spot_img
Thêm

    CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY A

    BÀI ĐỌC I: Xh 17, 3-7

    Trong những ngày ấy, dân chúng khát nước, nên phàn nàn với ông Môsê rằng: “Tại sao ông dẫn dắt chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để cho chúng tôi cùng con cái và đoàn súc vật chúng tôi phải chết khát như vầy”. Môsê kêu lên cùng Chúa rằng: “Con sẽ phải làm gì cho dân này? Còn một chút nữa là họ ném đá con rồi”. Chúa liền phán bảo Môsê: “Ngươi hãy tiến lên, đi trước dân chúng và dẫn các bậc kỳ lão Israel đi theo, tay ngươi cầm gậy mà ngươi đã dùng mà đánh trên nước sông. Này đây, Ta sẽ đứng trước mặt ngươi, trên tảng đá Horeb, ngươi sẽ đánh lên tảng đá, từ tảng đá nước sẽ chảy ra cho dân uống”. Môsê làm các điều nói trên trước mặt các bậc kỳ lão Israel. Ông đặt tên nơi đó là “Thử Thách”, vì con cái Israel đã phàn nàn và thách thức Chúa mà rằng: “Chúa có ở với chúng tôi hay không?”

    BÀI ĐỌC II: Rm 5, 1-2. 5-8

    Anh em thân mến, khi được đức tin công chính hoá, chúng ta được hoà thuận với Chúa nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Ðấng cho chúng ta nhờ đức tin mà tiến đến ân sủng, đứng vững ở đó, và được hiển vinh trong niềm hy vọng vinh quang của con cái Chúa. Nhưng cậy trông không làm hổ thẹn, vì lòng mến Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Ðấng đã được ban cho chúng ta. Ngay từ khi chúng ta còn yếu hèn, Chúa Kitô theo kỳ hẹn mà chịu chết vì chúng ta là kẻ tội lỗi. Ít có ai chết thay cho người công chính, hoạ chăng mới có người dám chết vì kẻ lành. Nhưng Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta.

    PHÚC ÂM: Ga 4, 5-42 (bài dài)

    Khi ấy, Chúa Giêsu tới một thành gọi là Sykar thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng của Giacóp. Chúa Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu. Một người đàn bà xứ Samaria đến xách nước, Chúa Giêsu bảo: “Xin bà cho tôi uống nước” (lúc ấy, các môn đệ đã vào thành mua thức ăn). Người đàn bà Samaria thưa lại: “Sao thế! Ông là người Do-thái mà lại xin nước uống với tôi là người xứ Samaria?” (Vì người Do-thái không giao thiệp gì với người Sa-maria). Chúa Giêsu đáp: “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà: “Xin cho tôi uống nước”, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống”. Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, Ngài không có gì để múc, mà giếng thì sâu, vậy Ngài lấy đâu ra nước? Phải chăng Ngài trọng hơn tổ phụ Giacóp chúng tôi, người đã cho chúng tôi giếng này và chính người đã uống nước giếng này cũng như các con cái và đoàn súc vật của người?” Chúa Giêsu trả lời: “Ai uống nước giếng này sẽ còn khát, nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa, vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời”. Người đàn bà thưa: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi chẳng còn khát và khỏi phải đến đây xách nước nữa”. Chúa Giêsu bảo: “Bà hãy đi gọi chồng bà rồi trở lại đây”. Người đàn bà đáp: “Tôi không có chồng”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Bà nói “tôi không có chồng” là phải, vì bà có năm đời chồng rồi, và người đàn ông đang chung sống với bà bây giờ không phải là chồng bà, bà đã nói đúng đó”. Người đàn bà nói: “Thưa Ngài, tôi thấy rõ Ngài là một tiên tri. Cha ông chúng tôi đã thờ trên núi này, còn các ông, các ông lại bảo: phải thờ ở Giêrusalem”. Chúa Giêsu đáp: “Hỡi bà, hãy tin Ta, vì đã đến giờ người ta sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải ở trên núi này hay ở Giêrusalem. Các người thờ Ðấng mà các người không biết, còn chúng tôi thờ Ðấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ từ dân Do-thái mà đến. Nhưng đã đến giờ, và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn. Thiên Chúa là tinh thần, và những kẻ tôn thờ Người, phải tôn thờ trong tinh thần và trong chân lý”. Người đàn bà thưa: “Tôi biết Ðấng Messia mà người ta gọi là Kitô sẽ đến, và khi đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự”. Chúa Giêsu bảo: “Ðấng ấy chính là Ta, là người đang nói với bà đây”. Vừa lúc đó các môn đệ về tới. Các ông ngạc nhiên thấy Ngài nói truyện với một người đàn bà. Nhưng không ai dám hỏi: “Thầy hỏi bà ta điều gì, hoặc: tại sao Thầy nói truyện với người đó?” Bấy giờ người đàn bà để vò xuống, chạy về thành bảo mọi người rằng: “Mau hãy đến xem một ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Phải chăng ông đó là Ðấng Kitô?” Dân chúng tuôn nhau ra khỏi thành và đến cùng Ngài, trong khi các môn đệ giục Ngài mà rằng: “Xin mời Thầy ăn”. Nhưng Ngài đáp: “Thầy có của ăn mà các con không biết”. Môn đệ hỏi nhau: “Ai đã mang đến cho Thầy ăn rồi chăng?” Chúa Giêsu nói: “Của Thầy ăn là làm theo ý Ðấng đã sai Thầy và chu toàn công việc Ngài. Các con chẳng nói: còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt đó ư? Nhưng Thầy bảo các con hãy đưa mắt mà nhìn xem đồng lúa chín vàng đã đến lúc gặt. Người gặt lãnh công và thu lúa thóc vào kho hằng sống, và như vậy kẻ gieo người gặt đều vui mừng. Ðúng như câu tục ngữ: Kẻ này gieo, người kia gặt. Thầy sai các con đi gặt những gì các con không vất vả làm ra; những kẻ khác đã khó nhọc, còn các con thừa hưởng kết quả công lao của họ”. Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng: “Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm”. Khi gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và Người đã ở lại đó hai ngày, và vì nghe chính lời Người giảng dạy, số những kẻ tin ở Người thêm đông hẳn, họ bảo người đàn bà: “Giờ đây, không phải vì những lời chị kể mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã được nghe lời Người và chúng tôi biết Người thật là Ðấng Cứu Thế”.

