BÀI ĐỌC I: Is 66, 10-14c
Các ngươi hãy vui mừng với Giêrusalem, và hết thảy những ai yêu quý nó, hãy nhảy mừng vì nó. Hỡi các ngươi là những kẻ than khóc nó, hãy hân hoan vui mừng với nó, để các ngươi bú sữa no nê nơi vú an ủi của nó, để các ngươi sung sướng bú đầy sữa vinh quang của nó. Vì chưng Chúa phán thế này: “Ta sẽ làm cho sự bình an chảy đến nó như con sông, và vinh quang chư dân tràn tới như thác lũ. Các ngươi sẽ được bú sữa, được ẵm vào lòng và được nâng niu trên đầu gối. Ta sẽ vỗ về các ngươi như người mẹ nâng niu con, và tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi. Các ngươi sẽ xem thấy, lòng các ngươi sẽ hân hoan, và các ngươi sẽ nẩy nở như hoa cỏ, và tôi tớ Chúa sẽ nhìn biết bàn tay của Chúa”.
BÀI ĐỌC II: Gl 6, 14-18
Anh em thân mến, phần tôi, ước gì tôi đừng khoe mình về một điều gì khác, ngoại trừ về thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ cây thập giá mà thế gian đã chịu đóng đinh cho tôi, và tôi cho thế gian. Vì chưng trong Đức Kitô, có cắt bì hay không cũng chẳng có giá trị gì, điều quan trọng là trở nên một tạo vật mới. Nguyện chúc bình an và lòng thương xót đối với những ai rập theo quy tắc đó, và cho cả Israel của Thiên Chúa nữa. Từ nay trở đi, ước gì không ai làm phiền tôi nữa; vì tôi mang trong mình tôi dấu thánh của Chúa Giêsu.
Anh em thân mến, nguyện ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, ở cùng anh em! Amen.
PHÚC ÂM: Lc 10, 1-12. 17-20
Khi ấy, Chúa chọn thêm bảy mươi hai người nữa, và sai các ông cứ từng hai người đi trước Người, đến các thành và các nơi mà chính Người sẽ tới. Người bảo các ông rằng: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người. Các con hãy đi. Này Ta sai các con như con chiên ở giữa sói rừng. Các con đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào nhà nào, trước tiên các con hãy nói: ‘Bình an cho nhà này’. Nếu ở đấy có con cái sự bình an, thì sự bình an của các con sẽ đến trên người ấy. Bằng không, sự bình an lại trở về với các con. Các con ở lại trong nhà đó, ăn uống những thứ họ có, vì thợ đáng được trả công. Các con đừng đi nhà này sang nhà nọ. “Khi vào thành nào mà người ta tiếp các con, các con hãy ăn những thức người ta dọn cho. Hãy chữa các bệnh nhân trong thành và nói với họ rằng: ‘Nước Thiên Chúa đã đến gần các ngươi’. Khi vào thành nào mà người ta không tiếp đón các con, thì hãy ra giữa các phố chợ và nói: ‘Cả đến bụi đất thành các ngươi dính vào chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin phủi trả lại các ngươi. Nhưng các ngươi hãy biết rõ điều này: Nước Thiên Chúa đã đến gần’. Ta bảo các con, ngày ấy, thành Sôđôma sẽ được xử khoan dung hơn thành này”. Bảy mươi hai ông trở về rất vui mừng và nói rằng: “Thưa Thầy, nhân danh Thầy thì cả ma quỷ cũng vâng phục chúng con”. Người bảo: “Ta đã thấy Satan từ trời sa xuống như luồng chớp. Này Ta đã ban cho các con quyền giày đạp rắn rít, bọ cạp, mọi quyền phép của kẻ thù, và không có gì có thể làm hại được các con. Dù vậy, các con chớ vui mừng vì các thần phải vâng phục các con, nhưng hãy vui mừng vì tên các con đã được ghi trên trời”.
Suy Niệm 1: TRIỀU ĐẠI THIÊN CHÚA ĐÃ ĐẾN GẦN!
Bài đọc I, Isaia 66,10-14c, là lời hứa về thời sẽ đến – lời hứa đầy an ủi, ân cần, trìu mến: “Các ngươi sẽ được bú sữa, được ẵm vào lòng và được nâng niu trên đầu gối. Ta sẽ vỗ về các ngươi như người mẹ nâng niu con, và tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi.”
Thánh vịnh Đáp ca (Tv 65) đúng nghĩa là lời ‘ca đáp lại’ những điều trọng đại Thiên Chúa làm cho dân Ngài: “Toàn thể đất nước, hãy reo mừng Thiên Chúa… Phàm ai tôn sợ Chúa, hãy đến, hãy nghe tôi kể lại, Chúa đã làm cho linh hồn tôi những điều trọng đại biết bao”… Nhưng đó chỉ là sự nếm cảm trước, mức nào đó, chứ chưa phải là kinh nghiệm trọn vẹn về ‘thời’ mà Thiên Chúa hứa nói trên. Phải chờ đến sự xuất hiện của Đấng Mêsia, là Chúa Giêsu, thì lời hứa an ủi tuyệt vời kia mới trở thành hiện thực đầy đủ…
Và rồi, Chúa Giêsu đến. Nhưng cũng cần phải đón nhận Người, thì những điều tốt lành mới đạt được! Vì thế, Chúa muốn cần các thừa sai thi hành sứ mạng để giúp chuẩn bị cho người ta đón nhận chính Người. Đây là sứ mạng của Giáo hội sau Phục sinh, được ‘dạo đầu’ bởi hai lần Chúa sai các môn đệ ngay trong thời gian sứ vụ của Người. Theo đó, ta thấy sứ mạng không hề dễ dàng, vì có gian khó, hiểm nguy. “Anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Ngài. Anh em hãy đi. Này Thầy sai anh em như con chiên ở giữa sói rừng. Anh em đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép, và đừng chào hỏi ai dọc đường”… Thế đó, thời ân phúc gắn với những hiểm nguy và những sự siêu thoát/ buông bỏ phải đảm nhận…
Phaolô là một nhà thừa sai kiểu mẫu theo tinh thần ấy, nên Phaolô rất hiểu sự cần thiết của thập giá: “Phần tôi, ước gì tôi đừng khoe mình về một điều gì khác, ngoại trừ về thập giá Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ cây thập giá mà thế gian đã chịu đóng đinh cho tôi, và tôi cho thế gian… Từ nay trở đi, ước gì không ai làm phiền tôi nữa; vì tôi mang trong mình dấu thánh của Chúa Giêsu” (x. Gl 6,14-18).
