Thêm

    CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN

    BÀI ĐỌC I: Is 55, 6-9

    Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót; hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thế ấy.

    BÀI ĐỌC II: Pl 1, 20c-24. 27a

    Anh em thân mến, dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô sẽ được vẻ vang trong thân xác tôi. Vì đối với tôi, sống là Đức Kitô, còn chết là một mối lợi. Nhưng nếu sống trong xác thịt này đem lại cho tôi kết quả trong việc làm, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Tôi đang lúng túng trong hai điều này: là ước ao chết để được ở với Đức Kitô thì tốt hơn bội phần, nhưng cứ ở lại trong xác thịt thì cần thiết cho anh em. Anh em hãy sống xứng đáng với Tin Mừng của Đức Kitô.

    PHÚC ÂM: Mt 20, 1-16a

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ dụ ngôn này rằng: “Nước trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm vườn nho mình. Khi đã thoả thuận với những người làm thuê về tiền công nhật là một đồng, ông sai họ đến vườn của ông. Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác đứng không ngoài chợ, ông bảo họ rằng: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng”. Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu và thứ chín, ông cũng trở ra và làm như vậy. Đến khoảng giờ thứ mười một ông lại trở ra, và thấy có kẻ đứng đó, thì bảo họ rằng: “Sao các ngươi đứng nhưng không ở đây suốt ngày như thế?” Họ thưa rằng: “Vì không có ai thuê chúng tôi”. Ông bảo họ rằng: “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta”. Đến chiều chủ vườn nho bảo người quản lý rằng: “Hãy gọi những kẻ làm thuê mà trả tiền công cho họ, từ người đến sau hết tới người đến trước hết.” Vậy những người làm từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người một đồng. Tới phiên những người đến làm trước, họ tưởng sẽ lãnh được nhiều hơn, nhưng họ cũng chỉ lãnh mỗi người một đồng. Đang khi lãnh liền, họ lẩm bẩm trách chủ nhà rằng: “Những người đến sau hết chỉ làm có một giờ, chúng tôi chịu nắng nôi khó nhọc suốt ngày mà ông kể họ bằng chúng tôi sao”? Chủ nhà trả lời với một kẻ trong nhóm họ rằng: “Này bạn, tôi không làm thiệt hại bạn đâu, chớ thì bạn đã không thoả thuận với tôi một đồng sao?” Bạn hãy lấy phần bạn mà đi về, tôi muốn trả cho người đến sau hết bằng bạn, nào tôi chẳng được phép làm như ý tôi muốn sao? Hay mắt bạn ganh tị, vì tôi nhân lành chăng? Như thế, kẻ sau hết sẽ nên trước hết, và kẻ trước hết sẽ nên sau hết”.

    Suy Niệm 1: SỰ KHÔN NGOAN, CÔNG LÝ CỦA THIÊN CHÚA LÀ LÒNG THƯƠNG XÓT!

    Một chủ đề lớn của Thánh Kinh, đó là tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa cao vượt quá tư tưởng đường lối của con người như trời cao hơn đất. Vì thế, đừng suy bụng ta ra bụng Chúa, đừng lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử. Thay vào đó, hãy bỏ tư tưởng đường lối của mình chứ đừng cố thủ, và hãy qui phục theo đường lối Chúa, Đấng giàu lòng thương xót và ơn tha thứ! (x. Is 55,6-9).
    Khoảng cách “như trời cao hơn đất” ấy là khoảng cách giữa lòng từ bi thương xót vô hạn của Chúa và lòng dạ chật hẹp nhỏ nhen của con người. “Chúa nhân ái và từ bi, chậm bất bình và giàu ân sủng. Chúa hảo tâm với hết mọi người, và từ bi với mọi công cuộc của Chúa” (Tv 144). Chúng ta tìm kiếm sự khôn ngoan – và sự khôn ngoan tối thượng là yêu thương, là từ bi, nhân hậu!
    Dụ ngôn về những người làm vườn nho giờ thứ mười một cho thấy tấm lòng của ông chủ gây bất ngờ và khó hiểu, khó chấp nhận đối với những người công nhân đã đến làm sớm hơn trong ngày. Trời cao hơn đất đó! Tư tưởng đường lối của Thiên Chúa vượt trên tư tưởng đường lối của con người phàm hèn đó! Những người kia phản ứng và chất vấn về lòng tốt của ông chủ, thật là quá mỉa mai, vì ông chủ đâu có lỗi gì, ông chỉ có lòng tốt và sự quảng đại thôi!
    Thiên Chúa là ông chủ vườn nho ấy. Những người kia đòi công bằng, công lý theo quan niệm của họ. Nhưng dụ ngôn cho thấy công lý của Thiên Chúa là lòng thương xót! Từ ‘công lý là lòng thương xót’ này, ta thấy những người kia nhỏ nhen, ấu trĩ và vô lý biết bao!
    Sự khôn ngoan của Thiên Chúa, tư tưởng đường lối của Ngài, công lý của Ngài đã nhập thể nơi Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, qui phục sự khôn ngoan của Thiên Chúa là qui phục Chúa Giêsu Kitô- như Tông đồ Phaolo: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi”. Và ngài khuyên các tín hữu cũng qui phục Chúa Kitô như ngài: “Anh em hãy sống xứng đáng với Tin Mừng của Đức Kitô “! (Pl 1, 20c-24.27a).
    Chúng ta cũng được khuyên như vậy!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ……………………..
    Suy Niệm 2: SỐNG QUNG ĐẠI NHƯ THIÊN CHÚA