    Suy Niệm 1: KHÁT VÀ NO THOẢ CƠN KHÁT…

    Dân khát nước trong sa mạc. Vấn đề ở đây là thiếu nước uống. Họ kêu trách Chúa, nghĩ rằng Chúa không còn quan tâm đến họ và không trách nhiệm trên vấn đề của họ. Chúa chứng tỏ rằng Ngài vẫn quan tâm – Ngài cho nước chảy ra từ tảng đá. Dân được thoả cơn khát. Nhưng Chúa phiền lòng vì sự cứng cỏi nơi họ. Cả ông Mô sê cũng cho thấy niềm tin của mình bị lung lay trong câu chuyện đập gậy vào tảng đá!… (x. Xh 17,3-7).
    Từ quan điểm của Thiên Chúa, tình trạng thiếu nước uống – ngay cả thiếu nước giữa sa mạc – không phải là vấn đề. Chính sự cứng lòng của dân, việc họ kêu trách và thử thách Chúa, mới thật sự là vấn đề. Lời Thánh vịnh 94 (Đáp ca) giúp chúng ta nhận diện rõ vấn đề này: “Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Người: ‘Ðừng cứng lòng như ở Mêriba, như hôm ở Massa trong khu rừng vắng, nơi mà cha ông các ngươi đã thử thách Ta, họ đã thử Ta mặc dầu đã thấy công cuộc của Ta’”.
    Đáng lẽ cơn quẫn bách thiếu nước ấy là cơ hội để dân Chúa diễn tả niềm tin tưởng vào Ngài, thì thật tiếc là trong thực tế nó trở thành nguyên nhân khiến họ trách cứ và thách thức Thiên Chúa của họ. Câu chuyện của Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari bên giếng Gia cóp cũng khởi đi từ vấn đề nước uống hằng ngày và đã được dẫn tới mặc khải Nước Hằng Sống. Ban đầu trong cuộc chuyện, người phụ nữ cũng suy nghĩ quanh quẩn nhu cầu nước uống tự nhiên mà thôi. Nhưng Chúa Giêsu đã gợi mở cho chị về chính Người là nguồn Nước Hằng Sống, lấp đầy mọi cơn khát thâm sâu nhất của chị và của mọi con người. Chị đã tin vào Chúa Giêsu, và đã lan truyền cho cả làng đến gặp Chúa và tin vào Chúa. Cả làng được thoả cơn khát thâm sâu nhất từ nguồn nước Giêsu. Không có cái kết nào tuyệt vời hơn (x. Ga 4,5-42).
    Điều tuyệt vời ấy cũng sẽ được chúng ta kinh nghiệm, nếu chúng ta cũng chia sẻ với người phụ nữ và dân làng của chị trong hai điều này: một là CƠN KHÁT tâm linh, hai là GẶP CHÚA GIÊSU! Cơn khát tâm linh thực ra vốn là cảm thức được ban sẵn cho mọi người, chúng ta chỉ cần gìn giữ cảm thức này, đừng để nó bị lấn át và bị dập tắt bởi những nhu cầu và những bận tâm trước mắt, ngay cả những mối lo khẩn thiết về cơm áo gạo tiền… Cũng vậy, khả năng gặp gỡ Chúa Giêsu được mở ra cho chúng ta qua Lời Chúa, qua Thánh Thể Chúa, qua cử hành Phụng vụ trong cộng đoàn, qua tâm nguyện cá nhân, qua các biến cố, qua anh chị em nghèo hèn bé mọn… Nói chung, qua Thánh Thần của Người, chính Chúa Phục sinh không ngừng chủ động đến gặp chúng ta bằng muôn vàn cách thế, để lấp đầy cơn khát sâu thẳm nhất trong tâm hồn chúng ta…
    Khát Chúa, no thoả cơn khát nhờ gặp Chúa, thì chúng ta được biến đổi thế nào? Thánh Phaolô trả lời: “Chúng ta được Thiên Chúa đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta”! (x. Rm 5,1-2.5-8). Câu này cần chú giải: không chỉ có nghĩa rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, mà quan trọng hơn, Thiên Chúa “đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta” nghĩa là ban cho ta khả năng yêu thương như Ngài! Ta sẽ biết cách yêu thương chân thực nhất, đúng đắn nhất – chứ không phải là ngàn lẻ một cách yêu méo mó và đầy khiếm khuyết của con người như ta thường kinh nghiệm…
    Tất cả phụ thuộc vào một ‘chìa khoá’ là Chúa Giêsu Kitô!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
    ………………………..
    Suy Niệm 2: CHÚA GIÊSU MẠCH SUỐI TUÔN TRÀN