Với chúng ta, ‘thời’ của lời hứa ân phúc tuyệt vời đã đến nơi Chúa Giêsu Kitô, ‘thời’ ấy đã bắt đầu, đang xúc tiến, nhưng chưa hoàn thành – dù sự hoàn thành đã được bảo đảm bởi mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô. Cũng như Phaolô, tất cả chúng ta – các môn đệ thừa sai của Chúa – phải thi hành sứ mạng của mình xuyên qua thử thách, để hiện thực hoá ‘thời’ ấy nhiều hơn.
Thời ấy chính là Triều đại Thiên Chúa!
Lm. Giuse lê Công Đức, PSS.
………………………………….
Suy Niệm 2: NIỀM VUI ĐƯỢC CHỌN VÀ SAI ĐI
Tuần trước, lời Chúa tập trung vào ơn gọi, trong Cựu Ước [Êlisa] và trong Tân Ước [người môn đệ của Chúa Giêsu]. Lời Chúa tuần này tiếp tục đề tài về ơn gọi, nhưng nhìn từ khía cạnh được sai đi. Bài đọc 1 trích từ Sách Ngôn Sứ Isaia [phần 3]. Trong phần này, Giêrusalem chiếm vị trí trung tâm. Đây là bài ca nói về niềm vui: niềm vui với và niềm vui cùng Giêrusalem. Niềm vui cho Thành Thánh Giêrusalem được đặt đối nghịch với nỗi buồn đến từ việc Ngôn sứ chống đối lại những nghi lễ tôn thờ sai lạc trong đền thánh. Hai thái độ trái ngược này sẽ được tìm thấy trong bài Tin Mừng qua những lời hướng dẫn của Chúa Giêsu cho các môn đệ khi đối diện với những làng đón tiếp và không đón tiếp họ. Chúng ta sẽ trình bày chi tiết về điều này sau khi chúng ta suy gẫm về bài Tin Mừng. Điều đáng để chúng ta suy gẫm ở đây là sứ điệp của bài đọc 1: đâu là nguồn gốc của niềm vui mà Giêrusalem tận hưởng?
Những người được mời gọi vui mừng với và cùng Thành Đô là “tất cả những người yêu mến Thành Đô” và “tất cả những người đã than khóc Thành Đô” (Is 66:10). Qua những lời lẽ mang tính thơ ca của mình, Ngôn sứ đã ví Giêrusalem như người mẹ đầy sữa [lời hứa cho Israel: “đất chảy sữa và mật” (x. Xh 3:17)]. Nguồn gốc niềm vui của Thành Đô đến từ Thiên Chúa, đến từ việc Đức Chúa sẽ “tuôn đổ xuống Thành Đô ơn thái bình tựa dòng sông cả, và Ta khiến của cải chư dân chảy về tràn lan như thác vỡ bờ” (Is 66:12). Hơn thế nữa, niềm vui của Thành Đô đến từ việc cảm nghiệm được tình yêu và sự chăm sóc của Thiên Chúa như người mẹ hiền chăm sóc con thơ: “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy; tại Giêrusalem, các ngươi sẽ được an ủi vỗ về. Nhìn thấy thế, lòng các bạn sẽ đầy hoan lạc, thân mình được tươi tốt như cỏ đồng xanh. Đức Chúa sẽ biểu dương quyền lực của Người cho các tôi tớ biết” (Is 66:13-14a). Những lời này Ngôn sứ thốt lên để an ủi dân bị lưu đày. Những người mới trở về, đang than khóc vì thấy sự hoang tàn của Thành Đô Giêrusalem. Trong bối cảnh đó, những lời của Ngôn sứ là những lời an ủi, đầy yêu thương đến từ Đức Chúa. Những lời này đem lại cho dân niềm vui để xây dựng lại Thánh Đô sau bao nhiêu năm xa cách. Những lời này có ý nghĩa gì cho cuộc sống chúng ta? Trong cuộc sống, chúng ta cũng gặp biết bao thăng trầm. Nhiều lần phải than khóc vì mất mát, vì tổn thương. Thiên Chúa cũng đến và nói với chúng ta những lời đầy an ủi, đầy yêu thương. Trong những giây phút đau buồn đó, Ngài bồng ẵm chúng ta trên cánh tay, nâng niu trên đầu gối. Tuy nhiên, chúng ta có đến với Ngài để được an ủi, vỗ về không hay chúng ta đi tìm sự an ủi nơi những con người hoặc trong những thói hư tật xấu? Cuộc đời có nhiều niềm vui, nhất là niềm vui luôn có Chúa bên cạnh, như mẹ hiền ấp ủ con thơ!
Đề tài về niềm vui trong than khóc [đau khổ] được Thánh Phaolô trình bày cách tuyệt diệu trong bài đọc 2 hôm nay. Thánh nhân chỉ ra ước muốn duy nhất của mình, đó là hãnh diện về thập giá Đức Giêsu Kitô. Tại sao lại hãnh diện về thập giá? Thập giá là một phương tiện được dùng để xử tội những tử tù. Nhưng lại trở nên điều để hãnh diện cho Thánh Phaolô. Thật là một nghịch lý! Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý rằng, thánh nhân không hãnh diện trong bất kỳ loại thập giá nào. Ngài chỉ hãnh diện về thập giá Đức Giêsu Kitô, vì qua thập giá của Ngài, Đức Giêsu Kitô đã cứu chuộc trần gian. Qua thập giá Đức Giêsu Kitô, chúng ta được trở nên một tạo vật mới, vì chúng ta đã đóng đinh con người cũ của mình vào thập giá (x. Gl 6: 14-15). Khi đóng đinh với Đức Giêsu Kitô, Thánh Phaolô cho biết, ngài “mang trên mình những dấu tích của Đức Giêsu” (Gl 6:17). Chúng ta cũng đã đóng đinh chính mình vào thập giá Chúa Giêsu, như thế chúng ta cũng mang trên mình những dấu tích của Ngài. Những dấu tích này phải chữa lành chúng ta khỏi những vết thương mà tội lỗi đã gây ra, vì “Người đã mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (1 Pt 2:24). Chúng ta cũng được mời gọi chữa lành anh chị em chúng ta qua những “vết thương tình yêu” mà người khác tạo ra. Hãy biến những vết thương người khác tạo ra trên chúng ta thành những bằng chứng tình yêu, một tình yêu mạnh hơn sự chết và đau khổ!
