spot_img
Thêm

    CHÚA NHẬT PHỤC SINH

    BÀI ĐỌC I: Cv 10, 34a. 37-43

    Trong những ngày ấy, Phêrô lên tiếng nói rằng: “Như anh em biết điều đã xảy ra trong toàn cõi Giuđêa, khởi đầu từ Galilêa, sau khi Gioan rao giảng phép rửa: ấy là Chúa Giêsu thành Nadarét. Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu cho Người. Người đi khắp nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỷ ám, bởi vì Thiên Chúa ở cùng Người. Và chúng tôi, chúng tôi là chứng nhân tất cả những gì Người đã làm trong nước Do-thái, và tại Giêrusalem, Người là Ðấng người ta đã giết treo Người trên thập giá. Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho Người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người sau khi Người từ cõi chết sống lại. Và Người đã truyền cho chúng tôi rao giảng cho toàn dân và làm chứng rằng chính Người đã được Thiên Chúa tôn làm quan án xét xử kẻ sống và kẻ chết. Mọi tiên tri đều làm chứng về Người rằng: Tất cả những ai tin vào Người, thì nhờ danh Người mà được tha tội”.

    BÀI ĐỌC II: Cl 3, 1-4

    Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Ðức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Ðức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, và sự sống anh em được ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa. Khi Ðức Kitô là sự sống anh em xuất hiện, bấy giờ anh em sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang.

    PHÚC ÂM: Ga 20, 1-9

    Ngày đầu tuần, Maria Mađalêna đi ra mồ từ sáng sớm khi trời còn tối và bà thấy tảng đá đã được lăn ra khỏi mồ, bà liền chạy về tìm Simon-Phêrô và người môn đệ kia được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với các ông rằng: “Người ta đã lấy xác Thầy khỏi mồ, và chúng tôi không biết người ta đã để Thầy ở đâu”. Phêrô và môn đệ kia ra đi đến mồ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô, và đến mồ trước. Ông cúi mình xuống thấy những khăn liệm để đó, nhưng ông không vào trong. Vậy Simon-Phêrô theo sau cũng tới nơi, ông vào trong mồ và thấy những dây băng nhỏ để đó, và khăn liệm che đầu Người trước đây, khăn này không để lẫn với dây băng, nhưng cuộn lại để riêng một chỗ. Bấy giờ môn đệ kia mới vào, dù ông đã tới mồ trước. Ông thấy và ông tin, vì chưng các ông còn chưa hiểu rằng, theo Kinh Thánh, thì Người phải sống lại từ cõi chết.

    Suy Niệm 1: LÀM CHỨNG, BIẾN ĐỔI THẾ GIỚI TỪ BÊN TRONG

    Chúa Giêsu đã sống lại! Việc chúng ta cử hành mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô đã đạt tới đỉnh điểm. Những lễ mừng tiếp theo, như Thăng Thiên và Hiện Xuống, đều thực tế có ý nghĩa ‘đóng ấn’ hoàn tất công trình cơ bản là mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô.
    Sự dữ, tội lỗi, sự chết đã được vượt qua rồi. Các môn đệ vui mừng, có phần choáng ngợp, nhưng định thần khá nhanh chóng. Họ không ăn mừng ầm ĩ, mà khá lặng lẽ, chỉ râm ran trong nội bộ một chút thôi. Một phần cũng vì tình hình bên ngoài vẫn còn gay cấn, phần khác bởi vì đây không phải loại niềm vui để nhảy múa và cụng ly hò hét dô dô…!
    Vậy thì đâu là trọng tâm của thời hậu Phục sinh này? Làm chứng!
    Vâng, các nam nữ môn đệ làm chứng cho nhau, và cùng với nhau họ làm chứng về sự kiện Chúa Phục sinh cho mọi người khác. Thời của ‘lời rao giảng tiên khởi’ (kerygma)! Đây là những nội dung chủ chốt của lời rao giảng này:
    -Giêsu Nadaret đã sống, đã thi hành sứ vụ;
    -Người đã bị đóng đinh và đã chết;
    -Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy;
    -Người là Đấng Cứu Độ; hãy tin vào Người…
    -Lòng tin vào Chúa Giêsu sẽ được diễn tả bằng sự sám hối, đổi mới đời sống, và làm chứng cho Người.
    Đó là những điều tinh tuý mà các Tông đồ rao giảng, như diễn từ của Phêro tại nhà ông Cornelio trong Bài đọc sách Công vụ hôm nay (10,34a.37-43). Có thể thấy rõ, hai nội dung đầu tiên thì mọi người đều biết, nhưng với sự kiện Chúa Giêsu sống lại thì người ta bị thách đố (hay được mời gọi) để tin. Niềm tin Phục sinh có tính quyết định tất cả. Sự sám hối và đổi đời đích thực được đặt nền trên niềm tin này.
    Sự sám hối và biến đổi đó cốt ở chỗ “tìm kiếm, hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, và đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”, như khuyến dụ của thánh Phaolô trong Bài đọc Thư Cô lô sê (3,1-4). Điều này có nghĩa là gì? Có phải chúng ta được khuyến khích sống như những ‘người cõi trên’, theo nghĩa dửng dưng với những thực tại trần thế?
    Dĩ nhiên là không phải vậy, mà ngược lại nữa kia – chúng ta phải xông vào trần thế để biến đổi trần thế này từ bên trong, bằng sức sống mới của Thánh Thần Chúa Phục sinh. Làm chứng! Đó là làm chứng rằng thế giới này, loài người này đã được cứu độ dứt khoát bằng cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Hướng lòng trí về thượng giới là hướng lòng trí về Nước Trời chung cuộc, về Triều đại Thiên Chúa vốn đã được khai mạc tại đây, trên mặt đất này.

    Lm. Giuse lê Công Đức, PSS.

    ………………………..
    Suy Niệm 2: CHẠY ĐUA TRÊN CON ĐƯỜNG GẶP CHÚA

    Chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Phục Sinh, mùa mà trong đó chúng ta sống đời sống mới trong Đức Kitô. Điều đáng để chúng ta lưu ý là các bài đọc trong mùa phục sinh [bài đọc 1] hoàn toàn được trích từ sách Tân Ước. Không có bài đọc nào được trích từ sách Cựu Ước. Chi tiết này làm sáng tỏ sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu là sự kiện mà qua đó Chúa Giêsu hoàn thành tất cả những gì được tiên báo hoặc hứa trong Cựu Ước. Điều này mời gọi chúng ta nhìn vào cuộc sống của mình dưới ánh sáng phục sinh là một đời sống hoàn toàn tìm kiếm những gì mới mẻ trong Thiên Chúa. Chúng ta hãy để lời Chúa hướng dẫn chúng ta trong hành trình sống thực tại phục sinh trong đời sống thường ngày.

    Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta bài giảng của Thánh Phêrô tại nhà ông Conêliô. Trước khi đề cập đến nội dung của bài giảng, chúng ta tập trung vào hình ảnh của Phêrô trước và sau biến cố phục sinh hay đúng hơn trong biến cố vượt qua của Chúa Giêsu. Trước biến cố phục sinh, nhất là trong cuộc thương khó của Ngài, Phêrô là một người ‘hèn nhát’ đã chối Thầy mình ba lần. Nhưng sau biến cố phục sinh đã can đảm làm chứng cho Thầy và sẵn sàng hy sinh tính mạng cho lời chứng của mình. Chi tiết này cho chúng ta thấy, biến cố phục sinh mang lại một sự thay đổi lớn hay đúng hơn mội lối sống mới nơi Phêrô. Còn chúng ta sẽ như thế nào? Liệu biến cố phục sinh có mang lại một lối sống mới cho Chúa Giêsu nơi chúng ta không?

    Nội dung bài giảng của Phêrô thường được xem là kerygma hay còn gọi là giáo huấn căn bản nhất của niềm tin Kitô giáo. Giáo huấn này tập trung vào mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do Thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10:39-41). Những lời này chỉ ra cho chúng ta yếu tố quan trọng trong niềm tin Kitô giáo là việc Chúa Giêsu đã bị giết và ngày thứ ba Người trỗi dậy. Chúng ta có thể nói rằng hai yếu tố chết đi và sống lại là hai yếu tố cấu nên mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu. Chúng ta được mời gọi sống mầu nhiệm này trong từng ngày sống của mình: chết đi cho những gì không xứng hợp với ơn gọi làm con Thiên Chúa và sống lại trong đời sống mới trong Đức Kitô. Những ai không sống mầu nhiệm này trong đời sống thường ngày sẽ không hiểu ý nghĩa sâu xa của biến cố phục sinh, như thế sẽ không trở thành những chứng nhân về sự phục sinh của Chúa Giêsu, vì những chứng nhân đích thực là những người cảm nghiệm sự phục sinh trong chính cuộc đời của mình. Trong lời giảng của mình, Thánh Phêrô cũng đưa ra lý do cho việc làm chứng, đó là để những “ai tin vào Người thì sẽ nhờ danh Người mà được ơn tha tội” (Cv 10:43).

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô dạy các tín hữu Côlôxê về những việc cần phải thực hiện khi họ đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô: “Thưa anh em, anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Cl 3:1-2). Sống trong đời sống dương thế, nhiều khi chúng ta để cho mình bị những giá trị trần thế níu kéo làm chúng ta không thể bay cao như Thiên Chúa muốn. Nói cách khác, chúng ta để cho lực kéo của trái đất kéo chặt chúng ta dưới đất đến độ chúng ta không thể bay lên cao hoặc hướng về quê hương thật của mình là thiên đàng. Chỉ những người chết với Đức Kitô và trỗi dậy với Ngài mới được hưởng phúc vinh quang khi Đức Kitô xuất hiện trong vinh quang: “Thật vậy, anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa. Khi Đức Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Người, và cùng Người hưởng phúc vinh quang” (Cl 3:3-4). Những lời này mời gọi chúng ta nhìn lại thái độ sống của mình. Ai trong chúng ta cũng muốn được vinh quang, nhưng không ai muốn phải chịu cực chịu khổ. Là những người có sự sống mới của Chúa Giêsu tiềm tàng trong mình, chúng ta cần phải hiểu rằng, sự sống mới đó chỉ phát triển khi chúng ta chết đi cho con người tội lỗi của chúng ta.

    Một trong những dấu chứng rõ ràng cho sự phục sinh của Chúa Giêsu là sự kiện ngôi mộ trống. Đây là điều được trình bày trong Tin Mừng hôm nay. Trong khi Tin Mừng Nhất Lãm mở rộng trình thuật về những người phụ nữ đến mộ, thấy ngôi mộ mở, xác của người không có ở trong mộ, và nhận được giáo huấn Phục Sinh và sứ điệp cho các môn đệ của Chúa Giêsu (x. Mc 16:1-8a; Lc 24:14,24 nói đến việc Phêrô hoặc một số môn đệ đi kiểm tra những gì được báo), Thánh Gioan trình thuật sự kiện ngôi mộ trống cách ngắn gọn về sự kiện Maria Mácđala khám phá ra ngôi mộ trống theo sau với trình thuật dài về Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu yêu tại ngôi mộ trống. Sự kiện này có sự tương đồng với cuộc thăm viếng của họ trong câu chuyện thứ hai khi Maria gặp gỡ Đức Kitô phục sinh (x. Ga 20:11-18). Câu chuyện này cũng chứa đựng những chi tiết liên quan đến ngôi mộ trống được tìm thấy trong các truyền thống khác: hình ảnh các thiên thần, và sứ điệp được chuyến đến các môn đệ. Đối với Tin Mừng Thánh Gioan, không phải ngôi mộ trống cũng không phải những lần hiện ra của Chúa Giêsu chứa đựng ý nghĩa trọn vẹn của Phục Sinh. Sứ mệnh của Chúa Giêsu chỉ được hoàn thành với việc Ngài trở về với Chúa Cha và vinh quang mà Ngài có được “trước khi tạo thành thế giới” (Ga 20:17; 3:13; 6:51; 7:33; 13:2-3; 14:4,28; 16:5,17,28; 17:13).

    Thánh Gioan bắt đầu trình thuật bằng việc đề cập đến Maria Mácđala, một người trong nhóm đứng dưới chân thập giá (x. Ga 19:25). Maria Mácđala là người đầu tiên được đề cập đến trong danh sách những người phụ nữ đến viếng mộ trong Tin Mừng Nhất Lãm (x. Mc 16:1; Mt 28:1; Lc 24:10). Chi tiết đầu tiên chúng ta cần lưu ý là thời gia Maria Mácđala đên mộ: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20:1). Theo truyền thống, sự quy chiếu cho sự kiện ngôi mộ trống xảy ra vào lúc rạng đông của ngày sau ngày sabát. Thánh sử có thể đã thêm bóng đêm để đưa vào trong  ánh sáng những hình tượng của Tin Mừng. Theo Tin Mừng của Thánh Gioan, vì sự kiện xức dầu của Chúa Giêsu chỉ hoàn thành trong cảnh Chúa Giêsu được chôn trong mồ, nên bóng đêm không phải là động lực cho việc Maria đi thăm mồ Chúa Giêsu. Nhìn chung, các môn đệ không hiểu gì về sự kiện ngôi mộ trống cho đến khi Chúa Giêsu Phục Sinh xuất hiện với họ. Chi tiết này mời gọi chúng ta suy gẫm về những giây phút khó khăn và đau buồn trong cuộc sống, giây phút mà chúng ta không hiểu gì ngoài cái trống rỗng của sự chết chóc. Chúng ta chỉ có thể hiểu tất cả mọi sự khi chúng ta gặp gỡ Đấng Phục Sinh từ cõi chết.