    Ai trong chúng ta cũng đã trải qua một cơn khát. Khi khát chúng ta mới thấy nước có giá trị như thế nào. Như chúng ta biết, con người bao gồm cả xác lẫn hồn. Giống như thân xác khát, thì linh hồn cũng khát. Lời Chúa ngày hôm nay chỉ ra cho chúng ta hai loại khát và hai loại nước có thể làm thoả mãn cơn khát. Trong bài đọc 1, Dân Israel khát nước cho thân xác của mình và họ đã kêu trách Môsê: “Trong sa mạc, dân khát nước nên đã kêu trách ông Môsê rằng: ‘Ông đưa chúng tôi ra khỏi Aicập để làm gì? Có phải là để cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và súc vật của chúng tôi bị chết khát hay không?’” (Xh 17:3). Qua việc kêu trách Môsê, dân tỏ ra thiếu sự tin tưởng vào Đức Chúa, Đấng chọn Môsê làm người đại diện Ngài ở giữa dân. Họ đã thử thách và gây sự với Đức Chúa mà rằng: “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không?” (Xh 7:17). Nhưng Đức Chúa thương dân Ngài và ban cho họ nước uống để thoả mãn cơn khát thể xác của họ: “Đức Chúa phán với ông Môsê: ‘Ngươi hãy đi lên phía trước dân, đem theo một số kỳ mục Israel; cầm lấy cây gậy ngươi đã dùng để đập xuống sông Nin, và đi đi. Còn Ta, Ta sẽ đứng ở đằng kia trước mặt ngươi, trên tảng đá ở núi Khôrếp. Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống’” (Xh 17:5-6). Trình thuật này phản ánh chính lịch sử cuộc sống mỗi người chúng ta. Cũng đã nhiều lần vì thiếu thốn những nhu cầu vật chất trong cuộc sống mà chúng ta gây sự và thử thách Chúa. Nhiều người kêu trách và đánh mất niềm tin vào Chúa. Nhưng dù cho chúng ta có bỏ Ngài, Đức Chúa vẫn âm thầm dõi theo bước chúng ta và ban cho chúng ta những thứ chúng ta cần cho cuộc sống. Ngài luôn mời gọi chúng ta vượt qua những cơn khác thể xác, để nhìn thấy cơn khác của linh hồn mà chỉ mình Ngài mới có thể thoả mãn cho chúng ta.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô trìnhh bày cho các tín hữu Rôma về tầm quan trọng của Đức Tin. Chỉ trong đức tin, người Kitô hữu được làm cho công chính và “được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5:1). Dưới ánh sáng đức tin, người Kitô hữu nhận ra rằng Đức Giêsu đã mở lối cho họ vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, mang lại cho họ niềm tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa và nhất là họ sẽ không bao giờ phải thất vọng vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (x. Rm 5:2-5). Cuối cùng, đức tin làm cho người Kitô hữu nhận ra rằng “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5:8). Đây cũng chính là lời mời gọi cho các Kitô hữu biết sẵn sàng chết cho những người làm cho mình đau khổ. Tóm lại, thước đo chiều sâu của tình yêu chính là việc sẵn sàng yêu không chỉ những người tốt, những người mình thích, nhưng yêu ngay cả những người xấu, những người mình không thích và nhất là những người đã xúc phạm mình và làm cho mình bị tổn thương.

    Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại cho chúng ta về cuộc gặp gỡ đối thoại của Chúa Giêsu với người phụ nữ Samaria tại giếng Giacóp và những người Samaria khác. Trình thuật này đạt tới đỉnh cao trong lời khẳng định mang tính Kitô học, đó là Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian (x. Ga 4:42). Trước đó, chúng ta thấy sự trông chờ Đấng Cứu Thế của những người Samaria được trình bày qua việc phác hoạ Chúa Giêsu là ngôn sứ giống Môsê. Điểm đáng lưu ý là bài Tin Mừng tập trung vào công việc rao giảng Tin Mừng. Chúng ta nhận ra điều này trong hình ảnh người phụ nữ Samaria được trình bày như là ‘nhà truyền giáo đầu tiên’ và trong cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ (x. câu 31-38) cũng tập trung vào ‘mùa gặt.’ Cấu trúc của bài Tin Mừng gồm ba cuộc đối thoại và: (1) đối thoại về nước hằng sống (câu 6-15); (2) đối thoại về Đấng Messia và là ngôn sứ (câu 16-26); đối thoại về mùa gặt với các môn đệ (câu 27-38), và (4) trình thuật về những người tin Samaria (câu 39-42).

    Trình thuật Tin Mừng bắt đầu với bối cảnh là: “Khi ấy, Đức Giêsu đến một thành xứ Samari, tên là Xykha, gần thửa đất ông Giacóp đã cho con là ông Giuse. Ở đấy, có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa” (Ga 4:5-6). Chi tiết chúng ta lưu ý đầu tiên là hình ảnh cái “giếng của ông Giacóp. Trong truyền thống Kinh Thánh, giếng đóng một vai trò quan trọng trong những chuyện tình: Ông nô bộc của Ápraham tìm thấy Rêbêca để làm vợ của Isaác tại giếng nước, Giacóp gặp con gái của Laban tại giếng nước, Môsê gặp các con gái của Reuel cũng tại giếng nước. Và hôm nay, giữa trưa nắng hai người lạ mặt gặp nhau để bắt đầu một cuộc tình thật đẹp trong hành trình đức tin. Hành trình đức tin của người phụ nữ Samaria cũng là trình đức tin của mỗi người chúng ta. Đức tin của người phụ nữ Samaria vào Chúa Giêsu trở nên sâu đậm hơn khi bà đáp lại lời của Chúa Giêsu, để cho Chúa vén mở cuộc đời của mình, và nhất để cho Ngài khát một tình yêu chân thật mà bà đang tìm kiếm được diễn tả trong khao khát thờ phượng Thiên Chúa cách đích thật. Chúa Giêsu cũng khao khát tình yêu, khao khát đức tin của chúng ta mỗi giây phút. Liệu chúng ta có đáp lại Ngài hay không?

    Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaria có thể được xem là một hành trình đức tin bao gồm những yếu tố sau: (1) Chúa Giêsu mở lời mời gọi [“Chị cho tôi xin chút nước uống!”]; (2) người phụ nữ Samaria có thái độ nghi ngờ, không muốn đáp lại [“Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?”]; (3) Chúa Giêsu giải thích [“Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống,’ thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống”]; (4) người phụ nữ Samaria đặt nghi vấn dựa trên lời giải thích [“Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Giacóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”]; (5) Chúa Giêsu tiếp tục giải thích, nhưng đưa người phụ nữ lên một cấp độ cao hơn của đức tin [“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.”]; (6) người phụ nữ bày tỏ sự khao khát để tin [“Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”]; (7) Chúa Giêsu mời gọi người phụ nữ đến việc thờ phượng trong thần khí và sự thật; (8) người phụ nữ đáp lại và đi làm chứng về Chúa Giêsu [“Người phụ nữ để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?”]. Những chi tiết trên phác thảo hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Thiên Chúa luôn kiên nhẫn giải thích những thắc mắc của chúng ta. Điều quan trọng ở đây là liệu chúng ta có kiên nhẫn đủ để ở bên Ngài, lắng nghe lời giải thích của Ngài và đáp lại hay không? Đỉnh cao của đức tin chính là hành vi tuyên xưng, thờ phượng và làm chứng. Nói cách khác, đức tin của chúng ta phải là một đức tin sống động được diễn tả qua đời sống thờ phượng và đời sốnh phục vụ. Đức tin không có việc làm là đức tin chết! Đây chính là sứ điệp của Chúa Nhật thứ ba Mùa Chay: Chúa Giêsu khát những con người có đức tin sống động được diễn tả qua đức ái và đức cậy.

    Lm. Anthony, SDB.

    ……………………………..

    Suy Niệm 3: KHÁT KHAO NƯỚC HẰNG SỐNG

    A. DẪN NHẬP

    Trong sa mạc khô cháy, nước là một nhu cầu khẩn thiết cho cuộc sống. Dân Israel thiếu nước trầm trọng trong sa mạc. Thiên Chúa đã thỏa mãn nhu cầu của họ bằng cách truyền cho ông Maisen lấy gậy đập vào tảng đá, nước tuôn trào lai láng cho dân và đàn gia súc giãn cơn khát (Bài đọc 1). Tuy nhiên, nước đó mới là nước vật chất làm thỏa mãn thể xác được chốc lát, Đức Giêsu tại bờ giếng Giacóp còn giới thiệu cho người phụ nữ Samaria một thứ nước khác, một thứ nước uống vào sẽ không bao giờ khát nữa, nước đó là Nước Hằng Sống. Chúa sẽ ban thứ nước ấy cho những ai biết tin nhận Đức Giêsu vì chính Ngài là nguồn nước trường sinh.

    Ai trong chúng ta mà không khát nước ? Không có nước, con người không thể sống được. Vì vậy người ta đang có nỗ lực tạo ra những nguồn nước sạch cung cấp cho cuộc sống hằng ngày, và nhu cầu tiêu thụ nước càng ngày càng tăng, càng cấp bách. Nhưng đó chỉ là nước vật chất nhằm thỏa mãn nhữnng cơn khát của thân xác, uống vào vẫn còn khát.

    Ngòai ra, người ta còn những cơn khát khác, đó là khát vọng tinh thần, những khát vọng vô biên, cần phải được thỏa mãn. Như trường hợp người phụ nữ Samaria, mặc dù ở bên giếng nước mà cõi lòng vẫn còn khát và cơn khát ấy chỉ có thể được thỏa mãn bằng một thứ nước siêu nhiên là nước Hằng sống mà Chúa Giêsu ban cho. Chúng ta cũng hãy khao khát đi tìm Chúa là nguồn nước hằng sống để được thỏa mãn cơn khát vọng vô biên, như đàn nai tìm đến suối nước trong, vì chính Chúa mới có thể thỏa mãn được mọi khát vọng của con người:

                                          Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi
                                       Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.
                                                       (Tv 61,2)


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Xh 17,3-7.

    Thiên Chúa yêu thương dân Israel, đã chọn họ làm dân riêng của Ngài, nên đã giải phóng họ khỏi ách nô lệ của người Ai cập. Trên cuộc hành trình về Đất hứa, Ngài đã nuôi dân bằng manna và chim cút, nhưng sau đó dân chúng thiếu nước uống. Họ cằn nhằn trách móc ông Maisen, họ nổi lọan định ném đá ông và định quay trở về Ai cập. Chúa đã can thiệp cho dân có nước uống. Theo lệnh của Chúa, ông Maisen lấy gậy đập vào tảng đá ở Horeb, nước liền chảy ra lai láng, dân chúng và đàn vật được uống thỏa thuê. Cũng chính nơi này, ông Maisen gọi là Meriba và Massa, có nghĩa là nơi dân Israel đã nổi lọan và thử thách Chúa.

    Nhờ sự kiện này mà dân tin tưởng là Thiên Chúa luôn hiện diện bên họ, nâng đỡ họ, bênh vực họ và đưa họ về Đất hứa chảy sữa cùng mật.

    + Bài đọc 2 : 5,1-2.5-18.

    Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô cho biết : Tình yêu Thiên Chúa là nền tảng niềm cậy trông. Dù gặp bao gian nan thử thách trong cuộc sống, ngài luôn tin tưởng vào Đức Kitô,  chấp nhận tất cả để chỉ có một khát vọng là loan báo Tin mừng cho lương dân… Khi  đã được trở lại với Chúa, Ngài chỉ còn biết sống cho Chúa Kitô, đồng lao cộng khổ với Ngài, cố gắng trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài nên đã nói :”Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà Đức Kitô sống trong tôi”. Với Đức Kitô sống trong mình, thánh Phaolô đã trở nên  một nguồn nước phong phú cứ muốn vọt ra. Niềm khao khát rao giảng Đức Kitô cho người khác đã thúc bách Ngài :”Caritas Christi urget me”.

    + Bài Tin mừng : Ga 4,5-42.

    Bản văn Tin mừng hôm nay là một trong những đọan hay nhất và đẹp nhất của Tin mừng theo thánh Gioan. Ở đây ghi lại một cách thi vị và đầy tình người cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ ở giếng Giacóp. Không ngờ, ban đầu Đức Giêsu xin người phụ nữ Samaria cho nước uống, rồi qua câu chuyện trao đổi, Ngài lại mạc khải cho chị ta  một thứ nước uống, uống vào sẽ không bao giờ khát, đó chính là nước Trường sinh :”Ai uống nước này sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy  một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời”(Ga 4,13).