Tuần trước chúng ta đã nghe việc Chúa Giêsu trả lời cho những người muốn theo Ngài về những điều kiện cần thiết. Tuần này bài Tin Mừng được đặt trong bối cảnh Chúa Giêsu dạy các môn đệ về đời sống rao giảng (Lc 10:1-24). Đây là bản văn suy gẫm dài nhất của Thánh Luca về sứ mệnh. Điểm đầu tiên chúng ta cần lưu ý là Thánh Luca không quan tâm đến sứ mệnh hiện tại mà các môn đệ thực hiện cho bằng tập trung vào bản chất của sứ mệnh cũng như những nguyên nhân mang lại niềm vui và nỗi buồn trong việc thực thi sứ mệnh. Chúng ta có thể chia bài Tin Mừng ra làm hai phần: phần 1 (Lc 10:1-12) trình bày việc Chúa Giêsu dạy các môn đệ về bản chất, những thái độ và những chuẩn bị cần thiết cho sứ mệnh; phần 2 (Lc 10:17-20) nói về việc các môn đệ vui mừng về những thành quả họ đạt được khi thi hành sứ mệnh. Trong phần này, chúng ta cũng tìm thấy chi tiết của lời Chúa Giêsu khuyến cáo các môn đệ về niềm vui đích thật mà các ông phải đạt được khi thi hành sứ mệnh. Chúng ta cùng nhau phân tích hai phần cách chi tiết để rút ra những sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta trong ngày hôm nay.
Trong phần 1, chi tiết đầu tiên đáng suy gẫm là hai “con số,” đó là “bảy mươi hai” và “hai người một” [từng cặp]. Con số bảy mươi hai có nguồn gốc trong Cựu Ước [sách Sáng Thế 10:2-31], đây là con số tượng trưng cho các quốc gia trên thế giới [con số các quốc gia được biết đến trong thời gian đó]. Khi Thánh Luca dùng con số này, thánh sử ngụ ý nói đến tính phổ quát của sứ mệnh truyền giáo mà Giáo Hội phải thực hiện. Sứ mệnh này có nguồn gốc nơi Đức Giêsu [72 người đến từ 72 quốc gia]. Điều này được diễn tả qua việc chính Chúa Giêsu “chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác.” Chi tiết này ám chỉ việc Thiên Chúa muốn cứu hết mọi người, không loại trừ một ai. Còn khi sai các môn đệ “hai người một,” Chúa Giêsu muốn các ông (1) nâng đỡ nhau, (2) làm chứng cho sự thật về những gì họ rao giảng [đây là điều kiện được đặt ra trong Đnl 19:15], (3) là hiện thân sống động của Tin Mừng bình an [không bất hoà giữa nhau] (x. câu 5-6). Một trong những ví dụ cụ thể về cặp đôi này là Thánh Phaolô và Banaba được trình bày trong chương 13 của sách Công Vụ Các Tông Đồ. Sau khi đã dàn dựng sân khấu, đó là việc nói về tính phổ quát của sứ mệnh và tính cách “làm việc chung” khi thi hành sứ mệnh, Thánh Luca bắt đầu trình bày về những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ.
Thứ nhất, Ngài dạy các ông phải biết cầu nguyện trước khi đi thi hành sứ mệnh: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10:2). Trong câu này, chúng ta thấy được sự khẩn cấp trong việc thu hoạch qua hình ảnh đối nghịch giữa “lúa chín đầy đồng” và “thợ gặt lại ít.” Sự khẩn thiết này là động lực để “xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.” Chi tiết cần lưu ý ở đây là người được sai đi chỉ là thợ gặt, chứ không phải là chủ mùa gặt. Nói cách cụ thể, Thiên Chúa là chủ mùa gặt, còn các môn đệ là những thợ gặt. Lúa [thành quả công việc] không thuộc về họ, nhưng thuộc về Thiên Chúa. Niềm vui của họ là được sai đi làm thợ gặt. Tuy nhiên, việc trở nên thợ gặt và được sai đi là kết quả của việc “cầu xin” [cầu nguyện]. Những chi tiết này nhắc nhở về mối tương quan cần thiết và không thể tách rời với Thiên Chúa, chủ mùa gặt, mà chúng ta cần phải có khi được sai đi. Khi không ý thức mối tương quan này, chúng ta sẽ rơi vào nguy hiểm là biến mình trở thành chủ của mùa gặt, đồng thời chiếm hữu những thành quả đúng ra phải thuộc về Chúa. Chúng ta sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm này khi chúng ta ngừng cầu nguyện với Chủ mùa gặt.
Thứ hai, Ngài dạy họ về bản chất, những thái độ cần thiết khi thi hành sứ mệnh (x. Lc 10:3-11). Chúa Giêsu nói đến bản chất của sứ mệnh rao giảng trong những lời sau: “Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói” (Lc 10:3). Hình ảnh “chiên đi vào giữa bầy sói” mang hai bình diện: (1) các môn đệ có thể trở nên những người không thể bảo vệ chính mình trước những dân chống đối; (2) sứ mệnh rao giảng của Kitô Giáo khởi đầu một kỷ nguyên [thời đại] mới của bình an và hoà giải trong đó chiên sẽ nằm với sói (x. Is 11:6; 65:25). Hai bình diện này chi phối những lời dạy tiếp theo của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể thấy điều này trong ba trường hợp sau: (1) với cá nhân – “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.” Không mang tiền, bao bị, giáy dép nói lên việc người môn đệ không có gì để dựa vào hầu bảo vệ chính mình. Còn đừng chào hỏi ai dọc đường liên quan đến bình an đích thật mà các môn đệ loan báo trong bối cảnh gia đình và thành [nước]; (2) với gia đình [“Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” (Lc 10:5)] – chúng ta cũng thấy hai điều đối ngược xảy ra: “Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em” (Lc 10:6). Nếu được đón tiếp, họ “ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia” (Lc 10:7); (3) với thành [nước] – họ sẽ làm nhiều việc hơn trong những thành họ được đón tiếp, đó là “cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông” (Lc 8-9). Những lời này cho chúng ta thấy rằng qua việc rao giảng Tin Mừng và chữa lành những người đau yếu, Triều Đại Thiên Chúa được thể hiện. Tuy nhiên, khi bị chối từ, “họ sẽ giũ bụi đất ở chân trả lại thành.” Những lời này có ý khuyến cáo các môn đệ rằng không phải vì không được đón tiếp mà họ quên rao giảng sứ điệp Nước Thiên Chúa. Nói cách khác, dù “bực mình” vì không được đón nhận, nhưng các môn đệ không bao giờ quên trách nhiệm của mình, đó là nói cho thành đó “biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.” Chi tiết này muốn nhắn nhủ chúng ta điều gì? Trong việc rao giảng Tin Mừng [hoặc sống đạo], chúng ta phải vượt qua sự khó chịu, bực mình với một ai đó [ông cha, bà sơ, một người trong ban hành giáo, v.v.] để tiếp tục rao giảng Tin Mừng, tiếp tục sống dấn thân, sống yêu thương, sống tốt. Đừng vì bất kỳ ai mà ngừng làm môn đệ Chúa Giêsu!