    Phản ứng đầu tiên của Maria Mácđala khi thấy ngôi mộ trống là “chạy về” báo tin cho các môn đệ: “Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến. Bà nói: ‘Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu’” (Ga 20:2). Maria đã diễn tả sự quan tâm của mình ba lần về việc xác Chúa Giêsu bị lấy đi khỏi mộ (x. 20:2,13,15). Trong những lời này, chúng ta thấy Maria vẫn chưa tin vào sự phục sinh mà chỉ nghĩ là người Do Thái đã lấy xác Chúa Giêsu khỏi mộ và không biết họ để Ngài ở đâu. Theo các học giả Kinh Thánh, những lời này âm hưởng lại những bản văn trước đó trong Tin Mừng Thánh Gioan nói về việc không ai biết Chúa Giêsu đi đâu. Đứng trước sự không biết Chúa Giêsu ở đâu của Maria, Tin Mừng đã đưa ra hai câu trả lời cho việc Chúa Giêsu ở đâu: (1) Ngài về với Chúa Cha (x. Ga 13:1-3; 14:12,28; 17:21-26), và (2) ở lại với các môn đệ của Ngài (x. Ga 14:3,18,20,23,28).

    Phản ứng của Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu thương khi nghe tin là “chạy đi” đến nơi Chúa Giêsu được chôn cất: “Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước” (Ga 20:3-4). Điều đáng để chúng ta suy gẫm ở đây là hành động ‘chạy’ của hai môn đệ. Theo các học giả Kinh Thánh, hành động này của hai môn đệ nói về một sự “căng thẳng” đang xảy ra trong cộng đoàn của Thánh Gioan, đó là sự cạnh tranh giữa ‘cơ cấu’ [hiện thân là Phêrô] và ‘đặc sủng’ [hiện thân nơi người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến]. Tuy nhiên, sự căng thẳng, ganh đua ở đây chỉ xoay quanh việc ai chạy nhanh đến với Chúa Giêsu. Nói cách khác, đây là một cuộc đua tranh giành sự gần gũi với Chúa Giêsu. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng thường ganh đua và tranh giành hơn thua về những thứ mang tính trần thế. Hình ảnh của hai môn đệ chỉ ra cho chúng ta rằng: những người môn đệ Chúa Giêsu chỉ có một cuộc tranh đua, đó là cuộc tranh đua đến gần Chúa Giêsu. Đây chính là hành trình đức tin mà người môn đệ được Chúa Giêsu yêu thương đã thực hiện: “Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simôn Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20:5-8). Người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến là người gần Chúa Giêsu nhất trong bữa tiệc ly (Ga 13:25), chính tình yêu sâu đậm dành cho Chúa Giêsu đã đưa ngài đến ngôi mộ trước. Nhưng ngài không vào trong mộ. Điều này chỉ ra rằng đối với người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến, đức tin chính là mục đích tối hậu của sự kiện viếng thăm ngôi mộ trống. Như vậy, mỗi lần đến với Chúa Giêsu, đức tin của chúng ta phải được củng cố và trở nên vững mạnh hơn.

    Lm. Anthony, SDB.

    ……………………………

    Suy Niệm 3: CHÚA ĐÃ SỐNG LẠI THẬT

    A.DẪN NHẬP

    Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay đều nói đến việc Đức Giêsu sống lại. Thánh Phêrô đã loan báo cho quan bách quản Cornêliô về các sự việc  đã xẩy ra nơi Chúa Giêsu : đi truyền giáo, chịu chết trên thập giá và sống lại vinh quang (Bài đọc 1).

     Thánh Gioan nói cho biết sự kiện ngôi mộ trống mà ngài đã tận mắt trông thấy là bằng chứng nói lên việc Chúa sống lại (Bài Tin mừng).

    Còn thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy tin vào Chúa sống lại, hãy hướng lòng về trời là quê hương thật và đừng để những đam mê trần tục chi phối làm hư hỏng con người (Bài đọc 2).


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Cv 10,34.37-43.

    Viên quan bách quản Rôma, là người ngoại giáo, khi nghe biết về Chúa Giêsu, đã đến xin ông Phêrô làm phép rửa để được gia nhập cộng đoàn các tín hữu đầu tiên. Thánh Phêrô đã nhắc cho ông và gia đình ông niềm tin căn bản này : Đức Giêsu đã phục sinh. Đây là bài giảng đầu tiên mà Phêrô dạy dỗ cho những người tân tòng. Thánh Kinh gọi bài giảng truyền giáo này là Keryma. Lược đồ của mỗi Keryma thường là :

    a) Tóm tắt cuộc đời của Đức Giêsu ở trần thế.

    b) Cái chết của Ngài.

    c) Việc Ngài sống lại.

    d) Kêu gọi hãy tin vào Ngài để được ơn cứu độ.

    Tin vào Chúa Kitô phục sinh là một điều kiện tiên quyết phải có vì nếu Chúa Giêsu không sống lại thì niềm tin của ta trở nên trống rỗng. Vì thế, sự phục sinh của Đức Giêsu chính là trung tâm của lịch sử nhân loại, là nền tảng cho niềm tin Kitô giáo.

    + Bài đọc 2 : Cl 3,1-4).

    Trong bức thư gửi cho tín hữu Colôssê, thánh Phaolô kêu gọi những ai đã nhờ phép rửa mà được tham dự vào mầu niệm Vượt qua, hãy sống một đời sống tỏa hương thánh thiện :”Hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”(Cl 3,1-2).

    Các tín hữu đã tin vào Chúa Phục sinh, nhưng chưa đủ, còn phải thể hiện niềm tin đó trong cuộc sống. Mặc dầu phải sống giữa những thay đổi của trần gian này, phải chịu vật chất chi phối, nhưng đừng để lòng mình ra nặng nề, hãy hướng lòng trí về trời là quê hương thật. Đức Kitô phục sinh đem đến cho chúng ta  niềm hy vọng trong cuộc sống hiện tại để hướng về cuộc sống mai hậu.

    Người tín hữu tìm được ý nghĩa thực của đời sống dưới ánh sáng phục sinh mà họ đang tiến về. Do đó, họ không được thoát ly khỏi cuộc sống đời này với nhiều nghĩa vụ, bao gian nan thử thách; tuy thế, họ đã tìm được ý nghĩa của cuộc sống trong sự kết hợp với Đức Kitô Phục sinh.

    + Bài Tin Mừng : Ga 20,1-9.

