BÀI ĐỌC I: Cv 2, 1-11
Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, tất cả các môn đệ đều tề tựu một nơi, bỗng từ trời phát ra tiếng động như tiếng gió mạnh thổi đến, lùa vào đầy nhà nơi họ đang sum họp. Lại có những lưỡi như thể bằng lửa xuất hiện và rải rác đậu trên từng người. Hết thảy mọi người đều được tràn đầy Chúa Thánh Thần, và bắt đầu nói tiếng khác nhau tuỳ theo Thánh Thần ban cho họ nói.
Khi ấy, cư ngụ tại Giêrusalem, có những người Do-thái đạo đức từ khắp các nước dưới gầm trời tụ về. Nghe tiếng ấy phát ra thì đoàn lũ tuôn đến, tâm trí bỡ ngỡ, vì mỗi người đều nghe các môn đệ nói tiếng thổ âm của mình. Mọi người đều sửng sốt và bỡ ngỡ nói rằng: “Nào tất cả những người đang nói đây không phải là người Galilê ư? Nhưng tại sao mỗi người chúng tôi lại nghe họ nói tiếng bản xứ của chúng tôi: Chúng tôi là người Parthi, Mêđi, Êlam, Mêsopotamia, Giuđêa, Cappađôcia, Pôntô, Tiểu Á, Phrygia, Pamphylia, Ai-cập, Lybia, cận Cyrênê, và người Rôma cư ngụ ở đây, là Do-thái và tòng giáo, là người Crêta và Á-rập, chúng tôi đều nghe họ nói tiếng của chúng tôi mà ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa!” [Mọi người đều sửng sốt bỡ ngỡ nói với nhau rằng: “Thế này nghĩa là gì?” Nhưng lại có người khác nhạo báng rằng: “Họ đầy rượu rồi”.]
BÀI ĐỌC II: 1 Cr 12, 3b-7. 12-13
Anh em thân mến, không ai có thể nói “Đức Giêsu là Chúa” mà lại không do Thánh Thần. Vậy có nhiều thứ ân sủng, nhưng chỉ có một Thánh Thần. Có nhiều thứ chức vụ, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều thứ công việc, nhưng chỉ có một Thiên Chúa, là Đấng làm mọi sự trong mọi người. Sự xuất hiện của Thánh Thần được ban cho từng người, tuỳ theo lợi ích. Cũng như chỉ có một thân thể nhưng có nhiều chi thể, mà các chi thể tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể, thì Chúa Kitô cũng vậy. Vì chưng trong một Thánh Thần, tất cả chúng ta được thanh tẩy để làm nên một thân thể, cho dù là Do-thái hay dân ngoại, nô lệ hay tự do: tất cả chúng ta đã uống trong một Thánh Thần.
PHÚC ÂM: Ga 20, 19-23
Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, những cửa nhà các môn đệ họp đều đóng kín, vì sợ người Do-thái, Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói rằng: “Bình an cho các con!” Khi nói điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Bấy giờ các môn đệ vui mừng vì xem thấy Chúa. Chúa Giêsu lại phán bảo các ông rằng: “Bình an cho các con! Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”. Nói thế rồi, Người thổi hơi và phán bảo các ông: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha. Các con cầm tội ai, thì tội người ấy bị cầm lại”.
Suy Niệm 1: THÁNH THẦN ĐỔI MỚI MẶT ĐẤT NÀY
Nhưng trước khi trở thành dụng cụ cho phép Chúa Thánh Thần biến đổi thế giới này, chúng ta phải cho phép Chúa Thánh Thần biến đổi chính chúng ta!
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
……………….
Suy Niệm 2: LỚN LÊN TRONG ƠN THÁNH THẦN
Chúng ta thường nghe nói hoặc hát rằng: Chúa Thánh Thần là Đấng canh tân và đổi mới mặt đất. Còn trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng Ngài là Đấng Ban Sự Sống. Vai trò của Chúa Thánh Thần thường gắn liền với sự sống và sự đổi mới. Nói cách cụ thể hơn, nơi nào có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần thì sẽ có sự sống và sự đổi mới. Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội mừng kính trọng thể Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, chúng ta hãy để lời Chúa hướng dẫn chúng ta, giúp chúng ta hiểu về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc đời của Giáo Hội, của giáo xứ, của hội đoàn và của mỗi người chúng ta.
Bài đọc 1 hôm nay thuật lại sự kiện xảy ra trong Ngày Lễ Ngũ Tuần. Sự kiện mà qua đó các môn đệ được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2:1-4). Những lời này chỉ cho chúng ta thấy món quà được trao ban là “nói các thứ tiếng khác tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho” (x. Cv 2:7-11). Điều đáng để chúng ta lưu ý và suy gẫm ở đây là việc các Tông Đồ dùng tiếng nói của người bản xứ để rao giảng Tin Mừng. Kinh nghiệm này đảo ngược kinh nghiệm của nhân loại trong sự kiện tháp Baben, khi mà ngôn ngữ của nhân loại bị xáo trộn để rồi không còn ai hiểu ai. Trong kinh nghiệm của tháp Baben, điều làm cho ngôn ngữ bị xáo trộn, không hiểu nhau giữa con người là thái độ “kiêu ngạo muốn xây tháp chạm đến trời,” thái độ muốn cho mình ngang hàng với Thiên Chúa. Còn trong kinh nghiệm của Ngày Lễ Ngũ Tuần, mọi người được Thánh Thần liên kết vì họ “tề tựu một nơi.” Chi tiết này nói lên sự hiệp nhất, một lòng một ý của các môn đệ. Khi họ một lòng một ý, thì họ có thể hiểu được ngôn ngữ của nhau. Thật vậy, ở đâu có kiêu ngạo, ở đó sẽ có hiểu lầm và chia rẽ; còn ở đâu có hiệp nhất thì sẽ có cảm thông, yêu thương và tha thứ. Và đó chính là dấu hiệu sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.