Nội dung chính của phần 2 là những hiệu quả gặt hái được khi thi hành sứ mệnh nhân danh Chúa Giêsu. Phần này bắt đầu và kết thúc với “niềm vui.” Trong câu mở đầu, “nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con” (Lc 10:17). Câu này gợi lại cho chúng ta quyền năng của Chúa Giêsu trên ma quỷ ở Galilê (x. Lc 8:26-39) và quyền năng này được ban cho nhóm Mười Hai (x. Lc 9:1-2). Điều này ám chỉ việc nhóm 72 chia sẻ trong cùng quyền năng Chúa Giêsu ban cho nhóm Mười Hai. Trong câu này, chúng ta thấy nguyên nhân làm cho các môn đệ “hớn hở” [vui mừng], đó là ma quỷ cũng khuất phục chúng con [chứ không phải Thầy hoặc Thiên Chúa]. Qua niềm vui này, dường như các môn đệ quên mất rằng họ đã lãnh nhận quyền năng trên các thần ô uế từ Chúa Giêsu. Tuy nhiên, Chúa Giêsu không lấy đi niềm vui đó của các ông, nhưng trong câu cuối cùng, Ngài nhắc nhở các môn đệ đâu là lý do đem lại niềm vui đích thật: “Anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:20). Niềm vui đích thật chỉ tìm thấy ở trong Thiên Chúa chứ không phải trong những thành quả công việc mình làm. Để hiểu điều này, Chúa Giêsu, qua hai câu giữa, giải thích cho các môn đệ về lý do tại sao các ông không nên vui vì những thành quả của mình, nhưng vui mừng vì thành quả Thiên Chúa ban cho họ [tên được ghi trên trời]: “Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em” (Lc 10:18-19). Hai câu này nhắc nhở các môn đệ rằng qua sứ vụ của Chúa Giêsu [và của Giáo Hội], quyền lực của Xatan bị tấn công và đánh bại. Họ tiếp tục sứ vụ này của Chúa Giêsu vì họ được Ngài ban cho quyền năng của Ngài. Mỗi ngày sống là một cơ hội để tiếp tục sứ mệnh rao giảng [làm gương sáng] và đánh bại sự dữ [thói hư tật xấu]. Hãy nhớ rằng, chúng ta chỉ làm được điều này với quyền năng Chúa Giêsu ban cho chúng ta. Hãy xin, hãy tìm và hãy gõ cửa trái tim Chúa luôn luôn!
Lm. Anthony, SDB.
…………………………..
Suy Niệm 3: Hãy rao giảng bằng cả cuộc sống
Không ai là một hòn đảo. Không ai có thể sống một mình trong cốc, chỉ nghĩ đến mình và đoạn tuyệt quan hệ với những người lân cận. Chúng ta sống trong mối tương quan với thế giới và cảnh vật chung quanh. Có rất nhiều hình thức và cách thế để chúng ta trao đổi tư tưởng, sự hiểu biết và kinh nghiệm với người khác như truyền thông, truyền hình, báo chí, sách vở, thư từ cũng như những giao tiếp hàng ngày. Quá trình liên lạc sẽ giúp hình thành một tổ chức mà chúng ta gọi là cộng đoàn. Con người ngày nay dễ dàng khám phá ra vẻ đẹp muôn hình vạn trạng của thế giới hơn bao giờ hết qua những phương tiện truyền thông hiện đại.
Trong đoạn Phúc âm ngày hôm nay chúng ta cũng nghe Đức Giêsu sai phái 72 môn đệ ra đi rao giảng Tin mừng. Ngài không sai ai đi riêng lẻ mà là theo từng nhóm hai người. Nội dung của sứ mạng cũng đơn giản: Hãy lên đường và tạo mối quan hệ với những người mà bạn gặp gỡ. Bạn gặt hái được thành công hay thất bại không ai nói trước được. Hôm nay bạn được đón tiếp nồng hậu, ngày mai bị mọi người ngoảnh mặt làm ngơ cũng là lẽ thường tình của thói đời. Thế thái nhân tình là thế! Công cuộc truyền giáo cũng vậy. Hôm nay mọi người còn háo hức lắng nghe giảng, biết đâu ngày mai mọi sự đã thành tẻ nhạt. Công việc rao giảng có đơm bông kết trái hay không đòi hỏi sự cộng tác của đôi bên. Sức ảnh hưởng trực tiếp chúng ta chỉ có ở phía chúng ta, người nghe có sẵn sàng đón nhận hay không, chuyện đó không nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta. Điều đáng ngạc nhiên và có phần mâu thuẫn chính là: Công việc truyền giáo lại phải bắt đầu từ chính bản thân chúng ta. Chỉ có những gì làm cho bản thân chúng ta phấn kích và bị đánh động, chúng ta mới có thể gây phấn kích và đánh động người khác. Khi chính chúng ta bám rễ sâu trong đức tin chúng ta mới có khả năng làm người khác khẩu phục tâm phục. Kết quả của việc rao giảng là sự biến đổi và đánh động từ hai phía, người rao giảng cũng như người đón nghe lời giảng. Là người rao giảng tôi cũng học hỏi được nhiều điều mới lạ trong khi chu toàn sứ vụ và khám phá ra những chiều kích khác mà trước đây tôi không hề nghĩ tới.
Người ta tường thuật về thánh Phanxicô thành Assisi như sau: Một ngày nọ thánh Phanxicô cùng một tu sĩ trẻ lên đường vào thành phố để rao giảng ở đó. Họ đi ngang qua nhiều con đường của thành phố và trò chuyện về nhà dòng và đời sống đức tin. Cho đến khi họ lên đường về nhà dòng, người tu sĩ trẻ mới hoảng hốt la lên: “Chết rồi, chúng ta đã quên nhiệm vụ rao giảng!” Thánh Phanxicô mỉm cười, đặt một tay lên vai người tu sĩ trẻ và nói: “Này con, trong suốt thời gian qua chúng ta không làm chuyện gì khác. Người ta quan sát chúng ta qua từng cử chỉ và lời nói, họ cũng đã nghe một phần cuộc đối thoại của chúng ta. Như vậy là rao giảng rồi.” Sau đó ngài còn nói thêm: “Này con, con có lãnh ngộ ra không, chúng ta làm một việc vô nghĩa nếu chúng ta không rao giảng trên đường.” Rao giảng trên đường, truyền giáo trên đường, trong cuộc sống hằng ngày, trong lúc làm việc, trong khi trò chuyện, khi đi mua sắm hay trên đường tới nhà thờ, … bằng cả cuộc sống.