    Ai trong chúng ta cũng đã một lần có thái độ “ghen tỵ” khi thấy người khác hơn mình. Chúng ta thường nghĩ và nhìn sự kiện theo cái nhìn của con người. Nếu chúng ta biết nhìn mọi sự theo cái nhìn của Thiên Chúa, thì chúng ta hiểu được đường lối của Ngài và như thế chúng ta sẽ không còn so sánh mình với người khác để rồi sinh ra ghen tỵ. Trong bài đọc 1 hôm này, ngôn sứ Isaia mời gọi chúng ta tìm Đức Chúa và đường lối của Ngài hơn là sống theo đường lối mình đang theo và tư tưởng mình đang có (x. Is 55:6-7). Tư tưởng và đường lối của chúng ta thì giới hạn vì chúng ta nhìn và suy nghĩ trong thời gian, còn tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa thì vô hạn vì Ngài nhìn mọi sự trong vĩnh cửu. Vì vậy, “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta – sấm ngôn của Đức Chúa. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55:8-9). Những lời này làm chúng ta suy gẫm về những gì xảy ra trong cuộc sống của mình. Không có sự kiện nào xảy ra trong ngày sống mà không có ý nghĩa riêng của nó. Nói cách khác, dưới con mắt đức tin không có gì xảy ra trong ngày sống là ngẫu nhiên. Mọi sự kiện xảy ra trong sự quan phòng của Thiên Chúa để chúng ta học biết đường lối của Ngài. Liệu chúng ta có can đảm từ bỏ lối sống theo tư tưởng của mình để sống theo đường lối của Thiên Chúa không?

    Về phần mình, Thánh Phaolô trong bài đọc 2 trình bày cho chúng ta cách thức tuyệt hảo nhất để sống theo đường lối và tư tưởng của Thiên Chúa là hoàn toàn để “Đức Kitô tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết: vì đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1:20c-21). Đối với Thánh Phaolô, sống là sống cho Chúa, còn chết là được kết hợp với Ngài. Vì vậy, sự chết đối với thánh nhân không phải là một cái gì đáng sợ, những là “phương tiện” để qua đó chúng ta diện kiến nhan thánh Chúa. Để sống và chết cho Chúa, Thánh Phaolô chỉ mong ước ở các tín hữu Philiphê một điều, đó là họ “phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô” (Pl 1:27a). Đây là Tin Mừng của tình yêu và tha thứ, Tin Mừng về sự quảng đại và cảm thông cho những người bị loại ra ngoài xã hội.

    Trong Tin Mừng Thánh Matthêu, chúng ta cũng tìm thấy một dụ ngôn về vườn nho trong chương kế tiếp (21:33-34). Bài Tin Mừng hôm nay liên kết với những bài Tin Mừng chúng ta đã đọc trong những ngày trước hầu làm sáng tỏ đề tài phần thưởng dành cho các môn đệ Chúa Giêsu đồng thời cũng nói lên sự đảo ngược về vận mệnh của những người trước hết sẽ nên sau hết và những người sau hết sẽ nên trước hết. Tuy nhiên, trong dụ ngôn này, Thánh Mátthêu đưa một đề tài mới vào trong phần thưởng dành cho những người theo Chúa Giêsu, đó là sự quảng đại của Thiên Chúa.

    Hình ảnh đầu tiên mà chúng ta lưu ý là “vườn nho.” Đây là biểu tượng cho dân Israel (x. Is 5; Gr 2:10). Nhìn từ bối cảnh này, chúng ta thấy Chúa Giêsu nói đến việc “mướn” nhiều người để “sai đến với những con chiên lạc Israel.” Sau khi đã thoả thuận với thợ mỗi ngày một quan tiền, đây là tiền công bình thường cho một ngày làm công trong thời gian đó (x. Mt 20:2). Người chủ thuê người làm vào lúc 6g sáng, 9g sáng, 12g trưa, 3g chiều, và 5g chiều. Trong khoảng thời gian đó, những người tìm việc làm thường đứng ở các ngã ba đường hoặc chợ để mong được thuê làm. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý sự khác biệt ở đây là vấn đề tiền công. Đối với những người làm công được thuê ngay từ đầu ngày là có thoả thuận một quan tiền; còn những người được thuê từ 9g sáng đến 5g chiều thì tiền công không được đưa ra để thoả thuận, nhưng lệ thuộc vào người chủ. Ông chỉ hứa là “sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng” (Mt 20:5). Như chúng ta biết, ngày sống của người Do Thái bắt đầu lúc 6g sáng và kết lúc 6g tối. Như vậy, những người làm từ 6g sáng phải làm 12 tiếng, còn những người được thuê làm sau chỉ làm 9 tiếng, 6 tiếng, 3 tiếng hoặc chỉ 1 tiếng. Điều này là lý do tại sao những người làm 12 tiếng phàn nàn vì ông chủ trả công không theo lẽ “công bằng.” Vì nếu theo lẽ công bằng, họ làm nhiều hơn sẽ nhận được nhiều hơn. Nhưng họ quên rằng tiền công của họ không được hứa trả theo lẽ công bằng, nhưng theo “thoả thuận.” Đây chính là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Nhiều lần, chúng ta đến với Chúa và “bắt” Chúa phải trả cho mình theo lẽ công bằng: con làm nhiều thì con phải được nhận lại nhiều. Con đi lễ nhiều, làm việc tốt nhiều thì con phải được thưởng nhiều. Thái độ này đã đặt giới hạn cho tình yêu và sự quảng đại của Thiên Chúa. Đồng thời cũng chỉ rõ ý hướng làm việc của chúng ta là chỉ để được thưởng hầu có thể so sánh với người khác là mình đã làm hơn người khác. Hãy chú tâm làm việc và để việc thưởng công cho Đức Chúa. Đừng so sánh và tức giận, nhưng biết tìm vui trong những gì nhỏ bé mình nhận được từ sự quảng đại của Thiên Chúa.