    Trong bài Tin mừng này, thánh Gioan nhắc đến Maria, người tội lỗi, mà Chúa đã trừ cho khỏi bảy qủi. Bà rất yêu mến Chúa. Ngay sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần bà đã ra mộ viếng Chúa, nhưng thấy mộ trống. Bà tức tốc chạy về báo tin cho ông Phêrô và các Tông đồ biết : người ta đã lấy trộm xác Chúa.  Ông Phêrô và Gioan đã ra mộ và thấy sự kiện ấy : ngôi mộ trống. Phêrô tỏ ra không hoảng hốt, ông bình tĩnh, xem ra ông đã tin Thầy mình phục sinh rồi.

    Thực ra, sự kiện ngôi mộ trống chưa có thể xác quyết được sự kiện Chúa sống lại. Chúng ta còn phải nhờ Kinh Thánh và với đức tin chân thật thì mới có thể tin Chúa đã sống lại. Chính người Do thái không tin vào sự kiện đó và cho rằng xác Đức Giêsu đã bị lấy trộm đi. Việc Chúa sống lại chỉ là tin vịt do các môn đệ dựng nên.  Tuy thế, đối với ông Gioan thì không còn nghi ngờ gì nũa :”Ông đã thấy và ông đã tin” (Ga 20,9).


    C.
    THỰC HÀNH LỜI CHÚA

                                                    Thành công và thất bại

     I. ĐỨC GIÊSU THÀNH CÔNG HAY THẤT BẠI ?

    Trong mùa chay, cách riêng trong tuần thánh vừa qua, tâm trí chúng ta luôn luôn bị căng thẳng, tâm hồn chúng ta luôn luôn bị xúc động và hồi hộp khi suy ngắm những biến chuyển nơi Chúa Giêsu trước đây trên hai ngàn năm, mà Giáo hội đã diễn lại một cách sống động khác nào sự việc đang xẩy ra vậy :

              Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem (Ga 12,13)
    Chúa từ giã các môn đệ (Mt 16,45).
    Chúa ăn bữa tối sau hết (Mc 14,15).
    Chúa rửa chân cho 12 Tông đồ (Ga 13,50.
    Chúa lập phép Thánh Thể (Lc 22,17).
    Chúa vào vườn Cây Dầu cầu nguyện (Lc 22,42).
    Chúa bị Giuđa tìm bắt (Lc 22,48).
    Chúa bị điệu đến dinh Philatô (Lc 23,1)
    Chúa chịu đánh đòn (Mt 26,67).
    Chúa chịu đội mạo gai (Mt 27,29).
    Chúa bị nhạo báng (Mt 27,30).
    Chúa phải vác thánh giá nặng (Lc 23,26).
    Và sau cùng Chúa phải chịu đóng đinh vào thập giá (Lc 23,33).

    Tất cả những điều này đã làm lu mờ sự nghiệp của Chúa: nào làm bánh hóa ra nhiều – nào kẻ mù được sáng – kẻ điếc được nghe – kẻ câm được nói – kẻ què được đi – kẻ chết sống lại với những niềm tin Người là Đấng Cứu thế muôn dân đợi trông – là Con Thiên Chúa, tất cả đều tan đi như mây khói.

    Nhưng ở đời có tan thì lại có hợp, có mưa rồi lại có nắng, và có thất bại rồi mới có thành công vì như người ta nói :”Thất bại là mẹ thành công”. Nếu chỉ dừng lại ở đây thì Đức Giêsu đã thất bại hoàn toàn, bởi vì người ta thường nói : chết là hết, bao nhiêu sự nghiệp đều tiêu tan. Có biết bao nhiêu anh hùng cái thế, bao nhiêu bậc vĩ nhân trên thế giới đã làm được những công việc vĩ đại, nhưng rồi họ cũng đã ra đi, họ bị lãng quên cùng thời gian, họa chăng chỉ còn trong sử sách.

    Nhưng đối với Đức Giêsu, Ngài đã thành công giữa những thất bại. Những thất bại Ngài phải chịu trong một thời gian càng làm cho thành công của Ngài thêm vinh quang. Đúng  như văn hào Corneille đã nói :”Chiến đấu có gian nan, khải hoàn mới vinh quang”.

    Nhìn vào cuộc tử nạn của Ngài, ta thấy Ngài thất bại hoàn toàn bởi vì bao nhiêu sự nghiệp lẫy lừng Ngài đã làm trong ba năm truyền giáo đã bị tiêu tan.  Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại như lời Ngài đã báo trước lúc còn sinh thời.  Ngài đã sống lại, nên các sự nghiệp xem ra đã bị tiêu tan, ngày nay cũng được sống lại theo và muôn đời sẽ còn ghi nhớ những công việc ấy. Ngày nay, sau 2000 năm, hằng tỷ người vẫn còn nhắc đến những sự kiện ấy, nhất là trong Tuần thánh vừa qua.


    II. THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG TRONG ĐỜI THƯỜNG
     

    1. Suy nghĩ của người đời

    Trong cuộc sống hằng ngày, không ai dám nói rằng mình chưa bao giờ gặp đau khổ, chưa bao giờ nếm mùi thất bại, chỉ có những kẻ không làm gì thì mới không thất bại.  Thất bại và thành công luôn đi đôi với nhau, cũng như vinh với nhục là chị em với nhau, đã có vinh thì có nhục , như người ta nói :

                                 Nước dưới sông có khi trong khi đục,
                                 Trang anh hùng có khi nhục khi vinh.
                                                   (Tục ngữ) 

    Xưa nay biết bao người không thành công, chí không đạt được, là vì bỏ cuộc giữa đường, thất vọng tràn trề khi gặp hết tai nọ đến nạn kia.  Người có chí phải bền gan gánh vác việc đời, bắt chước theo câu phương ngôn người Nhật :”Ngã xuống bảy lần, lần thứ tám đứng dậy “ mà hành động thì mới mong thành đạt.

    Ngày xưa, Hán Bái Công đánh với Hạng Vũ, trăm trận đều thua, vậy mà ông vẫn không hề thối chí, cho đến khi thắng trận cuối cùng thì thành được đế nghiệp.   Lưu Bị đời Tam quốc, lúc chưa gặp thời, lang thang ở trọ hết nơi này sang nơi khác, không mảnh đất dung thân, thất bại bao phen, nhiều lần suýt vong mạng, vậy mà vẫn bền gan chịu đựng cho đến ngày làm vua một cõi (Nguyễn văn Y, Có chí thì nên, 1971, tr 24-25).

    Muốn thành công phải chấp nhận thất bại vì như người ta thường nói :”Thất bại là mẹ thành công”. Đối với người hèn kém thì thất bại là cơ hội làm cho họ nhụt chí, còn đối với người hùng thì thất bại là dịp thúc đẩy họ tiến lên hơn.

    Vì thế, René Bazin, hàn lâm viện Pháp, có khuyên mọi người :”Đừng sợ thất bại. Lần thất bại thứ nhất cần phải có, vì nhờ đó mà ý chí ta thêm cứng cát. Lần thất bại thứ hai có thể có ích. Bị bại lần thứ ba mà anh vẫn đứng vững, thì anh thật là một người…, anh như chùm nho chín ở trên đá sỏi : Không có thứ nho nào ngọt hơn nữa”. 

    Hòn sỏi nào tròn trịa trơn láng mà chẳng phải chịu biết bao nhiêu sự  cọ xát từ tháng năm này sang tháng năm khác.  Con người muốn đạt được sự cao qúi của tâm hồn, học hỏi được kinh nghiệm sống, không thể chưa từng va chạm tới trăm đau nghìn khổ.  Xưa nay anh hùng hào kiệt, chí sĩ văn gia, những bậc tài hoa dường như đều trần ai như thế cả. Nếu mỗi lần gặp gian nguy, trở ngại mà lùi lại thì bao giờ mới đặt chân  được đến đài vinh quang  (Sđd, trang 27).

    Cũng trong tư tưởng ấy, Tổng thống Abraham Lincoln nói :”Điều mà tôi muốn hiểu trước hết, không phải là anh có thất bại không, mà là anh có biết chấp nhận sự thất bại của anh không”.

    Ông Henry Ford cũng khuyên :”Một cuộc thất bại chỉ là cơ hội để thử lại lần thứ nhì với nhiều khôn ngoan hơn”.


    2. Chuyển bại thành thắng

    Trong cuộc sống thường ngày cũng như trong đời sống thiêng liêng, chúng ta đã có kinh nghiệm : không thiếu gì thành công, nhưng cũng  chứa đầy thất bại. Có người vui sướng đón nhận những thành công và buồn rầu chấp nhận thất bại ; nhưng cũng có những con người xứng đáng là con người : đón nhận thành công nhưng cũng bình tĩnh và đôi khi vui lòng đón nhận thất bại. Đối với những con người này, họ coi thất bại chỉ là động lực khiến họ mạnh dạn tiến lên đến thành công. Thành thử, thất bại không còn gì là đáng sợ mà chỉ là cơ hội cho họ can đảm hơn.

     Ai cũng đã có lần thành công mỹ mãn, nhưng cũng đã có lần gặp những thất bại chua cay. Thất bại cũng có ý nghĩa của nó.

    Có hai loại thất bại :

                       – Thất bại khách quan (hay thụ động , tiêu cực).
    – Thất bại chủ quan (hay chủ động, tích cực).

    Thất bại khách quan: đó là những thất bại không thể tránh được vì nó vượt quá sức lực của con người. Đó là tình trạng bi đát, không còn cách nào tránh né và cũng không thể chỗi dậy được. Đối với những loại thất bại này, người ta chỉ thụ động chịu đựng ví dụ như bệnh tật, sa cơ thất thế, thua trận…

    Thất bại chủ quan  : đó là những thất bại có tính toán trước theo phương pháp :”Thả con tép, bắt con tôm” hay “Hy sinh đời bố, củng cố đời con”. Người ta sẵn sàng chịu những thất bại nhỏ để đạt tới những thành công lớn, hay ít ra chịu thất bại trước mắt để thành công trong tương lai. Như vậy, người ta không nhằm rước lấy thất bại những nhằm đón lấy thành công sau này.

    – Chúng ta đã có kinh nghiệm trong thể thao : muốn nhảy xa, muốn nhảy cao, người ta phải lùi lại nhiều bước rồi mới tiến lên, mới nhảy cao, mới nhảy xa được. Những bước lùi đó chính là những bước tiến, vì không có nó thì không thể nhảy cao, nhảy xa được.

    – Trong chiến trận cũng thế : đôi khi người ta phải giả vờ thua chạy tháo lui cho quân địch đuổi theo, khi quân địch lọt vào vòng vây, khi ấy người ta mới phản công, chiến thuật này rất nguy hiểm, đã bị lọt vào trong vòng vây, quân địch không còn cách nào tháo lui được nữa và chắc chắn người ta thành công.

    – Trong cuộc sống hằng ngày, người ta cần phải hiểu phương cách “Tiến thoái”. Tiến là đi lên, thoái là đi xuống hoặc rút lui. Có một sự tương quan biện chứng giữa tiếnlùi. Tiến chưa hẳn đã thắng và lùi chưa hẳn đã thua. Trong cái lùi đã có cái thắng. Như trong thể thao và trận chiến, chúng ta đã nhận thấy phải có lùi thì mới tiến được , lùi là điều kiện phải có để tiến, lùi đây là lùi chiến thuật. 

    Chúng ta thử xem câu nói này có đúng không ? Mới đọc xem ra vô lý, nhưng nếu suy nghĩ kỹ thì câu nói ấy rất hay. Đây là một kiểu nói bắt người đọc phải động não mới tìm ra ý nghĩa của nó :”

                       “Một ngàn việc tiến,
                       Chín trăm chín mươi chín việc lùi,
                       đó là TIẾN BỘ”.
                              (Henri Frédéric AMIEL)

    III. THẤT BẠI VÀ THÀNH CÔNG TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG 

    1. Chúa đã sống lại thật 

    Khi còn sinh thời, Đức Giêsu đã nhiều lần loan báo trước Ngài sẽ bị bắt, bị đánh đòn, bị giết chết và sau ba ngày thì sống lại. Sự kiện tiên tri Giona nằm trong bụng cá ba ngày và việc xây thành Giêrusalem  trong ba ngày đã là những hình ảnh báo trước việc Đức Giêsu sống lại sau ba ngày đã chết. Trên dương gian này, những ai đã chết là chết luôn, chỉ có Đức Giêsu mới có thể dùng quyền năng của mình mà tự sống lại.

    Đức Giêsu đã sống lại thế nào ? Ai đã khám phá ra điều này ? Cả bốn sách Tin mừng đều tường thuật về biến cố này, nhưng đều không cho biết Đức Giêsu đã sống lại thế nào. Vì thật sự, không  ai có mặt để chứng kiến biến cố lịch sử quan trọng này. Nhưng có những nhân chứng đã thấy ngôi mộ trống, họ quả quyết xác Chúa không còn trong mộ, và sau đó Chúa đã hiện ra nhiều lần với họ, xác nhận Ngài đã sống lại, đồng thời dạy bảo họ nhiều điều. Đó là các Tông đồ và một số phụ nữ… những nhân chứng về sự sống lại của Đức Giêsu.