Về phần mình, Thánh Phaolô nhắc cho các tín hữu Côrintô biết rằng, Chúa Thánh Thần là nguồn mạch của tất cả mọi sự “Thưa anh em, không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa,’ nếu người ấy không ở trong Thần Khí. Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12:3b-7). Chúa Thánh Thần là nguồn mạch của sự hiệp nhất về đức tin và các đặc sủng. Ngài hiệp nhất mọi người nên một để tuyên xưng một Chúa và đồng thời sử dụng những món quà được trao ban cho lợi ích chung. Thánh Phaolô sử dụng hình ảnh loại suy là thân thể con người để nói đến sự hiệp nhất trong Thánh Thần: “Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12:12-13). Như chúng ta thấy trong bài đọc 1, trong Thánh Thần, chúng ta thấy không có sự phân biệt và chia rẽ. Điều này được Thánh Phaolô trình bày cách cụ thể qua hình ảnh thân thể con người. Trong một thân thể, các bộ phận có những nhiệm vụ khác nhau, nhưng mỗi bộ phận làm việc trong sự tương quan với các bộ phận khác hầu mang ích lợi cho toàn thân thể. Hình ảnh này mời gọi chúng ta xét lại tương quan của chúng ta với anh chị em mình. Chúng ta được Thánh Thần liên kết trong cùng Thần Thể Đức Kitô. Giữa chúng ta không còn sự phân biệt và chia rẽ. Mỗi người chúng ta có vai trò khác nhau, nhưng không tách rời nhau. Tất cả chúng ta làm việc vì lợi ích của Thân Thể Ngài. Vì là cùng một thân thể và thực hiện những chức năng khác nhau, nên chúng ta hay so sánh và muốn thay thế vị trí của người khác trong Thân Thể Đức Kitô. Khi làm như thế chúng ta đã đánh mất căn tính của mình và gây sự xáo trộn trong Thân Thể Đức Kitô. Hãy khiêm nhường để Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta chu toàn chức năng của mình trong Thân Thể Đức Kitô và nối kết chúng ta lại làm việc chung hầu mang lợi ích chung cho toàn Thân Thể Ngài.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan thuật lại cho chúng ta việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ sau khi Ngài chỗi dậy từ cõi chết. Trong trình thuật này, Thánh Gioan đã sử dụng câu chuyện truyền thống kể về Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ ở Giêrusalem với mục đích chỉ cho đọc giả biết rằng những lời hứa về việc Chúa Giêsu trở lại sẽ được hoàn thành vào “giờ” Ngài được tôn vinh (x. Lc 24:36-43;47-48). Trình thuật bắt đầu với sự sợ hãi của các môn đệ: “Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái” (Ga 20:19). Theo các học giả Kinh Thánh, câu này được thánh sử thêm vào trong phần giới thiệu của câu chuyện. Trước sự sợ hãi và “đóng kín cửa” của các môn đệ, “Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: ‘Bình an cho anh em!’” (Ga 20:19). Những lời chúc bình an đến từ truyền thống Kinh Thánh (x. Lc 24:36). Món quà phục sinh đầu tiên là món quà bình an cho những môn đệ đang sợ hãi, những môn đệ đã chối và bỏ Chúa Giêsu. Trong lời chúc bình an của Chúa Giêsu, các môn đệ cảm nghiệm được “tình yêu đến cùng” của Chúa Giêsu dành cho những ai thuộc về Ngài (x. Ga 13:1). Tình yêu này chan chứa sự bao dung và tha thứ. Đây chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu sai các môn đệ đi rao giảng cho đến tận cùng trái đất: Sứ điệp tình yêu nhập thể, một tình yêu tha thứ. Chúng ta thấy điều này trong lời sai đi của Chúa Giêsu trong câu cuối của bài Tin Mừng hôm nay. Là những người đã sống trong sợ hãi hoặc đang sống trong sợ hãi của những lỗi phạm, chúng ta cũng được Chúa Giêsu ban cho món quà bình an, món quà mà qua đó Ngài muốn chúng ta cảm nghiệm tình yêu, sự bao dung và tha thứ của Ngài. Hãy để bình an của Chúa Giêsu chiếm ngự tâm hồn chúng ta.
Chi tiết thứ hai chúng ta suy gẫm là việc Chúa Giêsu cho các môn đệ nhìn thấy đầu tiên sau khi Ngài sống lại không phải là vinh quang hay danh vọng, mà “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:20). Khi cho các ông xem tay và cạnh sườn [vết thương], Chúa Giêsu cho họ biết rằng Đấng phục sinh cũng là chính Đấng bị đóng đinh. Chi tiết này cũng là một phần của truyền thống Kinh Thánh (x. Lc 24:39). Trong bối cảnh của trình thuật trong Tin Mừng Thánh Gioan, sự chứng minh này cũng trả lời cho câu hỏi: “Họ đã đặt Ngài ở đâu?” “Họ” (= người Do Thái) không đặt xác Chúa Giêsu ở bất kỳ nơi nào. Xác Chúa Giêsu đã được đưa vào vinh quang thiên quốc của Đức Giêsu được tôn vinh. Niềm vui của các môn đệ hoàn thành những lời hứa của niềm vui được canh tân (x. 14:19; 16:16-24). Chúa Giêsu đã biến những vết thương thành dấu chứng tình yêu, dấu chứng của sự toàn thắng của tình yêu trên sự dữ. Ngài mời gọi chúng ta cũng biến những vết thương mà người khác tạo ra cho chúng ta thành dấu chứng tình yêu và tha thứ. Khi làm được như thế, chúng ta sẽ hiểu được mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu: qua thập giá, đến vinh quang.