    Một chi tiết khác chúng ta có thể suy gẫm là: “Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ: ‘Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?’ Họ đáp : ‘Vì không ai mướn chúng tôi.’ Ông bảo họ : ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!’” (Mt 20:6-7). Những lời này cho chúng ta thấy họ muốn làm việc, nhưng lại không được ai thuê mướn. Chi tiết này biện minh cho việc “sao các anh đứng đây suốt ngày.” Điều Thánh Mátthêu ám chỉ ở đây là để dạy các tín hữu trong cộng đoàn mình về giá trị của làm việc: có một việc làm, dù nhỏ mọn hay ngắn ngủi cũng tốt hơn là không có gì để làm hay không chịu làm gì [lười biếng]. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về thái độ trước công việc. Ai cũng muốn có việc lớn, việc tốt, còn những việc tầm thường chẳng mấy ai thích. Thánh Mátthêu dạy chúng ta rằng: điều quan trọng không phải loại việc tôi làm, nhưng là thái độ làm việc của tôi. Sự vĩ đại của công việc hệ tại ở chỗ biết nhìn công việc mình như là sự đáp trả lời mời gọi vào làm trong vườn nho của Thiên Chúa, làm việc Chúa trao, chứ không phải là làm việc mình thích, theo giờ mình thích.

    Câu 8 và 9 là những câu chuyển tiếp và là bối cảnh để giải thích những gì đi theo sau: “Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: ‘Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.’ Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền.” Đúng ra nếu ông chủ trả tiền cho những người vào làm trước và họ đi về thì không có vấn đề “cằn nhằn.” Tuy nhiên, điều này xảy ra để hoàn thành điều Chúa Giêsu nói trong câu cuối của chương 19 (câu 30) và cũng là câu cuối của bài Tin Mừng hôm nay: “Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót” (Mt 20:16a). Chi tiết này cho thấy cách thức ông chủ làm việc khác với cách thức mà những người làm công thường nghĩ đến. Vì cách thức làm việc “kỳ quặc đó” mà những người làm trước nhất lẩm bẩm, khó chịu và cằn nhằn với ông chủ: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20:12). Những lời này nhắc nhở chúng ta rằng trong cuộc sống khi không hiểu được đường lối của Thiên Chúa, chúng ta cũng thường lẩm bẩm, khó chịu, và cằn nhằn với Chúa. Nhiều người mất cả niềm tin vì họ không thể chấp nhận đường lối “bất công” của Thiên Chúa. Nhưng ông chủ cho thấy, ông không bất công với họ vì ông trả cho họ đúng với khoản tiền cả hai bên đã đồng ý: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao?” (Mt 20:13). Thiên Chúa không bao giờ đối xử bất công với chúng ta, vì Ngài “công bình” và giàu tình thương. Điều làm cho những người đến làm trước cảm thấy tức giận với ông chủ là vì họ “mong chờ điều không phải của họ.” Khi chúng ta mong chờ điều không phải là của mình thì chúng ta sẽ dễ dàng thất vọng vì chúng ta sẽ không bao giờ có được điều đó. Thái độ này hoàn toàn trái ngược với thái độ những người vào làm sau. Họ không mong chờ. Họ hoàn toàn dựa vào sự quảng đại của ông chủ và họ nhận được khoản tiền công vượt sự mong chờ của họ. Khi đến với Chúa, chúng ta ai cũng có mong ước. Nhưng điều quan trọng là liệu sự mong ước của chúng ta có giống với sự mong ước của Chúa cho chúng ta không? Hãy để sự mong ước của chúng ta tan biến trong sự mong ước của Chúa, vì sự mong ước của Ngài luôn luôn tốt hơn và hoàn hảo hơn cho cuộc đời của chúng ta.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………….

    Suy Niệm 3: LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA THIÊN CHÚA

    A. DẪN NHẬP 

    Hôm nay Chúa sẽ nói với chúng ta :”Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi”(Is 55,8).  Đúng vậy, có bao giờ chúng ta ngạc nhiên và sửng sốt  bởi cách hàng động của Chúa không ? Những hành động đó không đúng với tính toán và dự liệu của chúng ta, và có khi đi ngược lại các dự tính của chúng ta.

    Tư tưởng và đường lối của Thiên Chúa khác hẳn con người, khác nhau như trời cao đất thấp. Con người thì thấp hèn nhỏ nhen, hay so đo ghen tị, chỉ thích giữ công bằng mà quên đi Tình yêu. Còn Thiên Chúa thì khác hẳn, Ngài không thích chúng ta  chỉ sống như người làm thuê, tính toán sòng phẳng như kẻ mua người bán, mà Ngài chỉ muốn là người Cha yêu thương hằng săn sóc đến con cái, cung cấp cho nó những cái gì cần thiết và tốt đẹp nhất.