    Qua lời hứa trên, Đức Giêsu cho biết Thiên Chúa không phải là một kẻ đối diện, không chỉ ở núi Garazim hay trong đền thờ Giêrusalem nữa, mà ở ngay trong chính con người chúng ta, làm thành một nguồn nước vọt ra sự sống đời đời. Hãy tin tưởng và trông cậy vào Ngài vì chính Ngài là nguồn nước trường sinh.

    Qua câu chuyện trên, không những chị phụ nữ Samaria đã nhận biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, chị còn loan báo cho dân làng nhận biết Đức Giêsu là Đấng  mang lại ơn cứu độ, vì họ đã được mắt thấy tai nghe, không cần phải dựa vào lời chị phụ nữ nữa. Chúng ta cũng phải đi loan báo Đức Giêsu cho những người khác như vậy.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                              Niềm khát vọng của chúng ta

    I. ĐỨC GIÊSU HỨA BAN NƯỚC HẰNG SỐNG

    1. Tình hình tại vùng Samaria

    Vào thời Đức Giêsu, xứ Palestina kéo dài từ bắc xuống nam dài gần 200 cây số, chia thành ba vùng : phía bắc là Galilea, phía nam là Giuđêa, và giữa hai phần đó là Samaria. Con đường ngắn nhất từ Giuđea đến Galilea là đi ngang qua xứ Samaria, mất khỏang ba ngày. Nếu muốn tránh Samaria thì phải đi đường vòng qua sông Giorđan thì xa gấp đôi. Đức Giêsu đã chọn đi con đường ngắn này.

    Người Samaria nguyên gốc là người Do thái, nhưng do cuộc sống chuyển biến, họ có nhiều liên hệ với ngọai bang nên bị người Do thái cho là lai căng, thậm chí là bội giáo, và thường khinh thị, không muốn giao tiếp. Vì thế, luật sĩ Do thái quen nói :”Nước người Samaria ô trọc hơn tiết heo”.

    Nghe tin Gioan Tẩy giả bị bắt giam, Đức Giêsu quyết định rời Giuđea, vì người biệt phái tỏ ra ghen tức, nghi kỵ, phản kháng (Ga 4,1). Ngài đã dùng con đường ngắn nhất để đi đến miền Galilêa là đi ngang qua Samaria. Đức Giêsu  đã làm một cuộc hành trình đi Galilêa theo như Gioan viết :”Đức Giêsu tới thành gọi là Sikha thuộc xứ Samaria, gần phần đất Giacóp đã cho con là Giuse, ở đó có giếng Giacóp, Đức Giêsu đi đường mệt, nên ngồi nghỉ trên miệng giếng, lúc đó vào khỏang giờ thứ sáu”(Ga 4,5-6).

    1. Đức Giêsu xin nước uống

    Giếng Gacóp này sâu 32 mét, phải có dây và gầu mới múc được nước. Đức Giêsu đang ngồi nghỉ mệt trên miệng giếng thì có một người phụ nữ ra múc nước. Ngài nói với chị ta :”Cho tôi chút nước uống”. Câu nói này có vẻ tự nhiên, nhưng theo tục lệ lúc bấy giờ thì thật lạ tai đối với nhiều người và không thể chấp nhận được. Đức Giêsu biết thế Ngài điềm nhiên phá bỏ tập tục đó. Đây là lần đầu tiên, song không phải là lần cuối. Các tông đồ cũng ngạc nhiên về chuyện này.

    Còn đối với chị phụ nữ này, lời nói của Đức Giêsu cũng làm cho chị ta kinh ngạc, quay lại hỏi :”Tôi là người Samaria và ông là người Do thái, sao ông lại xin tôi cho ông uống nước”? Tác giả Gioan giải thích cho những độc giả Hy lạp của ngài rằng : người Do thái và Samaria vốn không giao tiếp với nhau. Đức Giêsu đã trả lời với chị ta :”Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị : cho tôi chút nước uống với, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống”.

     

    1. Đức Giêsu ban nước hằng sống

    Chị phụ nữ còn đang thắc mắc về câu nói của Ngài, Đức Giêsu trả lời tiếp cho chị :”Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho  sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”(Ga 4,4,14). Chị ta nói với Đức Giêsu :”Thưa Ngài, xin cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước”(Ga 4,15).

    Qua câu chuyện trao đổi giữa Đức Giêsu và chị phụ nữ này, Ngài đã tiết lộ cho chị : chính Ngài là Đấng Messia, gọi là Đức Kitô. Chính Ngài sẽ ban cho chị và mọi người nước hằng sống. Ngòai ra, Ngài còn mạc khải một điều mới mẻ về việc tôn thờ : việc tôn thờ Thiên Chúa này khác với quan niệm của biệt phái và quan niệm của người thời bấy giờ :”Đã đến giờ và chính là lúc này, những kẻ tôn thờ đích thực, sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và chân lý. Đó chính là những người tôn thờ mà Chúa Cha muốn” (Ga 4, 23).

    1. Mục đích của câu truyện 

    Phải chăng thánh sử Gioan dùng mẩu truyện người phụ nữ này cốt ý cho mỗi người chúng ta đặt lại vấn đề đức tin của cá nhân mình. Mỗi người chúng ta, dù nam hay nữ, dù trong trạng thái nào của cuộc sống, có thể là một người phụ nữ Samaria, chúng ta cần gặp và trực diện với Đức Giêsu.

    Có một câu nói trong sách của Hồi giáo như sau :”Khát thì tìm nước, nhưng nguồn nước cũng đi tìm người khát”. Đức Giêsu là nguồn nước sự sống Người tìm đến với mọi người chúng ta. Để tiến sâu vào con đường khám phá đức tin, chúng ta phải vượt qua được hiện cảnh của mình, như người phụ nữ, đào sâu vào quá khứ tội lỗi, nhận thực ra mình là ai. Và đó là giây phút được giải thóat, được thứ tha, được yêu thương, được nhận ra nguồn sống mới. Muốn bắt đầu cuộc hành trình đức tin thực sự, chúng ta phải cất bước đi tới.