Khi các môn đệ đã nhận ra Đấng phục sinh cũng là Đấng chịu đóng đinh, sứ vụ của họ là làm chứng cho Ngài. Chúa Giêsu đã sai họ đi như Chúa Cha đã sai Ngài: “Người lại nói với các ông: ‘Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em’” (Ga 20:21). Sự bình an ở đây cũng là một món quà được hứa ban. Việc sai các môn đệ đi rao giảng xuất hiện trong những câu chuyện khác về sự hiện ra sau khi sống lại của Chúa Giêsu (x. Lc 24:47-48; Mt 28:19-20a). Trong trình thuật này, việc sai đi mang hình thức riêng biệt của Thánh Gioan, đó là các môn đệ bây giờ đại diện Chúa Giêsu trong thế gian (x. Ga 13:16,20; 17:18). Việc sai các môn đệ đi rao giảng được thực hiện theo kiểu mẩu của Chúa Cha sai Chúa Con. Chúa Cha sai Chúa Con đến trong thế gian để mạc khải tình yêu vô điều kiện của Ngài. Cũng vậy, các môn đệ được sai vào trong thế gian để mạc khải tình yêu vô điều kiện đó qua đời sống yêu thương và tha thứ, qua việc sống mầu nhiệm vượt qua trong từng ngày sống của mình.
Để hoàn thành sứ vụ được trao phó, Chúa Giêsu trao cho các môn đệ Thần Khí ban sự sống: “Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ’” (Ga 20:22-23). Theo các học giả Kinh Thánh, những lời này đến từ nguồn riêng biệt của thánh sử, bởi vì ngôn từ không được sử dụng trong những phần khác của Tin Mừng. Ở trong Tin Mừng, Thánh Thần được xem như là một diễn tả của việc Thiên Chúa cư ngụ giữa loài người hoặc trong lòng con người (x. Ga 14:17) và xuất phát từ Đức Giêsu, Đấng được tôn vinh như là suối nguồn của sự sống đời đời (x. Ga 7:39). Thánh Luca (24:47-49) nối kết việc sai đi của các môn đệ như những chứng nhân với việc rao giảng sự tha thứ, và Thánh Thần, Đấng sẽ được ban vào ngày Lễ Ngũ Tuần [được trình bày trong bài đọc 1]. Tác giả thư Thứ Nhất của Thánh Gioan chỉ cho chúng ta thấy rằng truyền thống của Thánh Gioan có nói đến sự tha thứ tội, nhưng Tin Mừng chỉ nói đến tội “không tin” (x. Ga 8:24; 9:41). Những lời trên tương đồng với công thức kép nói về tha tội và cầm giữ trong Tin Mừng Thánh Mátthêu (18:18; 16:19). Bởi vì Thánh Gioan chỉ sử dụng thuật ngữ diễn tả chung “các môn đệ,” việc sai đi trong những câu này có thể dự định áp dụng cho toàn bộ cộng đoàn những người tin, chứ không giới hạn trong một nhóm cụ thể bên trong cộng đoàn như “Nhóm Mười Hai.” “Quyền” tha tội này có thể được diễn tả trong việc trao ban Thánh Thần cho những ai tin. Họ là hoa trái sứ mệnh của các môn đệ và là những người tham gia cộng đoàn hơn là trong tiến trình đối xử với những Kitô hữu phạm tội (như trong Tin Mừng Thánh Mátthêu [18:19]). Mỗi người chúng ta được mời gọi thực hiện “quyền tha thứ.” Hãy tha thứ để được thứ tha. Chúng ta thường nghe nói rằng: “Tha thứ không phải để cho người khác, mà để cho mình tìm lại được bình an mà lỗi phạm của người khác đã cướp mất.” Tại sao chúng ta lại để lỗi phạm của người khác cướp lấy sự bình an của mình?
Lm. Anthony, SDB.
………………………….
Suy Niệm 3: THÁNH THẦN ĐƯỢC BAN CHO GIÁO HỘI
A. DẪN NHẬP
Sau khi Chúa Giêsu đi vào cuộc tử nạn, các Tông đồ trở nên hoang mang, sợ sệt, đang tụ họp trong nhà Tiệc ly, chưa biết phải xử sự làm sao, thì chiều ngày phục sinh, Chúa Giêsu phục sinh đã hiện ra với các ông, trấn an và thổi hơi trao ban Thánh Thần cho các ông :”Anh em hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần”. Và 50 ngày sau nữa, vào sáng ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống một cách công khai để ban cho các ông những đặc sủng của Ngài để các ông mạnh dạn đi loan báo Tin mừng và xây dựng Giáo hội.
Thực ra, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các Tông đồ ngay khi Ngài hiện ra lần thứ nhất tại nhà Tiệc ly vào buổi chiều hôm Phục sinh. Sau khi chào các ông, Đức Giêsu đã ban Thánh Thần cho các ông khi Ngài thở hơi và nói :”Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần. Các con tha tội ai, thì người ấy được tha, các con cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ””(Ga 20,22-23). Còn ngày lễ Ngũ tuần chỉ là dịp Đức Giêsu ban Thánh Thần cho các ông một cách đặc biệt, với đặc sủng ngôn ngữ, đồng thời cũng là dịp giới thiệu Giáo hội cho muôn dân và chính thức sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng cứu độ cho mọi người.