    Vì thế dụ ngôn những người thợ được thuê vào giờ thứ 11 mà phụng vụ hôm nay đọc lại cho chúng ta sẽ va chạm đến ý niệm của chúng ta về công bằng trong phân phát. Đấy là vì Chúa Kitô đặt công lý của Nước Trời trên một bình diện khác hẳn bình diện của chúng ta dưới thế gian, đến độ mà “đường lối và tư tưởng của chúng ta” bị xáo dộng và sửng sốt.

    Chúng ta hãy cố gắng sống với Chúa như người con thảo, muốn làm đẹp lòng Cha yêu thương. Đừng bao giờ sống như người làm thuê trong nhà Cha mà so đo tính toán với Chúa. Hãy bằng lòng với hiện trạng của mình, đừng kiêu ngạo, đừng phân bì với tha nhân. Hãy sống trong tình anh em con một Cha trên trời.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    +  Bài đọc 1 : Is 55,6-9.

    Kẻ có tội thường sợ Thiên Chúa trừng phạt nên trốn tránh Ngài.  Tiên tri Isaia hối thúc dân Israel từ chốn lưu đầy trở về, phải sám hối và hãy tìm đến Chúa. Hãy tin tưởng vào Thiên Chúa bởi vì những dự định và cách hành xử của Ngài không giống với tư tưởng của ta.  Ngài không nghĩ đến trừng phạt mà chỉ nghĩ đến cứu vớt, Ngài không bắt tội mà chỉ thứ tha.

    Nếu đem so sánh tư tưởng và cách cư xử của loài người và của Thiên Chúa, chúng ta sẽ nhận ra một khoảng cách rất xa, rất cách biệt :”Như  trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối của Ta cao hơn của các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy”

     

    +  Bài đọc 2 : Pl 1,21-24,27.

    Thánh Phaolô viết thư này ở trong tù vào khoảng năm 63 gửi cho tín hữu Philipphê biết : Ngài không biết số phận của Ngài sẽ ra sao, được tha hay bị kết án, nhưng Ngài sẵn sàng đương đầu với tất cả :

    – Nếu được thả tự do, Ngài sẽ tiếp tục rao giảng Tin mừng Đức Giêsu Kitô, và Đức Kitô sẽ được vẻ vang.
    – Nếu bị giết chết, Ngài sẵn sàng hy sinh vì Chúa. Vì cái chết của Ngài cũng làm vẻ vang cho Đức Kitô.
    Và Ngài kết luận : Dù tôi sống hay tôi chết, Đức Kitô sẽ được vẻ vang nơi tôi.

    +  Bài Tin mừng : Mt 20,1-16a.

    Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn này có ý nói lên lòng quảng đại của Thiên Chúa. Ngài là người Cha yêu thương và nhân hậu. Cách cư xử của Ngài không giống với lối cư xử của con người.

    Dụ ngôn này gợi cho ta hai cách suy nghĩ :

    a) Suy nghĩ của loài người : theo cách cư xử thông thường thì người thợ làm nhiều sẽ được lãnh nhiều, người làm ít sẽ lãnh lương ít. Như thế mới công bằng và hợp với lẽ thường.

    b) Suy nghĩ của Thiên Chúa : ông chủ vẫn trả lương cho người làm nhiều giờ như đã hợp đồng. Nhưng ở đây, ông chủ có lòng quảng đại, muốn trả cho người thợ làm có một giờ cũng được lãnh một quan tiền mà không có hợp đồng , hoàn toàn do lòng tốt của ông chủ. Như vậy, người làm thợ giờ cuối cùng được ông chủ thương cách riêng, không có lỗi đức công bằng.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

                                              Tất cả là hồng ân

    I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN

    1. Tình trạng thất nghiệp 

    Mọi người phải có công ăn việc làm để nuôi sống mình và gia đình. Ai cũng phải có một việc làm hoặc bằng chân tay hoặc bằng trí óc.  Không có việc làm là thất nghiệp. Tình trạng thất nghiệp đã làm đau đầu các nhà lãnh đạo quốc gia vì phải tìm cách tạo công ăn việc làm cho dân.  Ngay như nước Mỹ vẫn còn 9.500.000 người thất nghiệp, hơn 4 triệu người ăn xin, hơn 300.000 người tự tử hằng năm (theo đài Hà nội đưa tin hồi 07g15 sáng ngày 21.09.1987) . Ngày nay, những người thất nghiệp được nhận vào làm việc trong các nhà máy là một niềm vui và hy vọng.  Ngày xưa cũng không thiếu gì người thất nghiệp cả ngày ngồi ở chợ, chờ đợi mà không có chủ thuê, nếu được gọi vào làm công cho người ta thì là một sự may mắn.

    1. Cách thuê thợ ở Palestine 

    Ở Palestine, mùa hái nho chính vào đầu tháng 10. Sau đó là mùa mưa. Nếu không hái nho kịp trước khi mưa đến thì nho sẽ hư,  vì vậy người ta phải chạy đua với thời gian để kịp thu hoạch. Bất cứ người làm công nào cũng được thu nhận dù người đó chỉ làm được một giờ.

