an nhàn. Đức Giêsu còn đi xa hơn. Ngài mời gọi mọi người đến với mình: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Nếu như trong Thánh Kinh nói về yên tịnh thì đây cũng là những giây phút hạnh phúc êm đềm bên Chúa.
Yên tịnh giúp tâm hồn thanh thoát, bon chen làm con người thành nhỏ mọn hiếu chiến. Chúng ta cần sự quân bình để bồi dưỡng. Giữa những lúc bon chen hoạt động chúng ta cần sự yên tịnh để thư giãn. Có lẽ đây không phải là chuyện vô lý trong lời cầu xin cho người quá cố: “Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được an nghỉ ngàn thu”. Dĩ nhiên trong cuộc sống trần thế lời này ám chỉ sự nghỉ ngơi dành cho thể xác, qua đó tâm hồn cảm thấy thư thái bình an. Bởi vậy lời của Đức Giêsu hôm nay có thể ví như quảng cáo cho một sự nghỉ ngơi đầy sáng tạo: vừa nghỉ ngơi vừa học hỏi. Nói cho cùng, chính Ngài là sự nghỉ ngơi. Qua Ngài chúng ta có được cảm nhận của ngày Chúa nhật. Con người là cao điểm của công trình sáng tạo, nhưng nói cho đúng thì ngày Chúa nhật mới là vương miện của sự sáng tạo. Con người có thể dùng tài năng của mình trong 6 ngày để tô điểm cho thế giới dành cho mình. Ngày Chúa nhật là cơ hội để nghỉ ngơi bên Đức Giêsu, dành thời gian để sống đúng nhân phẩm của mình, dành thời giờ để canh tân những mối quan hệ, và đặc biệt dành thời giờ cho Đấng tạo dựng nên mình.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức
………………………..
Suy Niệm 5: Không ai biết Cha trừ ra Con
Trong đời sống con người chúng ta phải nhìn nhận rằng: không ai hiểu và thông cảm với chồng bằng người vợ, và ngược lại, không ai hiểu rõ và thông cảm với vợ bằng người chồng. Trong mối tương quan giữa cha mẹ và con cái cũng vậy, không ai hiểu con cái bằng kẻ làm cha làm mẹ. Dĩ nhiên đây không phải là một định luật tuyệt đối, bởi vì không hiểu và không thông cảm cũng là lý do của biết bao nhiêu cảnh gia đình đổ vỡ ly tan! Con người là một tạo vật có giới hạn. Khả năng hiểu và thông cảm cũng thế! Hơn nữa, con người là tạo vật luôn biến đổi và nơi mỗi người chứa đựng cả một kho tàng bí mật mà người khác không tài nào biết hết. Những người dám vỗ ngực cho rằng mình là kẻ hiểu rõ chồng mình, vợ mình, con cái mình, … là những kẻ thuộc hạng người tự cao tự đại, khoe khoang phét lác.
Nơi Thiên Chúa thì không có giới hạn. Trong bài Phúc âm ngày hôm nay chúng ta nghe Đức Giêsu lên tiếng nói rằng: “ Không ai biết Con, trừ ra Cha. Và cũng không ai biết Cha, trừ ra Con.” Đó là sự thật mà Người muốn loan báo cho con người. Chúng ta tin vào lời của Đức Giêsu bởi vì không ai có thể nhìn thấy Thiên Chúa. Hơn nữa, “Người chính là đường, là sự thật và là sự sống.” Người là Đấng công chính và là Đấng cứu độ mà tiên tri Giacaria đã nói. Người chính là con đường duy nhất dẫn đưa chúng ta đến với Chúa Cha. Thánh Philípphê Tông đồ đã từng tha thiết nài xin Người tỏ cho ông xem thấy Chúa Cha. Lời yêu cầu ngây ngô của ông đã làm Đức Giêsu bực mình không được vui, bởi vì ai thấy Người chính là xem thấy Chúa Cha. Một sự việc đơn giản như thế mà ông ngu muội không hiểu được!
Trong bài Phúc âm Đức Giêsu còn nói: “Không ai biết Cha, trừ ra những kẻ Con muốn mặc khải cho.” Con người thật diễm phúc vì được dự phần vào mối tương quan của Người với Chúa Cha. Vấn đề đặt ra là: Những kẻ mà Người muốn mặc khải cho là ai đây? Phải chăng thánh Philípphê không ở trong số người đó? Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời trong thơ của thánh Phaolô Tông đồ gởi tín hữu Rôma: “Nếu ai không có Thánh Thần của Đức Kitô, thì kẻ ấy không thuộc về Người.” Có nghĩa là: Không ai có thể nhận biết Người là Chúa nếu không có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần.
Nhiều nhà hiền triết khôn ngoan tài trí, nhiều người tự cho mình thuộc thành phần gia giáo quyền quý cao sang, đã không tìm thấy đường dẫn tới hạnh phúc vĩnh cửu, bởi vì Thánh Thần không ở trong họ. Bởi vì họ thường nghĩ rằng, tất cả những gì họ đạt được đều nhờ vào tài trí và công sức của họ. Nhiều người tự nhận mình là bậc hiền triết lỗi lạc. Chỉ những gì họ nghĩ ra và thấu triệt mới là sự thật. Những gì họ công bố đều giống như một tín điều buộc mọi người phải tin. Họ tự suy tôn mình lên ngang hàng với thần thánh, tự coi mình là rốn vũ trụ, mọi người phải nhìn vào đó với ánh mắt ngưỡng mộ thèm thuồng. Họ đã ngang nhiên đóng cánh cửa lòng mình, không để cho Chúa Thánh Thần đến ngự trị và tác động trong họ.
Những người khiêm tốn bé mọn là những kẻ đáp lại lời mời gọi của Đức Giêsu: Hãy đến với Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta là Đấng dịu hiền và khiêm nhường trong lòng. Sự thật là thế. Người vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa nhưng trở nên giống phàm nhân (Pl 2,6t). Những người bé mọn là những người sống với tâm tình như chính Đức Giêsu và quyết tâm trở nên giống Người. Họ sẵn sàng từ bỏ tất cả mọi hình thức suy tôn thế giới, danh vọng và tiền tài. Họ thật diễm phúc được Đức Giêsu mặc khải cho thấy Chúa Cha ở trong Người và hành động trong Người. Không có thứ hạnh phúc nào lớn lao hơn khi biết rằng, tình yêu của Thiên Chúa luôn luôn bao bọc che chở mình trên mọi bước đường của cuộc sống. Đó là thứ bình an mà Đức Giêsu đã hứa ban cho người Kitô hữu, những kẻ sống trong Thánh Thần của Người.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức