Thêm
    Trang chủHọc Hỏi & Nghiên CứuGiáo LýMười Điều Răn – Điều răn I || Giáo lý dành cho...

    Mười Điều Răn – Điều răn I || Giáo lý dành cho người trưởng thành

    Tổng Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên

    TẢI VỀ FILE POWERPOINT

    Nội dung:

    1 – Mười điều răn và Luật Giao ước
    2 – Yêu mến Đức Chúa
    3 – Vì sao chúng ta yêu mến Chúa?
    4 – Làm thế nào để thể hiện yêu mến Chúa?
    5 – Thờ lạy một mình Chúa mà thôi

     

    1 – Mười điều răn

    – Bối cảnh: Kể từ khi ra khỏi Ai Cập, người Do Thái đã quy tụ thành một dân, và họ cần phải độc lập trong tổ chức điều hành và định hướng chiến lược. Đây là một cộng đoàn lớn. Sách Xuất Hành ghi: “khoảng sáu trăm ngàn đàn ông đi bộ, không kể phụ nữ và trẻ em” (12,37). Mười điều răn và Luật Giao ước là điều cần thiết để cuộc sống ổn định, để tiếp tục hành trình sa mạc về Đất Hứa.

    – Ba tháng sau khi đưa dân Do Thái ra khỏi Ai-cập, Thiên Chúa tỏ mình cho ông Môi-sen trên núi Si-nai, được gọi là “Núi của Thiên Chúa”. Sự kiện ra khỏi Ai Cập được xác định khoảng từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIII trước Công nguyên.

    – Trên núi Si-nai, Chúa ban Mười Điều Răn (hoặc mười giới luật, còn gọi là Thập điều) cho dân Do Thái. Theo sách Xuất Hành, chính bàn tay Chúa khắc ghi trên hai bia đá Mười Điều Răn (Xh 30,18). Cùng với Mười điều răn, Thiên Chúa ký kết với dân tộc Do Thái Luật Giao ước. Nội dung Luật này quy định những chi tiết liên quan đến việc thờ phượng Chúa, những quy định về ngày Sa-bát, bàn thờ và lễ phục các tư tế, cùng với những khoản luật luân lý mà con người phải giữ. Đây không chỉ là những quy định đơn phương đến từ Thiên Chúa, mà là sự thỏa thuận giữa Thiên Chúa với Dân của Người. Ông Môi-sen nói những quy định của Thiên Chúa, và toàn dân đáp lại: “Mọi lời Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành” (Xh 24,3).

    – Mười điều răn được ghi lại ba lần trong Cựu ước:

    +) Xuất Hành 20,1 – 17: Bản Đạo Đức. Đây là bản quen thuộc nhất, thường được xem là “Mười Điều Răn kinh điển”. Nội dung nhấn mạnh các nguyên tắc đạo đức và thờ phượng.

    +) Đệ Nhị Luật 5,6 – 21: Bản Lặp Lại. Mô-sê nhắc lại Mười Điều Răn cho thế hệ mới của dân Israel trước khi vào Đất Hứa. Nội dung gần giống Xuất Hành 20 nhưng có vài khác biệt nhỏ về cách diễn đạt.

    +) Xuất Hành 34,11 – 26: Bản Nghi Lễ. Đây là bản ít được biết đến hơn. Sau khi Môi-sen đập vỡ hai bia đá đầu tiên, Thiên Chúa truyền lại một loạt điều răn mang tính nghi lễ, liên quan đến thờ phượng, lễ hội, và luật thanh sạch.

    – Nội dung của Mười Điều Răn: Kinh “Mười điều răn” mà Ki-tô vẫn đọc, nhất là vào ngày Chúa nhật, là tóm lược Mười Điều Răn của Chúa. Trên đây đã nói, Mười Điều Răn được kể lại ba lần trong Sách Xuất Hành và sách Đệ Nhị Luật. Vì vậy, có một vài chi tiết khác nhau. Kinh “Mười điều răn” chúng ta vẫn đọc là nội dung được diễn tả trong sách Xuất Hành 20,1-17. Nội dung kinh này có ba điều hướng về Thiên Chúa và bảy điều liên quan đến tha nhân đồng loại. Dưới đây là tóm lược Mười điều răn:

    Điều răn 1 – Kính mến và thờ phượng Đức Chúa Trời trên hết mọi sự.

    Điều răn 2 – Tôn trọng Danh Thánh Chúa, không được lạm dụng hoặc coi thường

    Điều răn 3 – Giữ ngày Sa-bát (ngày thứ Bảy của Do Thái giáo; ngày Chúa nhật của Ki-tô giáo)

    Điều răn 4 – Thảo kính cha mẹ

    Điều răn 5 – Không được giết người

    Điều răn 6 – Không được có những hành động dâm ô

    Điều răn 7 – Không được trộm cắp của người khác

    Điều răn 8 – Không được nói dối hay làm chứng dối

    Điều răn 9 – Không được cướp vợ hay chồng người khác

    Điều răn 10 – Không được tham lam của người khác

     

    2 – Yêu mến Đức Chúa

    – Điều răn thứ nhất chúng ta vẫn quen đọc: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”. Lưu ý có hai nội dung là “Thờ phượng” và “Kính mến”. Như đã nói trên đây là phiên bản thu gọn của Xh 20,2-6. Nội dung của những câu Kinh Thánh này là lời của Thiên Chúa nói về việc Ngài đã giải phóng dân Do Thái khỏi Ai-cập. Vì vậy, người Do Thái không được có thần nào khác đối nghịch với Thiên Chúa. Thiên Chúa cũng cấm không được tạc tượng, vẽ hình bất kỳ vật nào để mà thờ. Ngài cũng hứa chúc phúc cho những ai tôn thờ Chúa, cho bản thân họ và những thế hệ mai sau.

    – “Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em” (Đnl 5,4-5). Đây là kiểu nói nhấn mạnh có nghĩa là yêu thực sự, yêu chân thành và cố gắng hết sức để tình yêu đó được trọn vẹn. Cụm này xuất hiện trong lời dạy của Đức Giêsu về điều răn lớn nhất (Mc 12,30; Mt 22,37; Lc 10,27). Phân tích ý nghĩa:

    +) Hết lòng: trong tư duy Do Thái, “lòng” không chỉ là cảm xúc mà là trung tâm của ý chí, quyết định và đạo đức. Yêu Chúa “hết lòng” nghĩa là để Ngài hướng dẫn mọi chọn lựa và ưu tiên của đời sống.

    +) Hết linh hồn: “linh hồn” (nephesh) chỉ toàn bộ sự sống và bản ngã. Yêu Chúa “hết linh hồn” nghĩa là yêu bằng chính sự sống, bằng những khát vọng sâu xa nhất của con người.

    +) Hết trí khôn: trong Tân Ước, từ Hy Lạp “dianoia” nghĩa là tâm trí, sự hiểu biết, khả năng suy nghĩ. Điều này nhấn mạnh rằng yêu Chúa không chỉ là cảm xúc hay ý chí, mà còn là sự dấn thân của trí tuệ, dùng khả năng hiểu biết để tìm kiếm, suy niệm và sống theo chân lý.

    +) Hết sức: nói đến toàn bộ năng lực, hành động, sức mạnh thể lý và tinh thần. Tình yêu dành cho Thiên Chúa phải thể hiện bằng việc làm, bằng sự kiên trì và nỗ lực trong đời sống.

     

    3 – Vì sao chúng ta yêu mến Chúa?

    Như trên đã nói, yêu mến không phải một lệnh truyền, cũng không phải là điều buộc. Điều răn yêu mến ở đây là lời mời gọi. Chúng ta yêu mến Chúa không phải vì một nghĩa vụ trừu tượng, mà vì một loạt lý do rất sâu xa liên quan đến căn tính, kinh nghiệm sống, và tương quan giữa con người với Đấng Tạo Hóa.

    Chúng ta yêu mến Chúa vì những lý do sau:

    a) “Chúng ta yêu mến, vì Người đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4,19). Tình yêu của Chúa thể hiện qua việc tạo dựng, chăm sóc, tha thứ, và đặc biệt là qua Đức Giêsu hiến mình vì nhân loại.

    b) Vì yêu Chúa là nguồn sống và hạnh phúc thật. Trong Kinh Thánh, yêu Chúa không phải là cảm xúc mơ hồ, mà là con đường dẫn đến sự sống“Hãy yêu mến Đức Chúa… để được sống” (Đnl 30,19–20). Yêu mến Chúa giúp con người tìm được ý nghĩa, định hướng, và bình an nội tâm. Nhiều người kinh nghiệm rằng khi đặt Chúa ở trung tâm, cuộc sống trở nên sáng rõ và tự do hơn.

    c) Vì Chúa là nguồn Chân – Thiện – Mỹ. Con người tự nhiên khao khát điều tốt, điều đẹp, điều thật. Thiên Chúa được hiểu là nguồn của mọi điều thiện hảo. Yêu Chúa nghĩa là hướng lòng về điều tốt nhất, đẹp nhất, và thật nhất. Lý do này mang tính triết học: tình yêu hướng về điều thiện tối hậu.

    d) Vì yêu Chúa giúp ta yêu người khác đúng cách. Kinh Thánh luôn gắn hai điều răn: “Ngươi phải yêu mến Chúa…và yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37–39). Yêu Chúa không tách khỏi đời sống xã hội; nó chữa lành, mở lòng, và giúp ta yêu người khác cách trưởng thành, không chiếm hữu, không ích kỷ. Dù bạn chưa hoàn hảo, nhưng tôi vẫn yêu bạn, bởi vì tôi yêu Chúa.

    e) Vì yêu Chúa biến đổi con người.Tình yêu này không chỉ là cảm xúc, mà là sức mạnh biến đổi: giúp ta tha thứ; vượt qua ích kỷ; sống quảng đại; và trở nên giống Chúa hơn trong lòng nhân ái. Nhiều nhân chứng trong lịch sử cho thấy tình yêu Chúa có thể thay đổi cả một cuộc đời.

     

    4 – Làm thế nào để thể hiện yêu mến Chúa?

    Yêu mến Chúa cách cụ thể là sống Đức tin, Đức cậy và Đức mến. Trong những bài Giáo lý trước, chúng ta đã học về ba nhân đức đối thần.

    1) Đức tin: Theo thánh Phao-lô, sự chối bỏ Thiên Chúa (không tin vào Ngài) là nguyên nhân cho mọi lệch lạc về luân lý (x. Rm 1,5). Bổn phận của chúng ta là tin vào Ngài và làm chứng về Ngài. Sách GLHTCG viết: “Điều răn thứ nhất đòi hỏi chúng ta một cách khôn ngoan và tỉnh thức, phải nuôi dưỡng và giữ gìn đức tin của chúng ta, và phải loại bỏ tất cả những gì nghịch với đức tin” (số 2088).

    Những tội nghịch với đức tin:

    – Nghi ngờ: Sự nghi ngờ nếu được cổ võ cách có chủ ý, có thể dẫn tời sự mù quáng của tâm trí.

    – Lạc giáo: là ngoan cố chối bỏ một chân lý phải tin với đức tin đối thần và công giáo, hoặc ngoan cố hồ nghi về chân lý ấy sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa tội.

    – Bội giáo: là chối bỏ toàn bộ đức tin Ki-tô giáo.

    – Ly giáo: là từ chối vâng phục Đức Giáo hoàng hoặc từ chối hiệp thông với các chi thể của Hội Thánh thuộc quyền Ngài (GL 751).

    2) Đức Cậy: “Đức Cậy là sự mong đợi đầy tin tưởng sự chúc lành của Thiên Chúa và sự vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa; đức cậy cũng là việc sợ xúc phạm đến tình yêu của Thiên Chúa và sợ bị trừng phạt” Sách GLHTCG, số 2090).

    Những tội nghịch với Đức cậy:

    – Ngã lòng: con người mất niềm hy vọng nơi Thiên Chúa, không còn tin vào sự trợ giúp của Ngài.

    – Tự phụ: quá tự tin vào khả năng của mình mà không cần đến Thiên Chúa, hoặc ỷ lại vào sự toàn năng và lòng thương xót của Ngài mà không cần hối cải.

    3) Đức mến: Điểu răn thứ nhất dạy chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và vì yêu mến Chúa, chúng ta cũng yêu mến các loài thụ tạo. Bởi lẽ các loài thụ tạo là công trình Chúa tác tạo và phản ánh vinh quang của Ngài.

    Những tội nghịch với đức mến:

    – Lãnh đạm thờ ơ, không công nhận tình yêu của Thiên Chúa và phủ nhận sức mạnh của tình yêu đó.

    – Sự vô ơn, quên lãng hay từ chối nhận biết tình yêu của Thiên Chúa.

    – Sự thù ghét Thiên Chúa do kiêu ngạo, chống lại tình yêu của Ngài và có những lời báng bổ xúc phạm đến Ngài (Sách GLTHCG, số 2094).

     

    5 – Thờ lạy một mình Chúa mà thôi

    – Như đã nói ở trên, Điều răn thứ nhất có hai nội dung chính: Yêu mến Chúa hết lòng và chỉ thờ phượng Ngài mà thôi. Thiên Chúa là Đấng độc tôn, tức chỉ có Ngài đáng tôn thờ. Ki-tô giáo là tôn giáo độc thần, nghĩa là chỉ thờ một mình Thiên Chúa. Đây là điểm chung giữa Do Thái giáo, Hồi giáo và Ki-tô giáo. Cả ba tôn giáo lớn này đều thờ một Thiên Chúa duy nhất, là Thiên Chúa của A-bra-ham, I-sa-ác và Gia-cóp. Cả ba tôn giáo này đều tin Thiên Chúa là Đấng Sáng tạo, yêu thương con người và là Đấng đã can thiệp trong lịch sử nhân loại.

    – Nhân đức thờ phượng là một trong hai nội dung của Điều răn thứ nhất. Nhân đức thờ phượng là thái độ nội tâm và đời sống hướng về Thiên Chúa, nhìn nhận Ngài là Đấng Tạo Hóa, là Cha, là nguồn sự sống và cùng đích của con người. Đây là nhân đức giúp người tín hữu sống đúng tương quan với Thiên Chúa: nhận biết, yêu mến và tôn thờ Ngài bằng cả đời sống. Nhân đức thờ phượng bao gồm những hành vi sau đây:

    – Thờ lạy là hành vi đầu tiên của nhân đức thờ phượng. Thờ lạy Thiên Chúa tức là nhận biết Ngài là Đấng Tạo Hóa và Cứu độ. Chúa Giê-su đã nói: “Ngươi chỉ bái lạy Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, và thờ phượng một mình Ngài mà thôi” (Lc 4,8).

    – Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên tới Thiên Chúa, là cách diễn tả việc chúng ta thờ lạy Ngài. Lời cầu nguyện bao gồm: Ca ngợi, tạ ơn, sám hối và cầu xin. Chúa Giê-su đã dạy: “Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí” (Lc 18,1).

    – Hy lễ là dấu chỉ của việc thờ lạy và tạ ơn, khẩn cầu và hiệp thông. Hy lễ bắt nguồn từ Cựu ước, gồm chiên bò và các loài vật bị sát tế. Hy lễ của Tân ước là chính Chúa Giê-su. Người đã dâng mình trên thập giá để xóa bỏ tội trần gian. Ki-tô hữu có thể dâng hy lễ của bản thân là những hy sinh, chia sẻ vật chất tinh thần. Tác giả Thánh vịnh đã viết: “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát…” (Tv 50.19). Điều này có nghĩa là tâm tình sám hối phục thiện.

    – Đức thờ phượng Ki-tô giáo cũng bao gồm những lời hứa và lời khấn.

    +) Lời hứa: những lời hứa được thực hiện trong các bí tích như Rửa tội, Thêm sức, Hôn phối và Truyền chức thánh (Sách GLTHCG số 2101).

    +) Lời khấn: là lời hứa có suy nghĩ và tự do, để cam kết với Thiên Chúa về một điều kiện khả thi và tốt hơn. Lời khấn thuộc nhân đức thờ phượng và là một hành vi đạo đức. Chúng ta thường thấy các tu sĩ tuyên khấn, có thể là khấn tạm, tức là một thời gian ấn định, có thể là khấn trọng (hay khấn trọn, vĩnh khấn) tức là suốt đời.

    – Vì Thiên Chúa là Đấng độc tôn, nên việc thờ ngẫu tượng hoặc bất kỳ biểu tượng nào đều đi ngược lại với đức tin. Chúng ta sẽ có một bài giáo lý khác nói về việc tôn kính Đức Trinh nữ Ma-ri-a và các thánh.

     

    Kết luận

    – Mười điểu răn là giới luật Thiên Chúa ban cho dân Do Thái qua trung gian ông Môi-sen, trên nủi Si-na-i, ba tháng sau khi ra khỏi Ai Cập.

    – Nội dung của Điều răn thứ nhất là yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn, và thờ phượng Ngài.

    – Yêu mến Chúa không phải là lệnh truyền, nhưng là lời mời gọi và một đề nghị. Chúng ta yêu mến Chúa vì Ngài dựng nên chúng ta; Ngài là Đấng tốt lành yêu thương chúng ta. Yêu mến Chúa cũng giúp chúng ta biến đổi con người nên tốt hơn, và vì yêu mến Chúa nên chúng ta cũng yêu mến anh chị em mình.

    – Yêu mến Chúa cụ thể là thực hành đức tin, đức cậy và đức mến. Trên đây cũng nêu rõ những tội nghịch với ba nhân đức đối thần này.

    – Thiên Chúa là Đấng độc tôn. Ki-tô giáo chỉ thờ một mình Ngài. Thờ ngẫu tượng là đi ngược lại với Giáo lý Ki-tô giáo.

    Nguồn: tonggiaophanhanoi.org/

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com