    Tiền công trả cũng bình thường, một denier (một quan tiền) là tiền công của một ngày bình thường của một người làm mướn.  Những người đứng ở chợ không phải là những người biếng nhác ở đầu đường xó chợ, hạng ăn không ngồi rồi.  Ở Palestine, chợ là nơi trao đổi lao động.  Người ta đến đó vào sáng sớm, mang theo dụng cụ lao động của mình và chờ ở đó cho đến khi có người đến mướn.  Họ ở đó chờ công việc, bằng chứng là trong số họ  có người chờ đến 5 giờ chiều, chứng tỏ họ muốn làm việc như thế nào.

    Thời giờ trong dụ ngôn cũng là thời giờ bình thường của người Do thái. Giờ của người Do thái bắt đầu từ 6 giờ sáng và được tính từ đó đến 6 giờ chiều. Tính từ 6 giờ sáng thì giờ thứ 3 là 9 giờ sáng, giờ thứ 6 là 12 giờ trưa, và giờ thứ 11 là 5 giờ chiều.

    1. Ý nghĩa dụ ngôn

    Để hiểu dụ ngôn này, chúng ta phải chú ý tới tâm trạng của người Do thái lúc bấy giờ.  Họ quan niệm rằng : Nước Trời chỉ dành cho họ, những con cái Abraham, còn người ngoại bang, dân ngoại bị loại trừ hoàn toàn.  Người Do thái chiếm được Nước Trời là vì sự trung thành của họ đối với Lề luật Maisen, được thể diện ở giao ước Sinai giữa Israel và Giavê.  Để đả phá quan niệm sai lầm này, Chúa Giêsu đã đưa ra dụ ngôn “Thợ vườn nho” đây, vì Nước Trời không phải là món tiền lương, hay một đặc ân, nhưng là một ơn nhưng không Thiên Chúa ban cho toàn thể nhân loại.

    Dụ ngôn này là lời cảnh cáo đối với người Do thái.  Người Do thái biết họ là dân được chọn, và không bao giờ quên được sự tuyển trạch đó. Kết quả là họ khinh người ngoại bang, chỉ muốn cho người ngoại bang bị hủy diệt.  Thái độ này có nguy cơ được đem vào Hội thánh Chúa. Nếu người ngoại bang được cho vào thân hữu của Hội thánh  thì phải vào như những kẻ thấp kém hơn.

    Trong đạo Chúa không có quan niệm ưu đãi một dân tộc nào. Chính những người tin Chúa lâu năm có thể học hỏi được nhiều nơi những người tân tòng,  những người mới bước vào cộng đồng đức tin.

    Ông chủ trong Tin mừng hôm nay thật là siêu việt, ông đã thực thi và đề ra chính sách công bằng, bác ái  vượt thời gian và không gian.  Ông chủ đó chính là Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô. Đấng cứu thế đã đặt ra giải pháp cứu con người và truyền dạy con người phải biết sống công bằng và bác ái, như thế mới mong xây dựng được một xã hội tuyệt hảo.

    Thế nhưng, con người từ bao nhiêu ngàn năm vẫn đố kỵ, ghen ghét lẫn nhau.”Họ lẩm bẩm kêu trách chủ rằng : bọn sau chỉ làm một giờ mà ông trả bằng chúng tôi sao” ?  Ông buộc lòng phải sửa trị thói ghen tị đó bằng cách vạch ra cho họ thấy lòng bác ái cao cả của ông :”Chẳng lẽ tôi không có quyền cho của cải của tôi sao ? Hay vì bạn thấy lòng tốt của tôi, mà bạn ghen tức ư” ?

     

                                 Truyện : Với Chúa không có mặc cả so đo.

    Một người công giáo thấy mình chết phải đến tòa phán xét. Vừa bước chân vào pháp đình, một tòa nhà nguy nga đồ sộ,  liền thấy một quang cảnh vừa uy nghiêm vừa im lặng đáng sợ. Trên ngai cao rực rỡ, Chúa Giêsu ngồi oai nghi xử án, có các Thiên thần mặc toàn trắng chầu chực giúp việc.  Bên hữu Chúa có một cánh cửa rộng mở một lối đi tràn ngập ánh sáng.  Còn bên tả cũng có một cánh cửa, nhưng lớn hơn và nhìn vào chỉ thấy đen thăm thẳm.  Trước mắt Chúa đặt một chiếc bục để con người đến đứng trình diện . Cả một biển người đủ mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc, sang hèn cao thấp chen chúc nhau, hồi hộp chờ đợi.

    Và một hồi chuông rung lên, một Thiên thần cầm một quyển sổ đọc tên thì thấy một đứa bé da đen khoảng 10 tuổi đi đến đứng trên bục.  Rồi Thiên thần trình cho Chúa một tờ giấy , thấy Chúa mỉm cười và giơ tay chúc lành cho em. Lập tức các Thiên thần xúm lại dẫn em vào cửa có ánh sáng giữa tiếng đàn đón chào tưng bừng.

    Tiếp đến là một thanh niên da trắng và Thiên thần cũng làm như lần đầu, nhưng thấy mặt Chúa phẫn nộ giơ tay xua đuổi. Tức khắc, mấy thằng qủi nhảy tới chộp ngay lấy chàng thanh niên và lôi tuột vào cửa đen ngòm giữa tiếng la hét chửi rủa. Cứ như thế cuộc phán xét tiếp tục khi thì vui mừng khi thì đau thương.