Lịch sử cứu rỗi còn tiếp tục qua lịch sử nhân lọai và ngày hôm nay lại khai mở một giai đọan mới khi Thánh Thần hiện xuống cách huy hòang vĩ đại trên một nhóm người và biến cải họ nên cột trụ một tập đòan mới là Hội thánh. Hôm nay trong nhà Tiệc ly chỉ có 120 người, nhưng rồi đây sẽ lan tràn khắp thế giới, trở thành Giáo hội hòan vũ. Ngày nay Chúa Thánh Thần vẫn còn được ban xuống cho chúng ta, đặc biệt với đặc sủng ngôn ngữ, để chúng ta biết cao rao những kỳ công của Chúa, giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người và góp phần xây dựng Hội thánh của Chúa ở trần gian này.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Cv 2,1-11.
Bài sách Công vụ tông đồ hôm nay tường thuật việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ trong nhà Tiệc ly ngày lễ Ngũ tuần.
Theo lời căn dặn của Đức Kitô phục sinh, các Tông đồ tập họp lại trong nhà Tiệc ly để đón nhận Chúa Thánh Thần. Đây chính là Đấng Bảo trợ mà Chúa Giêsu đã báo trước cho các môn đệ trước khi đi vào cuộc tử nạn. Hôm nay ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Giêsu chính thức gửi Chúa Thánh Thần cho các Tông đồ để Ngài cư ngụ và hoạt động nơi các ông bằng sức mạnh của Ngài, thôi thúc họ và ban cho họ những đặc sủng, nhất là đặc sủng ngôn ngữ.
Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các Tông đồ bằng hình lưỡi lửa cho mỗi người. Lưỡi tượng trưng cho lời nói, Lửa tượng trưng cho tình yêu và lòng nhiệt thành. Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần mà các Tông đồ sẽ đi rao giảng Tin mừng và làm chứng cho Ngài khắp mọi nơi.
+ Bài đọc 2 : 1Cr 20,19-23.
Chúa Thánh Thần được ban cho các Tông đồ và Giáo hội đặc biệt trong ngày lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần là hồn sống của Giáo hội, Ngài luôn hoạt động trong Giáo hội cách tích cực. Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Corintô hãy hiệp nhất trong Thánh Thần. Trong Giáo hội sơ khai, Chúa Thánh Thần ban nhiều đặc sủng khác nhau cho các tín hữu, những đặc sủng ấy nhằm ích lợi cho mọi người. Vì thế, các tín hữu phái tránh chia rẽ, đừng làm gì khả dĩ gây phương hại cho sự đoàn kết ; trái lại, phải dùng các ơn ấy để xây dựng thân thể Chúa Kitô là Giáo hội.
+ Bài Tin mừng : Ga 20,19-23.
Trong các sách Tin mừng, không chỗ nào nói tới việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông đồ, chỉ trừ sách Công vụ tông đồ (Cv 2,1-11). Tuy nhiên, Hội thánh muốn lấy lại bài Tin mừng Chúa nhật II Phục sinh để cho biết : ngay buổi chiều hôm lễ Phục sinh, Chúa Giêsu đã hiện ra với các Tông đồ trong nhà Tiệc ly và đã ban Chúa Thánh Thần cho các ông :”Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. Như thế, trước khi ủy thác sứ vụ cho các môn đệ, Chúa Giêsu phục sinh đã thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông, và nhờ đó, các môn đệ giờ đây thực thi sứ mạng trong ân sủng và quyền năng của Chúa Thánh Thần.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Đặc sủng ngôn ngữ
I. CHÚA THÁNH THẦN ĐƯỢC BAN XUỐNG
Trong lễ Hiện xuống hôm nay, Giáo hội đọc bài Tin mừng kể việc Đức Giêsu hiện ra lần thứ nhất với tập thể tông đồ chính ngày Phục sinh.
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu đã hiện ra với một số phụ nữ (Mt 28,9) trong đó có bà Maria Magdala (Ga 20,11t), bà Gioanna và bà Maria mẹ Giacôbê (Lc 24,9t). Buổi chiều Ngài đã hiện ra với hai môn đệ đi đến làng Emmau (Lc 14,13t) và cũng chiều đó, Ngài lại hiện đến với các Tông đồ, có thể có một số môn đệ ở cùng các ông.
Có lẽ Đức Giêsu hiện ra với các ông về đêm khuya. Đang lúc hai môn đệ đi làng Emmau về kể cho các ông nghe việc Chúa hiện ra với mình, thì Đức Giêsu hiện ra. Đường đi từ Giêrusalem đến Emmau hơi xa, đi về phải muộn mới tới nơi.
Các cửa phòng đều đóng kín, Đức Giêsu đột ngột hiện ra đứng giữa các ông và nói :”Bình an cho các con”. Đây là lời chào bình thường của người Do thái mỗi khi gặp nhau. Trong bối cảnh của các Tông đồ khi đó, lời chúc của Đức Kitô chắc chắn đã có ý nghĩa đặc biệt cụ thể chứ không thể như ta chào bình thường, vì liền sau đó Ngài đã trao ban sứ mạng cho các ông.
Ngài cho các ông xem tay và cạnh sườn. Phải chăng Đức Kitô lưu giữ các dấu thương tích như một kỷ niệm… Hay để cho các tông đồ và môn đệ xem thấy dấu vết rành rành đó mà vững tin vào sự Phục sinh của Ngài ? Và Ngài thổi hơi và ban Thánh Thần :”Các con hãy nhận lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha, các con cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20,23). Hành động của Đức Kitô như lặp lại hình ảnh cuộc sáng tạo của Thiên Chúa Cha (St 1,1t). Đức Kitô qua cuộc Tử nạn và Phục sinh đã trở thành Đấng tái tạo một nhân lọai mới (Ga 3,5t ; Is 32,16).