Thái độ sống của Đức Giêsu luôn lan toả nét thong dong tự tại khi đi rao giảng. Ngài mời gọi nhưng không cưỡng bức. Đến với đức tin là do tự nguyện và người khác có thể cảm nhận một chút nào đó về thái độ sống của Đức Giêsu qua chúng ta. Ngài tỏ lòng kính trọng với những người Ngài gặp gỡ cho dù đó là ai. Khi đi rao giảng bạn cũng đừng mang nhiều hành lý, cũng đừng lệ thuộc vào kỳ vọng của kẻ khác, chỉ cần bạn là chính bạn là đủ, với toàn bộ thân xác và tâm hồn.
Lm Phêrô Trần Minh Đức
………………………….
Suy Niệm 4: RA ĐI RAO GIẢNG TIN MỪNG
A. DẪN NHẬP
Đức Giêsu đã đi rao giảng Tin mừng Nước Trời cho dân chúng để đem lại ơn cứu độ cho họ. Mối ưu tư hàng đầu của Ngài là làm cho mọi người được nghe biết Tin mừng. Mối ưu tư ấy đã được diễn tả trong lúc thổ lộ tâm tình với các môn đệ :”Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về”(Lc 10,2).
Sau khi đã trang bị cho họ những khả năng tinh thần tuyệt diệu, Đức Giêsu đã sai 72 môn đệ đi loan báo Tin mừng bình an cho mọi người. Ngài ân cần khuyên họ đừng lo tìm an toàn nơi các phương tiện vật chất trần gian. Họ vâng lời ra đi và đã trở về trong hân hoan. Đức Kitô cho họ biết họ hãy vui mừng vì tên tuổi họ đã được ghi trên Nước Trời.
Ngày nay, Đức Giêsu vẫn muốn cho công việc rao giảng Tin mừng ấy phải được tiếp tục trong Hội thánh. Vậy những ai được và phải loan báo Tin mừng ấy ? Đó là mọi Kitô hữu. Tất cả những ai đã được chịu phép rửa tội đều có sứ mạng nên thánh và truyền giáo (x.Redmptoris Missio)). Như vậy, các thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo không phải chỉ là các Linh mục và nam nữ tu sĩ mà là mọi người mang danh là Kitô hữu. Chúng ta hãy tham gia vào việc truyền giáo bằng cách sống sâu sắc niềm tin của mình và cố gắng trở nên muối đất và ánh sáng cho trần gian trong mọi môi trường xã hội mình đang sống.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Is 66,10-14c.
Vua Cyrus nước Ba tư vừa tiêu diệt đế quốc Babylon và ký sắc lệnh cho phép dân Do thái hồi hương. Tuy đã được thoát khỏi ách lưu đầy, dân Do thái vẫn tỏ ra chán nản vì Giêrusalem vẫn chưa được phục hưng như bao người mong đợi. Tiên tri Isaia yên ủi họ bằng cách nêu lên những niềm hy vọng về một tương lai còn mờ mịt. Sau những cơn đau dữ dội của việc sinh con, người phụ nữ Sion cảm thấy vui mừng thư thái.
Đó là hình ảnh dân Do thái, một dân tộc được Chúa săn sóc với một tình yêu của một người mẹ. Chúa sẽ ban phúc lành cho dân, và phúc lành quí giá nhất là bình an.
+ Bài đọc 2 : Gl 6,14-18.
Đây là đoạn cuối thư gửi cho tín hữu Galata, thánh Phaolô nói lên trọng tâm của Đạo thánh là mầu nhiệm thập giá của Đức Kitô. Có những người coi thập giá là cớ vấp phạm, có người cho là sự điên rồ, nhưng thánh Phaolô đã khám phá ra giá trị tuyệt vời của nó :
– Thập giá đã mang lại ơn cứu độ cho mọi người và ban cho họ sự sống mới.
– Thập giá là lẽ sống của thánh Phaolô :”Đối với tôi, không một vinh quang nào khác ngoài vinh quang thập giá Đức Kitô”.
– Thập giá là nguồn bình an và hạnh phúc của ngài.
+ Bài Tin mừng : Lc 10,1-12.17-20.
Bài Tin mừng được chia thành hai phần :
a) Đức Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng.
Trong bài Tin mừng, Luca và chỉ có Luca tường thuật việc Đức Giêsu tuyển chọn 72 môn đệ và sai đi trước “đến các thành và các nơi mà chính Ngài sẽ tới”. Con số 72 được nhắc đến, phải chăng là để ám chỉ 72 nước phát xuất từ miêu duệ ông Noê sau đại hồng thủy, hình ảnh thế giới được kêu gọi đón nhận Tin mừng. Luca nhấn mạnh rằng không riêng gì các Tông đồ, mà tất cả mọi người được Đức Giêsu sai đi rao giảng Tin mừng, vì “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến”(Lc 10,2).
b) Khi đi truyền giáo trở vê.
Sau một thời gian đi truyền giáo trở vê, các môn đệ vui mừng kể lại cho Đức Giêsu nghe về những thành công của mình, nhất là thành công trên ma quỉ. Trong tình thân mật thầy trò, Ngài chia vui với các ông, đồng thời cũng nhắc nhở các ông rằng những thành công ấy đáng ghi nhận , nhưng thành công lớn lao là họ được Thiên Chúa coi họ là công dân Nước Trời (“tên các con được ghi trên trời”).
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Này Thầy sai các con đi
I. CÁNH ĐỒNG TRUYỀN GIÁO HÔM NAY
- Cánh đồng lúa chín Sichar
Đức Giêsu đã ra đi rao giảng Tin mừng về Nước Thiên Chúa. Ngài nhận thấy dân chúng muốn được nghe rao giảng Tin mừng. Có những người quên ăn quên ngủ đi theo Chúa để được nghe Ngài giảng, đến nỗi thấy họ đói, Ngài đã làm cho bánh hoá nhiều hai lần để nuôi sống họ. Ngài thấy cánh đồng truyền giáo còn rộng rãi bao la bát ngát trải rộng ra trước mắt Ngài. Cánh đồng lúa chín là mối ưu tư hàng đầu của Ngài, nên khi đi qua cánh đồng lúa chín Sichar, đúng là tức cảnh sinh tình, Ngài đã bộc lộ tâm tư với các môn đệ :”Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến gặt lúa của Người”(Lc 10,2).