    Bỗng người công giáo thấy bà già bên luơng bước lên bục phán xét và bà ta được Chúa cho lên thiên đàng. Thấy thế, ông công giáo mừng thầm trong bụng.  Đến lượt một người mà ông biết rất rõ và tin chắc thế nào cũng bị phạt vì đời sống của người ấy quá bê tha tội lỗi.  Nhưng kìa Chúa mỉm cười và được các Thiên thần an ủi dẫn vào luyện ngục.

    Đến đây người công giáo chắc mẩm mình sẽ được Chúa thương vì dù sao mình cũng đã theo Chúa bấy lâu nay. Do đó, khi được gọi lên toà phán xét, ông ta tỏ vẻ hiên ngang vui sướng, nhưng khi nghe Thiên thần báo cáo với Chúa về những gì đã sống thì ông ta xanh mặt run rẩy. Chúa phẫn nộ xua đuổi, lập tức ba thằng quỉ lôi tuột ông ta vào hỏa ngục.  Ông ta thét lên đau đớn và tỉnh dậy.  Té ra ông ta nằm mơ. Một giấc mơ hãi hùng khủng khiếp khiến ông lạnh toát cả người, suy nghĩ đặt lại vấn đề sống xưa nay.  Vậy Chúa đã tỏ cho biết sai chỗ nào nghiêm trọng đến nỗi bị sa hoả ngục (Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr  117).

    Đọc câu truyện trên, chúng ta thấy Chúa muốn chúng ta sống với Chúa như tình con thảo chứ không muốn chúng ta sống như một người làm thuê, tính toán sòng phẳng. Thực ra, những gì chúng ta có là do hồng ân Chúa ban, là món quà Chúa ban nhưng không.

    Suy đi nghĩ lại, chúng ta thấy đó là sai lầm của ông công giáo kia đã hành xử suốt đời mình khi đặt mối liên hệ giữa ông ta với Chúa trên cơ sở trao đổi mặc cả giống như những người làm thuê từ sáng sớm đã lẩm bẩm kêu trách Ông Chủ trong dụ ngôn của Tin mừng hôm nay.  Và phải chăng đây cũng là lối suy nghĩ và cung cách sống đạo của chúng ta thường mắc phải và cứ cho là đúng, nhưng thực tế lại sai lầm trầm trọng.


    II. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

    1. Tư tưởng của Chúa và của ta

    Loài người chúng ta suy nghĩ giống như một người buôn bán : món hàng trị giá thế nào, vậy phải mua thế nào, bán thế nào ? bao nhiêu thì đúng, bao nhiêu thì sai ?

    Chúng ta áp dụng suy nghĩ ấy chẳng những trong đối xử với người khác, mà còn cho cả Thiên Chúa nữa : tôi đã làm gì và làm bao nhiêu, cho nên Thiên Chúa phải ban cho tôi ơn gì và ban bao nhiêu. Chúng ta cho rằng như thế là công bằng.

    Nhưng Thiên Chúa không muốn làm người bán cũng không muốn làm người mua. Ngài chỉ muốn làm người Cha, yêu thương chúng ta là con.  Ngài chỉ có yêu thương và chỉ dùng lòng tốt để đối xử. Đối với từng đứa con, Ngài không xem xét nó đã làm được gì, nó đáng được bao nhiêu.  Ngài chỉ nghĩ nó cần được chăm sóc như thế nào, ban cho nó cái gì là tốt nhất.

    Khi lẩm bẩm trách, những người thợ làm nhiều giờ muốn lấy suy nghĩ của mình áp đặt lên lối suy nghĩ của ông chủ, họ muốn ông chủ đừng làm người cha yêu thương mà hãy làm người buôn bán vô tình (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 478).

    1. Hai bài học cho ta
      a) Bài học thứ nhất : Như đã nói : mọi công việc đối với Chúa đều bằng nhau, vấn đề không phải ở số lượng công việc nhưng ở tình yêu thúc đẩy làm công việc đó. Một người có thể tặng chúng ta một món quà cả trăm ngàn, chúng ta rất biết ơn người đó.  Một em bé có thể tặng chúng ta một món quà chỉ đáng giá vài ngàn, nhưng đó là món quà dành dụm đầy nỗ lực và yêu thương của nó, dù món quà nhỏ không giá trị bao nhiêu nhưng nó khiến chúng ta cảm động nhiều hơn.  Thiên Chúa không nhìn vào số lượng công việc của chúng ta. Bao lâu ta còn làm, công việc đều được xếp như nhau trước mặt Chúa.
      b) Bài học thứ hai : Đó là tất cả mọi sự Chúa ban cho ta đều là ân sủng của Ngài. Chúng ta không thể làm ra những điều Chúa ban cho, chúng ta không xứng đáng với điều đó. Thiên Chúa ban cho chúng ta là do bởi lòng tốt của Ngài, bởi ân sủng Ngài. Tất cả những gì Chúa ban cho không phải là để trả công nhưng là quà tặng, đó không phải là phần thưởng nhưng là ân sủng.

     

    1. Thái độ chúng ta phải có 

    Chúng ta phải chấp nhận như một người con khiêm nhường những hành động của Chúa vì chúng ta biết rằng động cơ duy nhất thúc đẩy người ta trong sự lựa chọn là tình yêu.  Chúng ta hãy khôn ngoan chấp nhận những quyết định của Người với sự mau mắn và biết ơn.