Trong bài đọc 2 trích sách Công vụ tông đồ, thánh Luca còn cho chúng ta biết thêm về ngày lễ Hiện xuống : Khi đến lễ Ngũ tuần, mọi người đang tề tựu tại một nơi, có lẽ là tại nhà Tiệc ly, với số người là 120. Bỗng nhiên trời phát ra một tiếng, nghe như tiếng gió ào ào, vang dội khắp cả nhà. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tan ra đậu xuống từng người một và ai nấy đều được đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói được tiếng nước ngòai. Sự kiện này làm cho các khách hành hương phải kinh ngạc vì ai nấy đều nghe nói tiếng bản xứ của mình. Họ phải sửng sốt và thán phục.
Chúng ta không biết Đức Giêsu đã thiết lập Giáo hội lúc nào, nhưng chúng ta biết chắc lễ Hiện xuống là ngày Đức Giêsu khai trương Giáo hội, Ngài giới thiệu Giáo hội cho muôn dân và cũng từ hôm nay các môn đệ chính thức được sai đi đến với muôn dân :”Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”, để các ông rao giảng Tin mừng về Nước Trời và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Chúa Kitô.
II. CHÚA THÁNH THẦN BAN ĐẶC SỦNG NGÔN NGỮ
Được đầy tràn Thánh Thần trong buổi sáng lễ Hiện xuống, các Tông đồ cũng đón nhận được ơn đặc sủng về ngôn ngữ. Vì thế, các ông có thể nói cho những người đến hành hương tại Giêrusalem từ khắp nơi trên thế giới : mọi người đều hiểu theo ngôn ngữ của mình. Thánh Phêrô đã dùng đặc sủng ấy mà giới thiệu Đức Giêsu Nazareth cho những người tại Giêrusalem, và qua bài giảng nảy lửa ấy, đã có 3000 người trở lại. Đặc sủng ấy vẫn còn được ban cho Giáo hội và cho mọi thành phần trong Giáo hội hôm nay.
- Ơn nói các thứ tiếng lạ
Sách Công vụ tông đồ thuật lại việc Chúa Thánh Thần ban đặc sủng ngôn ngữ cho các Tông đồ như sau :”Họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác , tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho” (Cv 2, 6). Mọi người đến xem đều lấy làm lạ khi thấy các ông nói được các tiếng thổ ngữ của mình một cách thành thạo.
Đây là một đặc sủng ngôn ngữ. Có hai cách chú giải về phép lạ ngôn ngữ này : có nhà chú giải cho rằng các Tông đồ nói tiếng lạ hoặc chỉ nói một thứ tiếng nhưng Thánh Thần tác động trên người nghe để họ hiểu được theo tiếng của họ. Cách thứ hai thì cho rằng quả thực Thánh Thần tác động trên các Tông đồ để các ngài có khả năng nói được các thứ tiếng ngoại ngữ. Theo mạch văn thì cách thứ hai có sức thuyết phục hơn : chính các thính giả la lên :”Chúng tôi đều nghe họ nói tiếng của chúng tôi mà ca tụng những kỳ công của Chúa” (Cv 2,11).
Phép lạ ngôn ngữ này là hình ảnh đối lại với câu chuyện tháp Babel xưa (St 11,1-11). Câu chuyện đó là ngày xưa, ở Babel, con cháu ông Noe đang nói cùng một thứ tiếng, nghĩa là đang hiểu nhau và đoàn kết với nhau, bỗng dưng để cho tính kiêu ngạo xúi dục muốn xây một cái tháp cao hơn trời để tỏ ra mình cao hơn Thiên Chúa, nên đã bị phạt khiến họ nói nhiều thứ tiếng, người này không còn hiểu người kia nữa, và chia rẽ nhau. Chuyện tháp Babel ngụ ý rằng khi con người không qui tụ quanh Thiên Chúa thì sẽ chia rẽ nhau, không hiểu nhau và không còn thông cảm với nhau được..
Hôm nay, với tác động của Chúa Thánh Thần, mọi dị biệt ngôn ngữ đã bị xóa bỏ để mọi người cùng nghe được sứ điệp Tin mừng. Nhân loại được giao hòa và hiệp nhất với nhau.
- Nói về ngôn ngữ
Theo tự điển Đào Duy Anh thì : tự mình nói ra là ngôn, đáp lại kẻ khác gọi là ngữ. Hay nói cách khác, ngôn ngữ là “nói năng”. Ngôn ngữ bất đồng là tiếng nói không giống nhau, không thể nói chuyện cùng nhau. Có nhiều loại ngôn ngữ, ta tạm chia làm 3 loại :
a) Ngôn ngữ bằng lời nói
Đây là thứ ngôn ngữ dành riêng cho con người có trí khôn. Con vật dù có thông minh mấy cũng không thể xử dụng được thứ ngôn ngữ này vì nó đòi hỏi phải có lý trí để hiểu biết lời mình nói. Con yểng, con nhòng, con sáo… có thể bắt chước tiếng người nói lại được một vài câu, nhưng chúng chỉ nói lại như cái máy vi âm chứ không hiểu biết gì cả.