- Cánh đồng truyền giáo hôm nay
Chúng ta nhận thấy trên thế giới hôm nay có gần 7 tỷ người, nhưng mới có 1,2 tỷ người biết Chúa. Tại Á châu, trong số 3,5 tỷ người mới chỉ có 100 triệu tín hữu Công giáo, tính theo tỷ lệ là 2,6%. Như vậy, cứ 100 cánh đồng lúa chín, mới có 2,6 cánh đồng có thợ gặt, còn 97,4 cánh đồng bị bỏ hoang. Chưa kể toàn bộ cánh đồng đã bị bỏ hoang mãi cho đến thế kỷ 16 mới có thợ gặt. Đặc biệt thánh Phanxicô Xaxiê không chỉ là thợ gặt mà là máy gặt.
Riêng tại Việt nam chúng ta, dân số hiện nay lên tới 88 triệu, mà số người Công giáo mới tới hơn 6 triệu, tính ra mới được 7%, còn lại 93% kia thì sao ? Cánh đồng truyền giáo của chúng ta vẫn còn trải ra trước mắt.
Vì thế, trước tình trạng khẩn cấp ngày nay, Thượng Hội đồng Giám Mục Á châu đã được tổ chức tại Rôma, từ ngày19/04 đến 15/05/1998, gồm có 158 vị đại diện hàng Giám mục Á châu và một số Giám mục đại diện các châu lục khác, cùng với một số chuyên viên, tất cả 230 vị dưới quyền hướng dẫn của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II để bàn về vấn đề truyền giáo của Á châu ngày nay.
- Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo
Chỉ có Luca tường thuật việc Đức Giêsu chọn 72 môn đệ và sai đi trước “đến các thành và các nơi mà chính Ngài sẽ tới”. Con số 72 hay 70 (tùy theo thủ bản Hy lạp hay Hy bá) có liên hệ với con số 72 dân tộc làm nên nhân loại theo bản thống kê dân số của Kinh Thánh sau cơn đại hồng thủy (St 10,10).
Theo các giáo phụ của Giáo hội Công giáo, số 72 là con số có tính cách biểu tượng của các dân tộc và quốc gia trên thế giới vào thời Đức Giêsu sinh sống.
Cousin giải thích thêm : Bảy mươi hai ông thực ra không phải chỉ là những giao liên tiền trạm, nhưng họ chính là những đại sứ đặc mệnh toàn quyền, giống như nhóm Mười Hai, có quyền lực trên các thần dữ (9,17) và có trách nhiệm công bố Nước Thiên Chúa (10,11). Như thế tác giả muốn xác định rằng không chỉ có Mười Hai ông mới được chính thức được Đức Giêsu bổ nhiệm đi truyền giáo trước lễ Vượt qua. Nhưng khi Đấng Phục Sinh hiện ra, thì cả Nhóm Mười Một với những người đồng hành sẽ là những người được Chúa trao cho sứ mạng truyền giáo (Fiches dominicales C, tr 239).
II. TƯ CÁCH CỦA NHÀ TRUYỀN GIÁO
- Tinh thần hiệp thông
Đức Giêsu sai “Cứ từng hai người” đi trước Ngài vì họ phải hoạt động với tư cách chứng nhân. Theo truyền thống Kinh Thánh, người ta không được đặt tin tưởng vào lời xác quyết của một người duy nhất, mà cần phải có lời của hai hoặc ba nhân chứng.
Cousin quả quyết : “Con số hai không do ngẫu nhiên, bởi vì khi có tranh cãi (Đnl 19,15), câu nói đáng tin phải dựa trên lời của hai hoặc ba nhân chứng, trường hợp giả dụ được nói đến ở câu 10-11. Trong sách Công vụ Tông đồ, Luca sẽ minh họa công việc truyền giáo của “từng cặp”, như Phaolô và Barnabê (13,2-4), Barnabê và Marcô, Phaolô và Sila (15,39-40) (Fiches dominicales C, tr 240).
- Tinh thần chịu đựng
Đức Giêsu nhắn nhủ các môn đệ :”Thầy sai các con đi như chiên con đi giữa bầy sói” (Lc 10,3). Các con hãy ra đi ! Đây là một lệnh truyền. Ngài không che giấu sự khó khăn trong việc truyền giáo. Sự khó khăn này do kẻ thù của Nước Trời gây ra. Các ông sẽ bị bắt bớ bởi đó là số phận của những kẻ được gọi để rao giảng Nước Trời. Đứng trước những khó khăn, các môn đệ như con chiên giữa sói rừng. Con chiên thì hiền lành. Vì thế các môn đệ phải có lòng khoan dung, nhân hậu và yêu thương thù địch, chứ không thù oán như thái độ của Giacôbê và Gioan đối với người Samaria (Lc 9,54).
- Tinh thần siêu thoát
“Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép…”. Đức Giêsu đòi các môn đệ phải có tinh thần siêu thoát đối với của cải vật chất. Nói rõ ra, Ngài đòi các môn đệ phải sống khó nghèo thực sự, vì khó nghèo là điều kiện để được vào Nước Trời (Lc 6,20). Không nên ỷ vào các phương tiện của con người. Đức Giêsu đã không sử dụng võ khí của quyền lực, của giầu sang, lộng lẫy, huy hoàng… Do đó, yêu sách đầu tiên của Giáo hội là theo gương của Thầy mình là trở nên khó nghèo.
- Tinh thần nhanh nhẹ
“Đừng chào hỏi ai dọc đường”.
Đây không phải là một lệnh về sự vô lễ, nhưng là một sứ mệnh khẩn cấp không được trì hoãn. Giống như xưa kia người đầy tớ của tiên tri Êlisê trong sách các Vua (2V 4,29), các sứ giả được lệnh lên đường đừng mất nhiều thì giờ trong việc chào hỏi dài dòng của người phương Đông.
Lời khuyên nhủ này có ý nhắc nhở các môn đệ hãy tránh xa những chuyện vô ích thường thấy trong xã hội Cận đông thời Đức Giêsu. Người môn đệ đi truyền giáo đừng chia trí nhưng dồn nỗ lực vào việc rao giảng Nước Trời là điều cấp bách.
- Tinh thần kiên nhẫn
“Vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón”.
Đức Giêsu đã có kinh nghiệm về vấn đề này. Ngài đã phải đối diện với những thất bại, những sự khước từ, chống đối, không tin. Do đó, Ngài muốn truyền cho các môn đệ kinh nghiệm đó để các ông đừng ngạc nhiên, đừng thất vọng. Nhưng các ông hãy tin chắc rằng, dù các ông có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị, Nước Thiên Chúa sẽ phổ biến khắp nơi.