    Như vậy, một điều chắc chắn : sự kiện Đức Giêsu phục sinh không thể minh chứng một cách rõ ràng như chúng ta minh chứng một biến cố, một sự kiện tự nhiên mà phải dùng đến đức tin. Cho nên, đối với chúng ta việc Chúa sống lại là vấn đề đức tin : phúc cho ai không thấy mà tin.

    1. Phải sống theo niềm tin ấy

     Trong mùa Phục sinh chúng ta vẫn đọc đi đọc lại câu :”Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa”. Chúng ta tin thật Đức Giêsu đã sống lại như lời minh chứng của Thánh Kinh, chúng ta hân hoan ca mừng việc Chúa sống lại vì Ngài đã chết để tiêu diệt sự chết và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Chúng ta tin chắc như vậy !

    Nhưng tin như thế vẫn chưa đủ, còn phải thể hiện niềm tin ấy ra trong cuộc sống hằng ngày. Phải theo gương Đức Giêsu mà chết đi để rồi mới sống lại được. Phần thưởng của chúng ta chỉ có được sau khi đã trải qua mọi thử thách trong cuộc sống ở trần gian này : per crucem ad lucem !

    a) Có những nghịch lý phải chấp nhận

    Chúng ta đã có một gương sán lạn của Đức Giêsu : Người đã chịu chết để chuộc tội cho nhân loại. Trước mặt người đời, người ta cho là Đức Giêsu đã thất bại hoàn toàn vì chết là một thất bại, mọi sự nghiệp đã tan thành mây khói. Nếu chết là hết mà không có sự sống lại thì Đức Giêsu bị thất bại hoàn toàn, nhưng sau cái chết đã có sự sống lại. Người đã dùng sự chết để đánh tan cái chết và sống lại để phục hồi sự sống lại cho chúng ta.  Vậy Ngài đã chuyển bại thành thắng, đã thành công trong thất bại. 

    Trong cuộc sống của chúng ta cũng thế, chúng ta phải chấp nhận hy sinh, phải lột bỏ con người cũ đầy tội lối để mặc lấy con người mới thánh thiện. Chúng ta có chết đi cho tội lỗi thì mới hy vọng được sống lại vinh quang như lời Chúa Giêsu đã nói :”Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được  nhiều hạt khác” (Ga 12,24).  Như vậy, chúng ta phải đón nhận những thất bại đời này để chuẩn bị cho đời sau. Đây chỉ là thất bại chiến thuật vì trong thất bại đã có chiến thắng.

    Trong cuộc sống  hằng ngày, chúng ta thấy có những nghịch lý. Nghịch lý là điều thoạt xem có vẻ phi lý nhưng khi suy nghĩ kỹ thì thấy rất hợp lý. Chúng ta thấy có nghịch lý giữa “mất” và được” hay giữa “bị và “được. Theo khuynh hướng tự nhiên thì ai cũng muốn “được” và sợ “mất”, muốn “sống” hơn là “chết”. Nhưng nghịch lý thay ! Nhiều khi vì “được” mà phải “mất”. Ví dụ : bạn muốn cho có một mùa bội thu thì hạt giống phải “bị” mục nát ra thì mới có thể “được” một mùa bội thu, nếu không “bị” thì cũng chẳng có “được”.

    Hay một ví dụ khác : trong một vụ tranh cãi bạn cố gắng dùng đủ mọi mưu mô để tranh cãi cho bằng được, kết quả là bạn thắng trong vụ cãi, nhưng mất tình nghĩa bạn bè hay người thân; trái lại, nhiều khi “mất” mà lại “được”. Ví dụ : thánh Anphongsô là một luật sư nổi tiếng. Một lần kia ngài biện hộ cho một vụ kiện lớn, ngài bị thua. Thất bại ê chề hôm đó đã giúp cho ngài nhận thức rằng danh vọng thế gian chỉ là giả trá, ngài đi tìm một lẽ sống khác và trở thành một vị thánh lập dòng (Cf Carôlô).

    Chúng ta cũng thấy có một nghịch lý nữa giữa “sống” và chết”. Chết và sống không phải là  hai điều luôn đối nghịch nhau, nhiều khi chúng liên kết hỗ trợ nhau : sự chết nuôi sự sống và sự sống sống được là nhờ sự chết. Ví dụ : con vật phải chết đi mới có thịt nuôi sống con người, hay cây nến  sáp phải chảy ra và bị đốt thì ánh sáng mới bùng lên soi sáng cho con người.

    Đối với cái chết của Chúa trên thập giá cũng vậy. Đức Giêsu chính là Đấng mà con rắn đồng trong sa mạc là hình ảnh loan báo trước :”Khi các ông đưa Con người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai”. Như thế việc Đức Giêsu chết trên thập giá không phải là một thất bại mà là một chiến thắng. Ngài không “bị” mà “được” đưa lên cao để trở thành nguồn ơn cứu độ cho những ai tin tưởng nhìn lên Ngài.

    Vì thế, chính khi Đức Giêsu “bị” giết chết trên thập giá là lúc Ngài “được” tôn vinh và là nguồn ơn cứu độ cho nhiều người. Khi chúng ta “bị” đau khổ nhưng biết nhìn lên thập giá Đức Giêsu  là lúc chúng ta “được” cứu độ. Nhìn ngược lại ngày xưa, khi nguyên tổ loài người tưởng mình “được” bằng Thiên Chúa thì lại “bị” đuổi ra khỏi vườn địa đàng.

    Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta hãy nghiền ngẫm câu nói của Đức Giêsu :”Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”(Ga 12,25).

    Như vậy, chúng ta thấy rõ tương quan giữa cái “mất” và cái “còn”.

                                 Truyện gợi ý : Phải biết tan biến đi

    Nếu Đức Giêsu là người Ả rập, thì thay vì hình ảnh của hạt lúa được gieo vào lòng đất, có lẽ Ngài sẽ kể câu truyện ngụ ngôn sau đây :

    Một dòng suối mát rơi từ ngọn núi, chảy qua một đồng bằng cho đến khi chạm đến một sa mạc. Tại đây, nó chợt nhận ra nước của mình bắt đầu bốc hơi và khô dần. Dù vậy, dòng nước vẫn quyết tâm băng qua sa mạc. Nó nghe có tiếng thì thầm :

    – Nếu ngươi muốn, ngươi có thể băng qua sa mạc được, bởi vì gió vẫn làm được điều đó.

    Dòng suối giận dữ :

    – Nhưng ta có phải là gió đâu ?

    Nó thấy gợi ý của tiếng thì thầm là điều ngu xuẩn, nhưng tiếng nói vẫn tỏ ra kiên nhẫn:

    – Gió sẽ mang ngươi đi. Dĩ nhiên với điều kiện là ngươi phải tan biến đi trong gió.