    II. NIỀM KHAO KHÁT CỦA TÂM HỒN TÔI

    1. Khao khát nước uống thường ngày 

    Kinh nghiệm cho thấy nước vô cùng thiết yếu cho đời sống. Thiếu nhà cửa, quần áo, người ta vẫn sống được, thiếu thức ăn người ta cũng có thể sống được một thời gian dài, nhưng không có nước, người ta sẽ chết sau một vài ngày.

    Khi dựng nên vườn địa đàng, Sách Thánh cho chúng ta biết, Thiên Chúa đã làm nên một con sông chẻ ra bốn nhánh để tưới tiêu cho sinh vật. Ông bà tổ tiên Adong Evà đã dùng nước ngọt ấy cho đến khi phạm tội thì mất, đất đai lại trở nên khô cằn.

    Theo những số liệu thu thập được, hiện nay nguồn nước  lòai người thừa hưởng trên hành tinh này thật phong phú, vào khỏang 1,3 tỉ đến 1,4 tỉ kilômét khối, trong đó nước mặn ở đại dương chiếm 98,77%, hai băng đảo (Bắc và Nam cực) chiếm 1,19%, nước trên mặt đất liền chiếm 0,017%, nước ngầm chiếm 0,007% và hơi nước trong khí quyển 0,001%.

    Theo báo cáo của Tổng Thư ký Liên hiệp quốc, hiện nay có 1,2 tỉ người (1/4 dân số thế giới) không có đủ nước sạch để uống. Hằng năm có khỏang 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển chết vì bệnh mà nguyên nhân  trước tiên là dùng nước bẩn.

    Nước uống đối với nhiều nước trên thế giới đang có nguy cơ bị thiếu vì việc lãng phí nước uống trở thành nghiêm trọng. Đặc biệt là nhiều bể nước ngọt bị các phế thải công nghiệp làm ô nhiễm. Nước uống tại một số nước châu Âu được cho vào chai lọ để bán, Hà lan đã phải nhập nước uống từ Thụy điển.

    Các nhà khoa học cho rằng tới năm 2000, số dân tăng nhanh, sẽ dùng hết một nửa tổng số nước ngọt có trên quả đất. Và có thể năm 2040, với việc tăng dân số lên gấp đôi, tòan số nước ngọt dự trữ sẽ không còn nữa (Báo Đại Đòan Kết, số 8, th 3/97, tr 6).

    Hiện nay Việt nam chúng ta cũng thiếu nước sạch bởi vì nhiều nguồn nước đã bị các chất thải của các nhà máy công nghiệp làm ô nhiễm, nhiều nơi đã trở nên trầm trọng. Để giải quyết cấp thời, nhiều người đã sản xuất nước tinh khiết đóng chai đem bán trên thị trường, cung cấp nước sạch để tránh bệnh tật. Việc uống nước tinh khiết đóng chai, đóng thùng hiện nay đã trở nên phổ biến, ngay cả vùng nông thôn.

    1. Những khát vọng tinh thần 

    Con người muốn vươn lên, muốn đạt tới hạnh phúc nhưng hạnh phúc còn xa tầm tay. Đồng ý rằng đã có những mảnh hạnh phúc, mỗi người có thể hưởng hạnh phúc ấy trong hòan cảnh cụ thể của mình như “được hoa mừng hoa, được nụ mừng nụ”, nhưng con người chưa thỏa mãn được những thứ hạnh phúc ấy, muốn vươn lên tới hạnh phúc tuyệt đối vĩnh cửu. Vì vậy, con người luôn có nhiều khát vọng, muốn cho mọi sự tốt đẹp được xẩy ra như :

              – Khát khao  chân lý vì cuộc sống đầy gian dối.
    – Khao khát tự do trong một xã hội nhiều trói buộc.
    – Khao khát công bình trong một môi trường đầy dẫy bất công.
    – Khao khát yêu thương trong cuộc đời nhiều thù hận.
    – Khao khát hạnh phúc trong cảnh sống bất hạnh.
    – Khao khát niềm tin giữa cảnh đời đầy nghi kỵ.
    – v.v….

    Tất cả những khao khát đó đều là biểu hiện của một khát vọng thâm sâu “Linh hồn con khao khát Chúa Trời hằng sống”.

    Chúng ta hãy nhìn vào phụ nữ Samaria, mặc dù đang ở bên giếng nước nhưng cõi lòng vẫn khát khao. Nàng thèm khát một tình nghĩa đậm đà. Nàng tưởng rằng tình đời sẽ thỏa mãn được cơn khát ấy nên nàng đã lăn xả vào những cuộc phiêu lưu tình ái. Nhưng đã trải qua 5 đời chồng rồi, nay đã là đời chồng thứ sáu mà nàng vẫn còn khát. Chỉ sau khi được gặp Đức Giêsu, trò truyện với Ngài và được Ngài ban cho thứ nước siêu nhiên là tình nghĩa với Chúa thì nàng mới hết khát. Nàng còn chạy vào làng rủ thêm nhiều người đến với Đức Giêsu, nguồn nước hằng sống đích thực (Lm Carôlô, Sợi chỉ đỏ A, tr 114).

                                          Truyện : Erman Coen.

    Erman Coen được mệnh danh là Augustinô của thời đại chúng ta. Ngài là một người Do thái rất giầu có. Thời trai trẻ, ngài chỉ biết ăn chơi và chạy theo thế gian. Ngày kia, ngài từ chối tất cả và xin vào tu viện…

    Trong buổi giảng Mùa Vọng tại nhà thờ Đức Bà Cả ở Paris, Ngài nói :

    Tôi đã đi khắp mặt đất, tôi đã yêu thế gian, tôi đã biết thế giới, và tôi đã học được rất nhiều : không có hạnh phúc ở trên thế gian này. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác đã vào tìm nó nơi không có. Tôi đã tìm nó ở những nơi tôi tưởng nó có, ở những nụ cười, ở những cuộc giải trí, ở những ngày lễ, ở nơi vàng bạc, ở nơi sắc đẹp…

    Ôi lạy Chúa, điều con mong ước mọi giờ, mọi ngày con đã tìm ở đâu ? Và con đã tìm được nó trong Chúa và tình yêu Chúa”.