    Chúng ta phải hành động như Chúa đối với tha nhân : không ganh tị, không nghiêm khắc, không phán xét xấu, không lên án chung thẩm, nhưng phải thông cảm, ưu ái với “một nụ cười của tâm hồn”.

    Muốn nên giống Chúa Kitô, chúng ta phải sống theo tinh thần Tân ước, không chỉ chú ý đến công bằng mà nhất là chú ý đến Bác ái. Đối với Chúa, đức công bằng chưa đủ vì như thế chúng ta còng đang sống theo tinh thần Cựu ước vì Cựu ước chưa được hoàn hảo.. Chính vì vậy mà dụ ngôn hôm nay nhắc cho chúng ta là phải chú trọng đến Tình yêu đối với Chúa và với tha nhân. Từ nay chúng ta đừng bao giờ phân bì với nhau mà hãy để cho Chúa hành động theo ý Ngài.

                                          Truyện : Cha Sở và Cha Phó.

    Tại một xứ đạo kia số giáo dân khá đông, có Cha Sở, Cha Phó. Một số giáo dân, vì cuộc sống bác ái chưa trưởng thành, nên có hai nhóm xung khắc với nhau. Một nhóm quí Cha Sở, nhóm kia mến Cha phó, vì ngài còn trẻ, năng nổ.

    Một hôm nhóm ủng hộ Cha Sở đến trao đổi tâm tình với ngài :
    – Thưa cha, cha ở đây đã lâu năm, công dầy, đức cao, sao cha để Cha Phó thay đổi nề nếp giáo xứ mình – bỏ đi công lao cha xây dựng ? Và đám thanh niên cùng một số lớn giáo dân có vẻ nghiêng cảm tình về Cha Phó. Xin cha ngăn cản đi.
    Cha Sở bình tĩnh trả lời :
    – Giữa tôi và Cha Phó ai vất vả hơn ?
    – Cha Phó.
    Cha Sở chậm rải nói tiếp :
    – Ngài còn trẻ, còn có sức hoạt động, phải dấn thân nhiều, và Chúa cũng lo liệu và trợ giúp Ngài bằng cách cho những tâm hồn biết thông cảm, cộng tác. Đó là điều công bằng, điều tốt đẹp, sao các ông bà so bì với tôi – một người đáng lẽ đã về hưu ?
    Nghe Cha Sở nói sai  tần số với mình, nhóm kia chống chế :
    – Cha cũng đã từng hoạt động dấn thân, có khi còn hơn Cha Phó bây giờ.
    Cha Sở nói tiếp :
    – Và tôi cũng đã từng được người ta qúi mến, ủng hộ. Và biết đâu còn hơn Cha Phó. Vì bây giờ Cha Phó vẫn còn một số người thiếu thông cảm, muốn hạ thấp.
    Đám người kia ra về, họ cảm phục Cha Sở “đức cao” và cảm thấy tâm hồn, cõi lòng mình sao nhỏ nhen, trần thế quá ! Từ đó nạn “bè phái” bớt nhiều.
    (Cử hành Phụng vụ Chúa nhật, năm A, tr 175-177).

    Chúng ta hãy nhớ : ghen tị là một trong bảy mối tội đầu. Kẻ ghen tị là người không muốn ai hơn mình, mà nếu có ai hơn mình thì tỏ ra khó chịu, buồn sầu, tức bực và oán ghét với những thành công của người khác.

    Người ta ghen tị về đủ mọi mặt : của cải, tài ba, nhan sắc, thành công, nhân đức. Người ta ghen tị nhau vì không lượng đúng giá trị những gì mình có, không thỏa mãn với hiện trạng của mình, không nhận ra vị thế của mình, lúc nào cũng thấy núi khác cao hơn.

    Người ta ghen tị nhau vì kiêu ngạo, vì ích kỷ, không muốn ai thành công hơn mình, đạo đức hơn mình, phục vụ hơn mình. Càng liên hệ thân thiết với nhau người ta càng ghen tị nhau. Thường thường  những người ở trong một hoàn cảnh, cùng gia tộc, cùng một tình thân như bạn bè mới ghen tị nhau, chẳng hạn chị em ghen tị nhau, nhà giáo, nghệ sĩ, hàng thịt hàng cá… ghen tị nhau.

    Bài Tin mừng trong Thánh lễ hôm nay nhắc cho chúng ta hai điều :

    1. Chúng ta phải luôn luôn khiêm nhường nhìn nhận mình không có gì cả, lúc nào cũng phải nương nhờ vào ơn Chúa, vì tất cả những gì chúng ta đã có, đang có hay sẽ có đều là do Chúa ban. Chúa là Đấng tốt lành vô cùng. Ta hãy nói như thánh Phaolô :”Tất cả là hồng ân”. 
    1. Mỗi nguời hãy bằng lòng với hiện trạng của mình, bằng lòng với những gì mình đang có, đừng nhìn vào người khác mà phân bì ghen tị. Ghen tị làm mất tình yêu thương và gây nên những gương mù gương xấu.

    Lạy Chúa, xin cho chúng con biết sống tâm tình tạ ơn vì muôn ơn phúc  Chúa đã tặng ban cho chúng con suốt cả cuộc đời.

    “Xin giúp chúng con lánh xa lối suy nghĩ do lòng ghen tị, và biết cố gắng làm cho  trổ hoa kết trái  ân phúc Chúa đã ban cho mỗi người, để Chúa được vinh danh, anh em được an bình và hạnh phúc”.