    Dòng suối suy nghĩ miên man về ý nghĩa này : nó vẫn chưa hiểu được  tại sao nó phải tan biến đi, phải chăng nó phải đánh mất chính mình ? Điều gì bảo đảm được rằng khi băng qua hết sa mạc, nó sẽ tìm lại được bản thân  một cách nguyên vẹn ? Đọc được ý nghĩ của nó, gió mới lên tiếng

    – Ngươi chỉ cần tin tưởng nơi ta, không còn cách nào khác nữa đâu.

    Dòng suối vẫn tiếp tục giữ giọng kiêu hãnh :

    – Đồng ý, nhưng ta không thể chấp nhận tan biến được.

    Tiếng nói thì thầm giải thích :

    – Ngươi không thể băng qua sa mạc mà vẫn giữ nguyên hình nguyên trạng được. Làm thế ngươi chẳng khác nào một con rắn xấu xí, nhưng nếu ngươi để cho gió mang ngươi đi xuyên qua sa mạc, thì bên kia sa mạc, ngươi sẽ hiện nguyên hình là một dòng suối xinh đẹp. Dòng suối thắc mắc:

    – Vẫn một dòng suối như cũ ư ?

    Giọng nói giải thích :

    – Dĩ nhiên, ngươi sẽ tìm gặp lại bản thân, tóm lại nếu ngươi cứ chần chừ đứng ở đây, ngươi cũng sẽ đánh mất chính mình ngươi mà thôi.

    Thế là dòng suối chấp nhận biến thành hơi nước và để cho gió mang đi. Nó cùng với gió băng qua sa mạc. Và khi cả hai đến đầu ngọn núi bên kia sa mạc, gió để cho nó rơi từ từ như mưa. Không mấy chốc, dòng suối gặp lại chính nó, đẹp hơn, trong suốt hơn (R. Veritas, Mạch nước trường sinh, tr 96-97).

    Hạt lúa có được gieo vào lòng đất để thối đi mới có thể sinh hoa kết quả. Dòng suối có chấp nhận tan biến trong gió mới có thể gặp lại bản thân. Đây là định luật của cuộc sống thiêng liêng mà Đức Giêsu đã vạch ra cho chúng ta. Đây  là con đường siêu thoát, con đường chiến đấu, ai muốn được sự sống đời đời không thể đi theo con đường nào khác.

    b) Chiến đấu không lùi bước

    Đức Giêsu đã chỉ đường dẫn lối cho chúng ta tiến tới cuộc sống đời đời. Con đường ấy là con đường khổ giá. Con đường từ bỏ, con đường siêu thoát chính mình, vì Đức Giêsu đã phán :”Ai muốn theo Ta hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”. Đấy là con đường một chiều, ai đã theo thì chỉ có tiến chứ không có lùi, như thế mới xứng đáng làm môn đệ của Chúa:”Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa”(Lc 9,62).

    Thập giá của Chúa trao không nặng lắm, luôn vừa sức ta, nhưng đòi hỏi ta phải kiên trì vác hằng ngày vì sự khốn khó ngày nào đủ cho ngày ấy. Hãy bắt tay vào việc ngay, đừng chần chừ, đừng để công việc hôm nay sang ngày hôm sau. Về vấn đề này, ta hãy nghe John Newton nói :

    Những khổ sở mà đời chúng ta phải chịu cũng giống như một bó củi rất to và rất nặng. Chắc chắn chúng ta không vác nổi. Nhưng Thiên Chúa đã thương tháo dây bó củi đó ra, rồi chia nó ra để mỗi ngày chỉ chất lên vai ta một khúc thôi. Hôm sau một khúc nữa, và hôm sau tiếp tục… Cuối cùng ta cũng vác xong hết bó củi. Nhiều người lại không làm như thế : chẳng những họ chất lên vai khúc củi của hôm nay mà còn thêm vào đó khúc củi của hôm qua và khúc củi của ngày mai. Lạ gì họ không vác nổi”. 

    Hãy tin tưởng cất bước, quyết không lùi trước những khó khăn. Phần thưởng chỉ dành cho những ai  chiến đấu và kiên trì cho đến cùng. Hãy tin tưởng vào Chúa, Đấng đã trải qua mọi khó khăn sẽ giúp đỡ chúng ta vượt qua mọi thử thách.  Trong cuộc chiến này, chúng ta chỉ biết tiến chứ không biết lùi.

                                          Truyện : Quên bài kèn rút lui.

    Trong một trận giao tranh ác liệt giữa quân của Napoléon và quân địch, trận chiến càng về khuya càng ác liệt và phần thắng dần dần nghiêng về phía địch. Quân của Napoléon chết rất nhiều, hàng ngũ rối loạn mặc dầu cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp tục nhưng rời rạc. Nhìn rõ thế trận, Napoléon biết phải làm gì, vua gọi tên lính thổi kèn lại gần và ra lệnh :”Hãy thổi kèn lui binh vì quân ta chết quá nhiều”.

    Tên lính trẻ được lệnh, nhảy tót lên ngựa, phi nhanh ra giữa trận, và đưa kèn lên thổi hồi kèn thúc trận một cách mạnh mẽ. Quân của Napoléon đang mệt mỏi và thất vọng, nghe tiếng kèn thúc quân, tưởng có viện binh tới giúp, chồm dậy phản công kịch liệt. Kèn cứ thổi, đám tàn quân vươn mình lên vừa đánh vừa la hét. Kết quả thế trận thay đổi : quân của Napoléon toàn thắng bất ngờ. Tuy nhiên, hoàng đế Napoléon sai bắt tên lính kèn kia lại, và khiển trách y rất nặng nề về tội bất tuân thượng lệnh. Anh lính bình tĩnh tâu:”Muôn tâu đức vua, từ khi được theo bước chân ngài trong binh lửa, và chiến đấu trăm trận đều trăm thắng cho nên hạ thần đã quên hẳn bài kèn rút lui rồi”.

    Muốn có chiến thắng thì phải chiến đấu. Chiến đấu càng cam go, chiến thắng càng vinh quang. Không có thành công nào mà không đòi cố gắng. Thành công của chúng ta là biết lắng nghe và thi hành thánh ý Chúa. Để giúp chúng ta biết cách kiên trì sống theo thánh ý Chúa với niềm tin tưởng trong gian truân, chúng ta hãy đọc đoạn thư của thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Do thái sau đây:

    “Anh em đã quên lời khuyên nhủ được nói với anh em như với những người con : Con ơi, đừng coi nhẹ Lời Chúa sửa dạy, chớ nản lòng khi Người khiển trách. Vì Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt. Anh em hãy kiên trì cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy ? Nếu anh em không được sửa dạy như tất cả mọi người, thì khi đó anh em là con ngoại hôn, chứ không phải là con chính thức. Vả lại, chúng ta có cha trần thế sửa dạy mà chúng ta vẫn tôn kính, thì chúng ta lại càng phải tùng phục Cha trên trời để được sống. Cha trần thế sửa dạy chúng ta trong một thời gian ngắn, và theo sở thích của mình ; còn Thiên Chúa sửa dạy là vì lợi ích của chúng ta.