Tuy nhiên, về phía các ông, trong thời gian rao giảng Tin mừng, các ông sẽ gặp phải sự chống đối và khước từ. Các ông hãy nhẫn nhục chịu đựng, đừng nổi nóng lên như trường hợp ông Giacôbê và Gioan muốn xin lửa trên trời xuống đốt cháy dân làng Samaria đã dám từ chối không tiếp nhận Đức Giêsu và các ông. Sau cùng, những thất bại cấp thời của các ông vẫn góp phần vào việc làm thành một thành công lớn : Nước Chúa sẽ hiển trị. Đừng sợ thất bại vì ngạn ngữ Pháp có nói :”Thất bại là mẹ thành công”.
III. ƠN GỌI RA ĐI TRUYỀN GIÁO
- Sứ mạng truyền giáo của mọi người
Khi xuống thế làm người, một phần nào đó, Đức Giêsu bị hạn chế trong không gian và thời gian, nhưng quyền năng của một Ngôi Vị Thiên Chúa nơi Ngài đâu có bị giảm sút. Thế mà, thay vì sống trăm tuổi hay trường thọ hơn nữa để có đủ thời giờ rao giảng Tin mừng cứu độ muôn dân thì Ngài lại chỉ sống có 33 năm và dành vỏn vẹn có 3 năm để đi giảng đạo. Thêm vào đó, Ngài còn nhờ đến mấy ông quê mùa, dốt nát phụ giúp công việc truyền đạo khi chọn 12 Tông đồ và 72 môn đệ. Kết quả là sau 20 thế kỷ, nhân loại nay đã gần 7 tỷ người mà chỉ có một tỷ hai Kitô hữu. Tại sao Chúa không dùng quyền phép bắt nhân loại theo đạo cả mà phải nhờ đến con người phụ giúp và còn dạy phải xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt truyền giáo ?
Lý do là vì Chúa muốn mọi tín hữu phải thâm tín rằng việc rao giảng Tin mừng, mở rộng Nước Chúa là công việc của con người, chứ không phải để mặc Chúa lo toan, định liệu cả. Vì thế, Khi Đức Giêsu bảo chúng ta xin Chúa Cha sai thêm thợ gặt, điều đó chứng tỏ Chúa muốn trao cho chúng ta trách nhiệm là phải lo lấy phần rỗi của mình và của anh em nữa.
Ngay khi lãnh Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu đã được Chúa Cứu Thế kêu mời tham gia vào sứ mạng truyền giáo. Trong hiến chế tín lý Lumen gentium, công đồng Vatican II nhấn mạnh rằng ơn gọi nên thánh phổ quát bao gồm trong lời mời gọi mọi người tiến đến sự trọn hảo của lòng bác ái. Sự nên thánh và sứ mạng truyền giáo là những khía cạnh bất khả phân ly của ơn gọi dành cho mọi người đã chịu phép rửa tội. Cam kết trở nên thánh thiện hơn được liên kết chặt chẽ với sứ mạng truyền bá thông điệp cứu độ.
Trong thông điệp Redemptoris Missio của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2, đoạn 9, có nhắc lại rằng :”Mọi tín hữu được mời gọi đến với sự thánh thiện và sứ mạng truyền giáo”.
- Việc Tông đồ giáo dân
Bảy mươi hai môn đệ còn là hình bóng của mọi tín hữu được kêu mời tham gia vào việc tông đồ của hàng Giáo phẩm. Đức Giêsu đã nói :”Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”. Vậy thợ gặt là ai ? Trước đây người ta thường dành danh xưng “thợ gặt” cho các Linh mục, các tu sĩ nam nữ, các nhà truyền giáo. Đây là một nhầm lẫn. Không ai có thể trở thành Kitô hữu mà lại không cảm nghiệm nơi mình nỗi lo âu của Đức Giêsu trước cánh đồng lúa chín mênh mông. Những tác vụ đa dạng sẽ làm nảy sinh những hình thức hoạt động khác nhau nơi mỗi người, nhưng ai nấy theo cách của mình, đều được gọi và làm việc ở đồng lúa chín (L. Sintas).
Thánh Luca cho biết các cộng đoàn Kitô hữu được khai sinh ở giữa các đô thị và vùng đất của dân ngoại. Một số các nhà thờ địa phương ấy được khai sinh không phải do hoạt động của các Tông đồ được chính thức ủy nhiệm, nhưng do hoạt động tông đồ của giáo dân, của các ông, các bà phải di chuyển vì nghề nghiệp và họ đã loan báo Đức Giêsu (Rm 16).
Giáo hội được xây dựng trên nền tảng Tông đồ thì đồng thời cũng dựa trên sức mạnh của từng viên gạch nối kết đó đây xuất hiện những Giáo hội địa phương giữa vùng đất “ngoại” do những người đàn ông đàn bà giáo dân gầy dựng. Giáo hội Triều tiên chẳng hạn đã được khai lập đầu tiên không phải do các Linh mục thừa sai mà do chính giáo dân bản xứ, như ngày xưa, tiếng gọi của một người Macédonia :”Hãy vượt biển, đến cùng chúng tôi”(Cv 16,9) đã hấp dẫn Phaolô và là nguyên do của giáo đoàn.
Truyện : Đôi tay của Chúa.
Vào cuối thế chiến thứ hai, để thu phục thiện cảm và tin tưởng của người dân trong làng vừa mới đuợc giải phóng khỏi tay quân Đức Quốc xã, toán lính thuộc lực lượng đồng minh cố gắng lượm lại từng mảnh vỡ của bức tượng Chúa Giêsu đã được dựng lên ở quảng trường trước ngôi nhà thờ nhỏ, trung tâm sinh hoạt của làng quê miền cực nam nước Italia.
Sau nhiều ngày cố gắng, toán lính đã gắn lại được gần như toàn bức tượng của Chúa. Nhưng chỉ có đôi tay bức tượng là không thể nào hàn gắn lại được. Vì các mảnh vụn lớp thì bị bể quá nhỏ, lớp thì đã bị nát thành như bụi.
Sau nhiều giờ bàn luận và gần như sắp quyết định bỏ dở công việc, thì một người trong toán lính có sáng kiến tìm lấy hai khúc gỗ gắn vào nơi hai cánh tay bị bể nát của bức tượng, rồi viết vào đó một hàng chữ bất hủ, không những đánh động được tâm hồn những người dân trong làng, mà còn thu hút được nhiều khách du lịch đến vùng này để đọc tận mắt hàng chữ đầy ý nghĩa. Các bạn có thể đoán được hàng chữ này không ? Đó là :“CHÍNH BẠN LÀ ĐÔI TAY CỦA CHÚA”.
]
3. Truyền giáo bằng sống niềm tin
Trong bí tích Rửa tội, Linh mục hỏi người chịu phép rửa :
– Hôm nay con xin gì cùng Hội thánh ?
Người chịu phép thưa :
– Thưa, con xin đức tin.
Linh mục hỏi tiếp :
– Đức tin sinh ơn ích gì cho con ?