    Ta hãy có tâm tình như Chúa Giêsu đã dạy trong Tin mừng :

                                 Khi hoàn tất việc phải làm
                                 Nâng lòng lên Chúa mà than thở rằng :
                                 Này con vô dụng muôn phần,
                                 Phần con, con đã thi hành mà thôi.
                                             (Mt 5,16)

     

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm, GP. Đà Lạt

                                                                      

    ………………………….

    Suy Niệm 4: Ganh tỵ nghiền nát tâm hồn

    Tại sao bạn lại ganh tỵ? Ganh tỵ là dấu hiệu của kẻ còn non dại chưa trưởng thành. Giống như một đứa trẻ kẻ ấy tin rằng, cái gì hàng xóm có, nó cũng phải có. Kẻ ấy chỉ cảm thấy hài lòng khi đứng ngang hàng với kẻ đối diện. Ai ganh tỵ, kẻ ấy là kẻ sống dựa dẫm lệ thuộc. Kẻ ấy luôn đưa mắt nhìn và so sánh với kẻ khác. Kẻ ấy hạnh phúc khi thấy mình đứng ngang tầm. Khi cảm thấy chênh lệch không cân xứng, mặt kẻ ấy mang vẻ ủ rũ giống như chiếc bánh bao chiều! Ganh tỵ là dấu hiệu của kẻ cảm thấy bất hạnh không thoả mãn với cuộc sống riêng tư của mình. Kẻ ấy chỉ để ý đến những gì người khác có và vô tình đánh mất những khả năng làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Ganh tỵ là một trọng tội! Kẻ ấy cảm thấy tủi thân hay bực tức khi thấy người khác tốt số hơn mình, sống vui vẻ hạnh phúc. Ai ước muốn điều xấu cho kẻ khác vì ganh tỵ, kẻ ấy đã phạm một tội trọng. Tại sao bạn ganh tỵ? Sự thật quá rõ ràng mà! Tôi cày như trâu suốt cả ngày, mặt mũi nhễ nhãi mồ hôi, nhưng chỉ bằng kẻ làm việc không quá một giờ! Thật là tức chết, thật bất công! Ai có quyền làm như thế chứ!

    Người chủ vườn nho lại nghĩ khác hẳn: Tôi có quyền. Ông đã thoả thuận với những người thợ vào làm việc tại vườn nho mỗi người một quan tiền. Vấn đề chủ chốt trong dụ ngôn liên quan tới một quan tiền. Nhưng Đức Giêsu muốn nhắm tới mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Trước mặt Thiên Chúa không có kẻ đến trước người sinh sau đẻ muộn, không có người lớn hay trẻ con, kẻ có địa vị hay người bần hàn. Trước mặt Thiên Chúa mọi người đều bình đẳng, đều có địa vị và nhân phẩm như nhau. Không có ai được đối xử ngoại lệ vì là con ông cháu cha hay ốm đau tật nguyền. Khi được tạo dựng Ngài cũng đã ban cho mỗi người tất cả những nhu cầu cần thiết để có thể sống như một con người, có thể phát triển khả năng thiên phú, có thể hài lòng về cuộc sống và nhất là khả năng biết ơn. Bởi vậy con người phải nhận thức rằng mình chẳng có thể dựa vào đâu hoặc bất kỳ lý do gì để sinh lòng ganh tỵ.

    Bạn đã từng ganh tỵ với ai chưa? Ganh tỵ vì những thứ người khác có còn bạn thì không? Cảm giác nảy sinh vì ganh tỵ đã ảnh hưởng thế nào trong cuộc sống của bạn? Cảm giác này mãi tồn tại thì tâm hồn bạn sẽ bị nghiền  nát  như  tương.

    Bạn sẽ trưởng thành hơn khi bạn khám phá ra mình cần những gì và yếu tố nào giúp bạn đạt được điều bạn mong ước mà không cần dùng người khác làm thước đo. Cuộc sống của mỗi người đều mang những nét cá biệt, có một không hai. Nhu cầu và thao thức của mỗi người cũng vậy. Cũng không có ai hoàn hảo. Hạnh phúc và sự hài lòng về cuộc sống không thể dựa vào việc bạn có thể sở hữu những thứ mà người khác đã đạt được. Quan trọng không phải là trở nên giống con người như lòng mong ước nhưng là trở nên giống con người mà Thiên Chúa đã đặt để khi tạo dựng nên bạn. Quan trọng không phải những gì bạn sở hữu mà là bạn thực sự là ai. Bạn sẽ sống bất công với chính bạn thân mình khi chỉ lo tìm kiếm những gì người khác có còn bạn thì không. Hạnh phúc và sự hài hoà trong cuộc sống đến từ nột tâm. Giữa những bon chen của cuộc sống bạn vẫn giữ lòng mình được thanh thản. Bạn là con người tự do khi không cần phải so sánh với kẻ khác. Du ngôn thợ làm vườn nho tường thuật về mối tương quan giữa Thiên Chúa và bạn thân bạn. Hãy tin tưởng rằng Thiên Chúa luôn ban cho bạn những gì bạn thực sự cần cho cuộc sống như lời cầu xin trong Kinh Lạy Cha. Bạn đã đón nhận nhưng không thì cho đi nhưng không. Sống như thế bạn sẽ trở nên người biết ơn và biết đáp đền.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com