     

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà lạt

    ……………………..

    Suy Niệm 4: Tôi đã thấy Chúa

    Bài Phúc âm hôm nay tường thuật về biến cố Phục sinh. Nhưng nếu ai để ý nghe sẽ nhận thấy tác giả nói đến hai cảm nghiệm về Phục sinh: Một bên là cảm nghiệm của hai người đàn ông, Phêrô và Gioan. Mặt khác là cảm nghiệm của một người đàn bà, Maria Mácđala. Những cảm nghiệm này hoàn toàn khác biệt – giống như mặt trời với mặt trăng. Đàn ông với đàn bà khác nhau như thế nào thì cảm nghiệm của họ cũng giống như thế! Nhưng ngay chính sự khác biệt này có thể giúp chúng ta khám phá ra, đâu là điểm then chốt của Tin mừng Phục sinh.

    Trước tiên chúng ta chú tâm tới cảm nghiệm của đàn ông. Sau khi Maria ra thăm mộ, thấy vị trí của viên đá lấp cửa mộ thay đổi, bà liền chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Hai ông vội vã chạy ra xem. Gioan còn trẻ, nhanh tay lẹ chân hơn nên chạy đến trước. Theo lẽ thường tình, kẻ nào đến trước nhất, kẻ đó có quyền vẽ vời. Gioan có thể bước vào huyệt mộ để quan sát tất cả. Nhưng ông không làm như thế. Ông tôn trọng nguyên tắc: “Kính lão đắc thọ”. Ông đứng đó đợi. Có lẽ ông không kém phần tò mò hơn Phêrô nhưng ông sẵn sàng chờ đợi kẻ cao niên đuối sức hơn. Cuối cùng thì Phêrô cũng tới nơi, với hơi thở dồn dập ông đi thẳng vào trong mộ, không một lời cám ơn kẻ đã chờ đợi và dành quyền ưu tiên cho mình. Phêrô giống như một nhân viên thanh tra. Ông quan sát từng chi tiết một. Theo ông nghĩ, niềm tin phải dựa trên nền tảng của lý trí. Không ai được phép nhẹ dạ tin bừa bãi, không cân nhắc trước sau. Niềm tin không thể chống lại lý trí. Ai nói tôi tin cũng phải có khả năng trả lời rằng tại sao tin. Sau khi quan sát kỹ lưỡng ông thẩm định rằng: mọi sự dường như được sắp xếp có trật tự, đâu ra đấy! Khăn che đầu không để lẫn với các băng vải. Tất cả đều mâu thuẫn với lời nhận định của Maria. Nếu như có ai đến lấy trộm xác, kẻ ấy sẽ không tháo những băng vải cuốn chung quanh; kẻ ấy cũng không  cẩn  thận  gấp những băng vải đó lại. Chắc chắn không thể nói là ăn trộm! Không có gì chứng tỏ có ai đó đến xê dịch hoặc ăn trộm xác. Phải chăng người chết đã sống lại, điều này chính ông lại chẳng nghĩ ra!

    Giữa lúc đó chính Gioan cũng bước vào. Phúc âm nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai người và nói về ông: “Ông đã thấy và đã tin”. Chỉ có lòng tin của Gioan được nói tới. Phêrô không hề được đá động đến. Phêrô chỉ nhìn những vật chứng trong mộ và ghi nhận tất cả giống như máy chụp hình. Đang khi đó Gioan nhìn thấy nhiều hơn, bởi vì ông nhìn bằng ánh mắt của con tim. Ông có linh cảm rằng, đã có một biến cố ngoài sức tưởng tượng đã xảy ra ở đây. Lòng yêu mến của ông đã giúp ông nhận biết, kẻ chết đã sống lại. Quả thật, lý trí không thể cưỡng cầu, nhưng tại sao con tim tin, thì chẳng ai giải thích nổi. Con tim có những lý lẽ mà lý trí không tài nào biết được! Mặc dầu vậy, Gioan chỉ hiểu lờ mờ. Niềm vui Phục sinh không hề tỏ lộ nơi hai ông. Hai ông trở về nhà với muôn vàn khúc mắc, bởi vì chưa hiểu lời Kinh thánh.

    Chuyện gì xảy ra với Maria lúc đó? Bà cùng chạy ra mộ. Nhưng bà bị đám đàn ông bỏ rơi lại một mình! Bà đứng khóc bên ngoài, gần bên mộ. Bà chưa kịp giác ngộ, ngôi mộ trống là dấu chỉ nói rằng kẻ chết đã sống lại! Có lẽ nước mắt làm mờ đôi mắt. U sầu biến trái tim thành câm nín. Đau khổ đè nặng đôi vai không thể ngước nhìn lên. Chỉ có một tia hy vọng mong manh nhưng nước mắt đã lấp che tất cả! Bà phải quay đầu lại. Bà phải đổi hướng để Đức Giêsu có thể đích danh gọi tên bà. Bà nhận ra Ngài, muốn được ở gần bên. Cảnh tang tóc nơi bà tan biến. Niềm vui xác định lối suy nghĩ và hành động. Cảm nghiệm Phục sinh của Maria là thế, không thể khác được. Bà giống như bị sét đánh qua cái chết của Đức Giêsu. Bà than khóc bên mộ. Phúc âm đã hai lần nhấn mạnh rằng bà khóc. Đây chính là điểm then chốt của Tin mừng Phục sinh: Chỉ những ai bị cái chết của Đức Giêsu đánh động tận tâm can, mới có thể mừng Ngài sống lại.

    Hằng năm chúng ta mừng lễ Phục sinh. Nhưng ai trong chúng ta thực sự bị biến cố Phục sinh  đánh  động.  Tin mừng Phục sinh muốn nhắc nhở chúng ta điều này. Đại lễ Phục sinh là một ngày lễ mà mỗi người trong chúng ta được Đấng Phục sinh gọi đích danh, giống như Maria. Lời gọi đích danh này lần đầu tiên đã xảy ra ngày chúng ta chịu bí tích Rửa tội. Hôm nay, chúng ta lặp lại lời tuyên hứa của ngày đó. Cuộc gặp gỡ với Đấng Phục sinh sẽ biến đổi cục diện của cuộc sống chúng ta. Chúng ta sẽ được đầy tràn niềm vui và do đó có thể thốt lên như Maria: “Tôi đã thấy Chúa”.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

                                                                      

                                                                      

                                

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com