Người chịu phép thưa :
– Thưa, đức tin đem lại cho con sự sống đời đời.
Như vậy, Thiên Chúa đã ban đức tin cho người chịu phép rửa tội, và một khi đã là một Kitô hữu thì phải có đức tin. Một Kitô chỉ có đức tin thôi chưa đủ, còn phải sống đức tin nữa, nghĩa là phải thể hiện đức tin ấy trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì thế, thánh Giacôbê đã quả quyết :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”.
Có người cho rằng sống đức tin Kitô giáo là biết “sống tử tế” với mọi người. Sống tử tế là sống thế nào cho xứng với danh hiệu là “Kitô hữu”, người được mang tên Chúa, được thuộc về Chúa. Một trong những cuốn phim gây nhiều chú ý nhất ở ngoại quốc trong thập niên 80 là phim “Truyện tử tế” của đạo diễn Trần văn Thủy. Cuốn phim này được hãng truyền hình Pháp S.R.K mua và được trình chiếu trong chương trình có tên “Đại dương”. Khi một ký giả ngoại quốc hỏi :”Những người Kitô Việt nam có thể làm gì để giúp dân tộc họ sống tử tế”? Nhà đạo diễn đã trả lời :”Điều người ta mong đợi ở các người Kitô hữu Việt nam là niềm tin của họ và họ phải sống điều họ tin.
Lời phát biểu của nhà đạo diễn trên đây đáng để chúng ta suy nghĩ. Sống trong một dân tộc còn nhiều người chưa biết Chúa. Sống trong một đất nước còn nhiều khó khăn. Sống trong một xã hội còn nhiều giả dối, gian manh, lừa đảo, tiêu cực, thì đối với người Kitô, tin và sống niềm tin của mình là phải sống, phải tin thật tử tế, tức là tin và sống tình nhân loại, sống quảng đại, tóm lại là sống tình người với nhau. Tin và sống như thế không phải chỉ là cách sống dành cho các nữ tu, các linh mục mà cũng chính là sứ mạng và ơn gọi của mỗi Kitô hữu chúng ta (Phạm văn Phượng, Chia sẻ Tin mừng, năm C, tr 161).
Truyện : Đức tin sống động
Felix Frankfurter là một quan toà nổi tiếng của toà án tối cao của Hoa kỳ. Một lần kia ông được đưa vào bệnh viện, ở đó ông quen biết một y tá có tên là Lucy. Họ có những lúc ngồi nói chuyện thân mật và ông biết nhiều điều về Lucy.
Trước đó, chưa bao giờ ông gặp được người nào có lòng quảng đại và nhân hậu như chị. Và ông bắt đầu tự hỏi và suy nghĩ, cố gắng khám phá suối nguồn của thái độ của chị. Điều ông khám phá như sau : Suối nguồn ấy không có gì là bí ẩn. Nó đơn giản , chỉ là sự áp dụng thực hành đức tin của chị.
Lucy không bao giờ biết đức tin sống động của chị có ảnh hưởng như thế nào, nhưng chị đã làm cho Đức Giêsu hiện diện cụ thể trong bệnh viện này. Chị đem đến đôi bàn tay mà Đức Giêsu cần đến. Đức Giêsu cần những nhân chứng cho người ta như chị Lucy đến nỗi Người có thể trở thành Đấng an ủi như Người muốn làm.
Một quan hệ thật sự với Đức Giêsu sẽ có một ảnh hưởng cả khi người có mối quan hệ ấy không đề cập đến Đức Giêsu. Dĩ nhiên, những người tin vào Đức Giêsu và yêu mến Người, cũng sẽ, khi thuận lợi, nói về Đức Giêsu một cách rõ ràng cởi mở (McCarthy).
- Truyền giáo bằng đèn sáng và muối đất
Đức Giêsu đã gọi các môn đệ của Ngài là muối cho đời và ánh sáng cho thế gian (Mt 5,13-14). Muối, ánh sáng và thành xây trên núi là những hình ảnh nói lên vai trò chứng tá của môn đệ Chúa trên trần gian.
Muối thì thấp hèn, âm thầm và khiêm tốn, nhưng muối có hai công dụng chính : ướp cho khỏi hư và làm gia vị. Người môn đệ phải giữ cho xã hội khỏi suy thoái, đồng thời giúp cho sự thăng tiến của xã hội. Người Kitô hữu mang danh nghĩa là con cái Thiên Chúa, phải hết sức bảo vệ và phát triển danh nghĩa ấy trong môi trường thế gian, nếu không làm như vậy, thì người Kitô hữu đã bị biến chất và trở nên vô dụng, vô tích sự.
Còn ánh sáng thì rực rỡ, huy hoàng. Ánh sáng soi cho người ta thấy rõ đường đi, nhận rõ các đồ vật. Người Kitô hữu là con cái sự sáng, phải dùng đời sống gương mẫu và chứng tá của mình để soi dẫn cho những người chung quanh biết đường về cùng Thiên Chúa. Việc tỏa sáng bằng đời sống gương sáng và chứng tích để lôi cuốn, phải được coi là bổn phận của người Kitô hữu vì “đèn thắp lên là để soi sáng cho mọi người trong nhà”.
Là muối, là ánh sáng thế gian, hơn ai hết, Kitô hữu chúng ta cần phải thắp sáng lên niềm hy vọng bằng cuộc sống toả lan tình nghười. Dù chỉ là ngọn đèn mù mờ giữa biển khơi, chứng từ của một Kitô hữu vẫn luôn cần thiết cho cuộc sống.
Truyện : Ảnh hưởng của chứng từ.
Ông Pi-tơ Bơ-rốt là một người ngoài công giáo, ông hằng ước ao chứng kiến đời sống thánh thiện của Giám mục Fénelon. Ngày kia ông đã liên lạc với vị Giám mục thời danh xin ngài cho ông tới thăm một thời gian.
Vị Giám mục đã niềm nở tiếp đón khách và đối xử ân cần đến nỗi Pi-tơ Bơ-rốt còn thấy thoải mái hơn cả ở nhà mình. Tuy nhiên chỉ lưu lại được vài ngày ông đã thu dọn hành lý, chào vị Giám mục và ra đi trước thời hạn dự định.
Khi được hỏi tại sao ông lại vội vàng bỏ đi như vậy, ông Pi-tơ Bơ-rốt đã thú nhận :”Tôi không thể ở lại lâu hơn. Vì nếu còn ở lại sớm muộn tôi cũng sẽ theo đạo Công giáo mất, một điều mà hiện tại bản thân tôi chưa muốn”.
Lm. Giuse Đinh lập Liễm Gp. Đà Lạt