    1. Khao khát đi tìm Chúa

    Ước vọng của con người không bao giờ được thỏa mãn vì con người vẫn muốn vươn lên đến cái gì tuyệt đối, mà ở trần gian này không có cái gì là tuyệt đối, tất cả chỉ là tương đối, hay nói đúng hơn : Tất cả là hư vô ! Tìm trong hư vô thì chẳng tìm được gì cả !

    Tác giả Thánh vịnh 42 đã mô tả lòng con người luôn muốn hướng về Chúa, muốn tìm đến Chúa để được thỏa mãn tâm hồn như đàn nai giải khát bên dòng suối :

                                 Như nai rừng mong mỏi
                                 Tìm về suối nước trong.
                                 Hồn con cũng trông mong
                                 Tìm đến Ngài, lạy Chúa.

    Thánh Augustinô đã đi tìm Chúa trong mọi nơi mà không thấy, tâm hồn ngài bị chao đảo như con thuyền giữa sóng gió biển khơi. Sau khi đã trở lại với Chúa, Ngài đã phải nói :”Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, linh hồn con luôn khắc khỏai cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”. Chỉ có Chúa mới thỏa mãn được những khát khao của con người. Đúng như Thánh vịnh 61,2 nói :

                                 Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
                                 Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn. 

                                          Truyện : Thiên Chúa là gì ?

    Nhiều người đến gặp một thiền sư nổi tiếng để trình bầy với ông ta rằng : chúng tôi được sai đến để xin ông nói cho chúng tôi biết rõ : Thiên Chúa là gì ?

              Nhà hiền triết trả lời :
    – Để tôi suy nghĩ rồi 8 ngày sau  hãy trở lại.
    Tám ngày trôi qua, họ trở lại thì vị thiền sư bảo :
    – Hãy trở lại 8 ngày sau nữa.
    Đúng 8 ngày sau họ quay trở lại và cũng nhận được câu trả lời như thế.
    Cuối cùng quá bực mình vì cứ nghe một câu trả lời như nhau nên họ mới mỉa mai hỏi ông ta rằng :
    – Cho đến lúc nào  ông hết nói với họ câu : “Tám ngày sau hãy trở lại”.
    Chính lúc đó vị thiền sư mới nghiêm mặt nói với họ :
    – Tôi sẽ trả lời như thế mãi với các ông  bao lâu còn hỏi tôi câu hỏi đó. Riêng tôi, tôi biết chắc rằng có Thiên Chúa. Người hiện hữu, nhưng tôi không thể và không bao giờ có thể nói được Ngài là gì (Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, tr 18).

    Thiên Chúa đâu có phải là đối tượng để lý trí con người tìm hiểu như một sự vật. Ngài là Đấng siêu việt, vượt trên mọi lý trí phàm nhân, Ngài là Đấng vô ngôn (ineffabilis) nghĩa là không thể dùng lời nói mà diễn tả được.

    Ngay trong phạm vi tình yêu, người ta cũng chưa định nghĩa được tình yêu là gì, mà chỉ có thể cảm nghiệm được tình yêu. Cứ yêu đi thì mới biết tình yêu là gì như thánh Augustinô đã nói “ama et fac quod vis : cứ yêu đi rồi làm gì thì làm, nghĩa là sẽ hiểu được tình yêu.

    Sở dĩ con người thời nay khó chấp nhận và khó tiếp cận được với thế giới siêu linh, với các chân lý tôn giáo là vì lòng trí họ chỉ muốn dừng lại  trên những sự kiện vật chất bên ngòai để tìm hiểu tư duy hoặc chỉ dựa vào khả giác để lý giải mọi sự. Đó cũng là trường hợp của người phụ nữ Samaria khi nghe Chúa nói đến “nước hằng sống”, “nước siêu nhiên” thì chị ta không thể hiểu và chỉ nghĩ tới nước tự nhiên để uống. Hoặc các môn đệ đi mua thức ăn về mời Chúa dùng thì Chúa nói đến một thứ lương thực thiêng liêng cần hơn, các ông không hiểu và chỉ nghĩ đến các thức ăn thể xác. Do đó, với lối suy nghĩ quá vật chất, quá giới hạn trong không gian và thời gian thì con người mãi mãi cho các chân lý tôn giáo là phi lý, khó chấp nhận và không bao giờ có thể mở mắt nhận ra được sự hiện diện của Thiên Chúa.

    Với con mắt xác thịt, không bao giờ chúng ta có thể tìm thấy Chúa vì Chúa là Đấng tuyệt đối siêu việt, Ngài không ở đó ở đây cho ta trông thấy, nhưng với con mắt đức tin chúng ta có thể tìm thấy Chúa trong tha nhân, vì tha nhân là Chúa. Ta xử đối thế nào với tha nhân là ta xử đối thế ấy với Chúa. Trong ngày chung thẩm Chúa sẽ xét xử chúng ta về điều này .

                                          Truyện : Tha nhân là Chúa.

    Một đêm trăng nọ, nhìn qua cửa sổ, một tu sĩ già bỗng nhìn thấy một thiên thần đang ngồi viết trên một cuốn sách vàng. Lòng tràn ngập hân hoan, vị tu sĩ rón rén đến gần và lớn tiếng hỏi:

              – Ngài đang viết gì trong quyển sách này thế ?
    – Ta đang ghi những ai yêu mến Thiên Chúa.
    Vừa lo lắng vừa hồi hộp, vị tu sĩ mới hỏi xem tên mình có trong sách không. Thiên thần giở từng trang, chăm chú đọc từng hàng nhưng không thấy tên ông. Thế nhưng điều đó không làm cho vị tu sĩ thất vọng, Ông nói với thiên thần :
    – Xin ngài vui lòng ghi tên tôi  như một thầy dòng lúc nào cũng yêu mến tha nhân.
    Thiên thần chiều ý ông. Thế là tên ông được ghi vào sổ vàng.
    Sau khi vị tu sĩ già qua đời, xem lại nhật ký của ông, người ta thấy dòng chữ đầu tiên trong nhật ký chỉ là câu  trích dẫn thư 1Ga 4,20:”Nếu ai nói mình yêu mến Chúa mà lại ghét anh em mình thì đó là kẻ nói dối, vì kẻ không yêu mến người anh em nó thấy đó, tất không thể yêu mến Thiên Chúa mà nó không thấy”.