Vì con người có thể hiểu được lời mình nói và phải chịu trách nhiệm về lời nói đó, nên người ta mới khuyên:
Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
(Ca dao)
Ngôn ngữ này cũng liên quan đến tiếng cười, tiếng khóc. Cười hay khóc đều biểu lộ niềm vui hay nỗi buồn của con người. Cười khóc cũng là đặc tính riêng biệt của con người, cần phải có sự hiểu biết thì mới có thể cười hay khóc được, con vật không có khả năng này. Vì thế người ta nói :
Làm người có miệng có môi,
Khi buồn thì khóc, khi vui lại cười.
(Ca dao)
b) Ngôn ngữ bằng chữ viết
Ngày xưa, người ta có những tư tưởng rất hay, rất thâm thúy, có cả những phát minh nữa như Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo, giáo lý của Phật Thích Ca, triết lý của Socrates, Platon, Aristote, Lão Tử, Khổng Tử… làm thế nào có thể truyền lại cho hậu thế , nếu không dùng đến ký tự, chữ viết đủ mọi loại vì ngày xưa chưa có máy vi âm như ngày nay ?
Trong những kim tự tháp ở Ai cập, còn có nhiều loại chữ viết kỳ bí mà ngày nay người ta cũng chưa giải mã được, chưa hiểu được ý nghĩa của những chữ viết đó.
c) Ngôn ngữ bằng cử chỉ
Khi nói tới ngôn ngữ thì không nhất thiết là phải nói tới lời nói hay nói năng, còn có một thứ ngôn ngữ khác không cần phải nói năng mà ai cũng hiểu được, đó là “cử chỉ”. Ngôn ngữ cử chỉ đây là một qui ước người ta đặt ra với nhau và cho nó một ý nghĩa để người ta có thể hiểu nhau được.
Có những cử chỉ mang một ý nghĩa phổ biến mà bất kỳ ai cũng có thể hiểu được, ví dụ : cười biểu lộ sự vui tươi, khóc biểu lộ sự buồn bã, gật đầu tỏ vẻ đồng ý, lắc đầu tỏ ý từ chối.
Dĩ nhiên có một số cử chỉ khác mang ý nghĩa theo qui ước mà người ta phải học thì mới hiểu được, ví dụ “xê-ma-pho, hay cử điệu bằng tay của những người câm.
- Ngôn ngữ của chúng ta
a) Ngôn ngữ tự nhiên
Trong đời sống hằng ngày, việc trao đổi tư tưởng và tâm tình thường diễn tả bằng lời nói vì đó là thứ truyền thông rất hiệu nghiệm và phổ biến. Chỉ có người nào câm mới bị loại trừ ra khỏi thứ ngôn ngữ này.
Chúng ta cũng phải lưu ý trong việc dùng ngôn ngữ bằng lời nói vì nó dễ đưa tới hậu quả xấu khi chúng ta cẩu thả trong lời nói, thiếu suy nghĩ như người ta khuyên :”Hãy uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Người xưa khuyên chúng ta phải thận trọng trong lời nói :
Nhất ngôn thuyết quá, tứ mã nan truy.
(Một lời nói sai trái thì bốn con ngựa đuổi không kịp)
Chúa Giêsu cũng nhắc nhở chúng ta là sẽ bị lên án về lời nói của mình :”Loài rắn độc kia, xấu như các ngươi, thì làm sao nói điều tốt được ? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra. Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình ; kẻ xấu thì rút cái xấu từ kho tàng xấu của mình. Tôi nói cho các ngươi hay : đến ngày phán xét, người ta sẽ phải trả lời về mọi điều vô ích mình đã nói. Vì nhờ lời nói của anh em mà anh em sẽ được trắng án ; và cũng tại lời nói của anh em mà anh sẽ bị kết án”(Mt 12,34-37 ; Mc 3,29 . Lc 12,10).
b) Ngôn ngữ thiêng liêng hay thần bí
Trong đời sống thiêng liêng chúng ta còn có loại ngôn ngữ thần bí mà không có cách nào diễn tả được. Đó là ngôn ngữ đức tin và ngôn ngữ của tình yêu. Chúng ta chỉ có thể có được ngôn ngữ này khi chúng ta kết hiệp mật thiết với Chúa, hai tâm hồn đã kết hợp với nhau để không còn phân biệt được Chúa nói với ta hay ta nói với Chúa , vì lúc đó “tôi sống mà không phải tôi sống mà Chúa Kitô sống trong tôi”, tôi đã nên một với Người.
Bình thường khi cầu nguyện thì ta nói , Chúa nghe , đôi lúc Chúa nói, ta nghe, nhưng đến giai đoạn cao nhất là không còn nói, không còn nghe. Chúng ta có thể chia thành 4 giai đoạn theo tứ tự sau đây:
1/ Ta nói, Chúa nghe.
2/ Chúa nói, ta nghe.
3/ Không ai nói, cả hai chỉ nghe.
4/ Không ai nói mà cũng không ai nghe.
Tất cả chỉ là một sự im lặng tuyệt đối.
Truyện : Trong phòng thông dịch viên.
Người ta mới phát minh được một cái máy kỳ diệu. Nó là một óc điện tử có thể dịch ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Hiện thời, máy chỉ có thể dịch tiếng Nga sang tiếng Anh. Nhưng bước đầu đã thành công, một bước tiến vĩ đại, và chắc thế nào những bước sau cũng sẽ thành công hơn.
Hiện nay trong những hội nghị quốc tế chẳng hạn như hội nghị Minh ước Bắc Đại tây dương ở Paris, hay tại Liên hiệp quốc ở New York, người ta còn phải dùng thông dịch viên, đây cũng là một thành công chói lọi của kỹ thuật tân tiến. Các đại biểu trong hội nghị chỉ cần đưa máy nghe lên tai thì tức khắc họ sẽ nghe diễn giả đang nói tiếng Ba tư nói thành tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Ý… từng câu một, tòan thể bài diễn văn được dịch ra và chuyền lại cho các thính giả nghe.
Người ta có thể so sánh việc này với phép lạ về ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần hiện xuống. Lúc các Tông đồ còn đang sợ sệt lo ngại vì Đức Giêsu đã lên trời. Họ đóng cửa ở trong phòng, không biết làm thế nào để thực hiện được lời Chúa dạy là biến đổi thế gian. Rồi một buổi sáng nọ, bỗng nhiên Chúa Thánh Thần hiện xuống dưới hình thức cơn gió lốc. Các Tông đồ tự nhiên thấy vững tâm mạnh dạn. Họ mở cửa, ra ngòai đường và bắt đầu giảng.Trước mặt họ là một đám đông dân chúng hỗn độn, gốc cả 15 nước và nói 15 thứ tiếng. Thế mà khi Tông đồ nói, mỗi người nghe như Tông đồ nói tiếng xứ mình. Tất cả đều hiểu rằng Tông đồ giảng về Tình thương và Hòa bình. Thông dịch viên là ai ? Đó là Đức Chúa Thánh Thần.
- Ngôn ngữ và loan báo Tin mừng
Thánh Phaolô bảo : có nhiều đặc sủng, có nhiều cách phục vụ khác nhau trong Giáo hội. Nhưng các đặc sủng ấy chỉ nhằm phục vụ lợi ích chung… Khi chúng ta được chịu phép rửa tội và đặc biệt trong ngày lễ hôm nay, Chúa Thánh Thần đều ban cho mỗi người chúng ta đặc sủng ngôn ngữ để chúng ta loan báo Tin mừng, để làm trọn sứ mạng tiên tri của mình.
Ngôn ngữ đây không nhất thiết phải là lời nói hay chữ viết, mà là cử chỉ, điệu bộ ; hay nói cách khác, ngôn ngữ này là chính con người chúng ta, cuộc sống thực tế hằng ngày của ta. Loan báo Tin mừng bằng lời nói hay chữ viết có thể vượt trên khả năng của ta, nhưng ngôn ngữ bằng cuộc sống hằng ngày thì phù hợp với tất cả mọi người, trong mọi hoàn cảnh. Chính cuộc sống gương mẫu của ta là một bằng chứng hùng hồn nói lên sự hiện hữu của Thiên Chúa. Gương sáng của ta là một sức mạnh lôi kéo mọi người đến với Chúa, một việc làm có tính cách thuyết phục đến nỗi không thể từ chối được. Vì :
Lời nói như gió lung lay ,Gương bày như tay lối kéo.
(Tục ngữ)
Ánh sáng soi vào trong đêm tối sẽ làm cho bóng tối biến đi. Sứ mạng của ánh sáng là phải chiếu vào nơi tối tăm, mà chúng ta là ánh sáng thế gian (Mt 5,14) thì chúng ta có nhiệm vụ phải làm cho thế gian u tối phải bừng lên ánh sáng Chúa Kitô như lời Ngài dạy :”Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
Chính cuộc đời gương mẫu của ta sẽ trở thành một bài giảng hùng hồn khiến họ cảm phục, một bài giảng không cần dùng lời nói mà có sức lôi kéo không thể cưỡng lại được, dĩ nhiên phải cùng với sự hỗ trợ của Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hoá Giáo hội và mỗi người.
Truyện : Bài giảng biết đi.
Một buổi chiều của năm 1953, các ký giả và một số nhân viên chính phủ tập trung tại một nhà ga xe lửa ở Chicago, Hoa kỳ để chào đón một người được giải thưởng Nobel hoà bình năm 1952.
Người vừa xuống khỏi xe lửa là một người đàn ông to lớn, tóc ngắn và mang một chòm râu cắt gọn ghẽ. Các máy hình chớp liên hồi. Các nhân viên cao cấp của thành phố đang rộng tay để đón chào vị thượng khách.
Người được giải Nobel hoà bình cám ơn mọi người rồi bỗng đưa mắt nhìn vào một chỗ nào đó trên sân ga. Ông xin kiếu vài phút để đi thẳng về hướng ấy. Mọi người đều tưởng ông đã để quên một hành lý nào chăng.
Ông băng qua đám đông đi thẳng tới một người đàn bà có tuổi đang khệ nệ với hai vali nặng. Ông giơ tay đỡ lấy một chiếc vali, mỉm cười với bà rồi dẫn bà ra một chiếc xe buýt gần đó. Khi giúp người đàn bà lên xe, ông không quên chúc bà thượng lộ bình an. Quay lại với đám đông đang chờ đợi, ông nói :”Xin lỗi quí vị vì đã bắt quí vị chờ đợi”.
Người được giải Nobel hoà bình năm 1953 ấy, không ai khác hơn là bác sĩ Albert Schweitser, nhà truyền giáo nổi tiếng đã hy sinh cả cuộc đời cho những người nghèo tại Phi châu. Chứng kiến cử chỉ của ông, một người trong ban tổ chức đón tiếp ông hôm đó, đã nói với một ký giả :”Đây là lần đầu tiên tôi thấy một bài giảng biết đi”.