    Tiếp theo lời trích dẫn vị tu sĩ ghi chú :”Tôi đi tìm kiếm linh hồn tôi, nhưng tôi không thấy; tôi đi tìm Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vượt thóat khỏi tôi; tôi đi tìm người anh em, tôi đã gặp được Thiên Chúa và linh hồn tôi” (Trích Mỗi ngày một tin vui).

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà Lạt

    ………………………………….

    Suy Niệm 4: Nguồn nước chảy ra sự sống đời đời

    Nước là hình ảnh biểu trưng cho Chúa nhật hôm nay. Thánh Gioan đã dựa vào hình ảnh giếng nước để dàn dựng cuộc đàm thoại về nước hằng sống. Sau lời dẫn nhập ngài đã tường thuật về cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với một phụ nữ người Samari bên giếng Giacóp. Bài tường thuật được trình bày qua ba giai đoạn. Mỗi giai đoạn kết thúc bằng một lời tuyên xưng. Đức Giêsu giống như người khách lạ. Người tìm cách làm quen với dân làng qua một người phụ nữ đang kín nước bên bờ giếng. Người phụ nữ này là nhân vật móc nối và qua bà Đức Giêsu được tiếp nhận vào trong làng. Ba giai đoạn của lời tường thuật có ý trình bày về cách thế mà một nhà truyền giáo có thể dùng để tiếp cận với một cộng đoàn mà mình chưa quen biết.

    Người phụ nữ Samari rất ý thức về sự khác biệt giữa người Do thái và dân tộc của mình. Mỗi ngày bà phải đi kín nước, thứ nước chỉ có khả năng làm đã khát trong chốc lát. Đức Giêsu, người khách bộ hành mệt lả mở miệng xin nước, nhưng chỉ trong chốc lát lại trở thành người ban phát nước. Người giải thích về phẩm chất của thứ nước mà Người ban tặng. Ai uống nước này sẽ không bao giờ khát nữa, bởi vì chính Người là nguồn nước hằng sống. Như vậy niềm khao khát của con người về một cuộc sống hạnh phúc và đầy ý nghĩa được đổ đầy nơi Đức Giêsu. Người còn cho bà biết rằng, Người có khả năng nhìn thấu suốt những tâm tình sâu kín, tỷ dụ như đời sống vợ chồng của bà. Đoạn này kết thúc với lời tuyên xưng: „Tôi nhận biết ông là một ngôn sứ”.

    Thánh Gioan dùng lời tuyên xưng này để tiếp tục dàn dựng cuộc nói chuyện: Người ngôn sứ phải có khả năng hoà giải cuộc tranh cãi về nơi thờ phượng giữa Do thái giáo và tôn giáo của người Samari. Sự xoá bỏ những khác biệt thuộc phạm vi tôn giáo cũng có những hệ quả cụ thể trong lãnh vực xã hội. Người phụ nữ vào thành kể cho mọi người nghe và giờ đây bà tự hỏi: „Phải chăng Người chính là Đấng Cứu Thế?”

    Bà tin vào Đức Giêsu qua cuộc gặp gỡ trực tiếp với Người, nhất là dựa vào khả năng thấu suốt của Người về cuộc sống riêng tư của bà. Sau đó, qua lời tường thuật của bà với dân chúng Đức Giêsu đã thức tỉnh niềm tin nơi nhiều người. Họ đã ra tiếp đón Đức Giêsu. Giờ đây, họ tin không phải chỉ qua lời người khác kể lại nhưng là trực tiếp gặp gỡ chính Đức Giêsu. Lời của Người làm cho lòng tin của họ thêm vững mạnh. Họ nhận biết và tuyên xưng rằng: „Quả thật, Người là Đấng cứu độ trần gian”.

    Phải chăng cuộc sống của con người ngày nay nhiều lúc cũng giống như hành trình trong sa mạc của dân Do thái xưa. Nhiều khi chúng ta cảm thấy bất hạnh, đói khát, bất lực! Lại có những lúc chúng ta cảm thấy dường như Thiên Chúa vắng mặt! Chúng ta thầm trách Ngài: Tại sao nói Thiên Chúa là Đấng đầy tình thương mà Ngài lại để chúng ta long đong khổ sở như thế này? Vì chúng ta tin nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa. Và như thánh Phaolô nói: Dầu phải sống trong gian truân, dầu phải bước đi trong sa mạc nắng cháy, chúng ta sẽ không phải thất vọng vì Thiên Chúa đã đổ tràn tình yêu vào lòng chúng ta. Chính Đức Giêsu cũng đã chết vì chúng ta.

    Hai sự kiện được sắp xếp xen kẽ vào cuộc nói chuyện: Đức Giêsu mặc khải cho con người biết, Người chính là nguồn nước hằng sống; và cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và các mộn đệ của Người về cánh đồng truyền giáo, trước khi người phụ nữ vào thành kể cho mọi người nghe. Ý muốn của Chúa Cha hướng tới sự cứu độ con người. Ai tin vào Đức Giêsu, người ấy sẽ được giải thoát khỏi mọi lo sợ luôn vây quanh mình. Ai tin vào Đức Giêsu, người ấy sẽ trở nên vô vị lợi. Ai tin vào Đức Giêsu, người ấy có nhiệm vụ tiếp tục đưa dẫn người khác tới nguồn sống. Bởi vậy, Kitô hữu có nghĩa là trở nên Đức Giêsu cho người khác.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

                                                                      

                                                                      

     

                                                                                          

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com