(R.D. Wahrheit, Ánh sáng hy vọng, tr 41-42)
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt
……………………………
Suy Niệm 4: Hãy lãnh nhận Thánh Thần
“Anh em hãy lãnh nhận Thánh Thần.” Câu này là tâm điểm của đoạn Phúc âm hôm nay. Đức Giêsu khuyến khích chúng ta sống trong tư thế sẵn sàng đón nhận. Lời khuyên này có lẽ làm cho nhiều người phải ngạc nhiên, bởi vì theo lẽ thông thường chúng ta được mời gọi cho đi hơn là nhận lãnh. Nếu người ta đặt câu hỏi: Yêu cầu “cho đi” hay là “nhận lãnh”, yêu cầu nào thường được Kinh thánh đề cập tới thì ai cũng nghĩ đến yêu cầu cho đi. “Hãy ban tặng thì bạn sẽ được ban tặng lại”, đây cũng là lời dạy bảo của chính Đức Giêsu. Thánh Phaolô cũng trích dẫn lời này trước khi từ biệt mọi người tại thành Milet: “Cho đi thì có phúc hơn là nhận lãnh”. Tâm điểm của đoạn Phúc âm cũng nhấn mạnh rằng, chúng ta hãy sẵn sàng tiếp nhận và sẵn sàng để được ban tặng. Thái độ khiêm tốn là điều thiết yếu trong cuộc sống làm người Kitô hữu. Bởi vì sự có mặt của chúng ta trên trái đất này kể từ lúc còn trong dạ mẹ đã là một quà tặng. Ai sống cởi mở, hay nói một cách khác, ai ý thức thân phận mỏng giòn của kiếp người, người đó sẽ mở rộng con tim khi đối diện với Đấng tạo dựng nên mình.
Ân huệ mà chúng ta được mời gọi đón nhận không phải là một quà tặng tầm thường. Đó chính là Chúa Thánh Thần. Đức Giêsu đã bảo đảm với các môn đệ rằng, Chúa Thánh Thần sẽ giúp chúng ta nhớ lại tất cả những lời Ngài dạy bảo. Đức Giêsu còn gọi đây là Thần Khí sự thật, là Đấng bảo trợ. Nhưng các nhà họa sĩ luôn găp khó khăn khi giúp mọi người hình dung ra Chúa Thánh Thần là ai. Ngài là Đấng huyền bí nhất trong Chúa Ba Ngôi. Chúa Cha là Đấng sáng tạo đầy quyền năng cũng không khó, Đức Giêsu mang thân phận con người như chúng ta dễ dàng hơn, còn Chúa Thánh Thần thì có vẻ trừu tượng khó diễn tả! Thánh tiến sĩ Hội thánh Gregor Nazianz nói rằng, chúng ta có thể nhận biết sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong cuộc lữ hành trần thế của Giáo hội: “Cựu ước đã loan báo rõ ràng và công khai về Chúa Cha, Chúa Con thì còn mơ hồ; Tân ước mặc khải Chúa Con và giúp chúng ta dự đoán về Chúa Thánh Thần. Hiện tại Thần Khí Chúa hiện diện giữa chúng ta và sẵn sàng giúp chúng ta có một cái nhìn rõ nét về bản thân Ngài.”
Nếu chúng ta đọc hạnh các thánh hay sách viết về tiểu sử của các ngài chúng ta sẽ nhận biết rằng, sở dĩ các ngài trong nhiều hoàn cảnh khác nhau có thể hoàn thành những sứ mạng lớn lao ngoài sức tượng tượng của chúng ta là vì các ngài đã tin vào lời hứa của Đức Giêsu: “Thầy sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em”. Nhưng chúng ta cũng dễ dàng than thở và nói rằng, nơi những con người như thế thì chẳng lạ gì khi lời hứa của Đức Giêsu sớm thành hiện thực, vì Chúa Thánh Thần đã tuôn đổ muôn hồng ân trên các ngài, còn thân tôi nhỏ bé thì làm được trò trống gì! Tác động của Chúa Thánh Thần thường không giống như những gì chúng ta nghĩ. Có lẽ đó chỉ là thành kiến của chúng ta mà thôi. Bản thân tôi lúc còn nhỏ chỉ là chú bé nhà quê nhút nhát sợ sệt. Vào giờ này trước đây 55 năm, tôi thi đậu vào tiểu chủng viện. Trải qua 30 năm đầy những thăng trầm tôi chính thức được thụ phong linh mục. Sở dĩ tôi chọn châm ngôn cho đời linh mục “Đừng sợ, vì Ta ở với ngươi”, bởi vì tôi luôn tin tưởng có Chúa cùng đồng hành. Tôi đã lãnh nhận một cách nhưng không thì tôi cũng tự nguyện cho đi như thế. Bây giờ nhìn lại chặng đường 25 năm linh mục tôi chỉ biết dâng lời cảm tạ và thêm lòng xác tín. Thiên Chúa đã không bỏ rơi tôi nhất là trong những lúc tôi phải chiến đấu đơn độc để hoàn thành nghĩa vụ mục tử nơi xứ người. Thiên Chúa đã chọn gọi tôi và qua sự trợ giúp của Thánh Thần Ngài tiếp tục tác động nơi thế giới chung quanh tôi. Chúng ta bất kể là ai được mời gọi làm người loan báo Thánh Thần Chúa cho thế giới. Tôi nghĩ, chúng ta cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Thánh Thần khắp mọi nơi khi con người biết sẵn sàng chống lưng cho nhau mà không đòi hỏi mình sẽ được gì, khi con người sống trung tín tôn trọng lẫn nhau, nhất là trong những lúc rơi vào nghịch cảnh, khi con người biết hiệp ý với nhau trong lời nguyện, … Đừng nhìn thế giới này với cặp kính màu, chỉ thấy toàn màu đen tối. Hãy khám phá những mảnh thiên đường nơi trần thể đầy nét sinh động của Thánh Thần.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức