BÀI ÐỌC I: Kg 2, 1b-10
Năm thứ hai triều đại vua Ðariô, đến ngày hai mươi mốt tháng bảy, có lời Chúa dùng tiên tri Khác-gai mà phán rằng: “Ngươi hãy nói với Giorôbabel, con trai tướng lãnh Giuđa, là Saluthiel, nói với Giosua, con trai thượng tế Giosêđec, và với những kẻ sống sót lại trong dân rằng: “Ai trong các ngươi là kẻ sống sót lại đã nhìn thấy vinh quang thuở xưa của đền thờ này: và giờ đây các ngươi xem thấy nó thế nào? Chớ thì nó chẳng là không trước mắt các ngươi sao? Và Chúa lại phán: Hỡi Giorôbabel, giờ đây hãy can đảm. Hỡi Giosua, con trai thượng tế Giosêđêc, hãy can đảm; và toàn dân trên lãnh thổ, hãy can đảm, đây Chúa các đạo binh phán: Các ngươi hãy khởi công, vì Ta ở cùng các ngươi, Chúa các đạo binh phán như vậy. Có lời Ta đã giao ước với các ngươi, khi các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, là thần linh Ta sẽ ở giữa các ngươi, nên các ngươi đừng sợ”. Vì Chúa các đạo binh phán như thế này: “Còn ít lâu nữa, Ta sẽ khiến trời đất, biển khơi và đất cạn chuyển động. Ta cũng sẽ khiến mọi dân tộc chuyển động; và Ðấng mọi dân tộc trông đợi sẽ đến: Ta sẽ làm cho đền thờ đầy vinh quang, Chúa các đạo binh phán như vậy. Vàng bạc đều là của Ta, Chúa các đạo binh phán như vậy. Vinh quang đền thờ sau hết này sẽ cao trọng hơn vinh quang đền thờ trước, Chúa các đạo binh phán như vậy: trong nơi này, Ta sẽ ban hoà bình, Chúa các đạo binh phán như vậy”.
PHÚC ÂM: Lc 9, 18-22
Việc xảy ra là khi Chúa Giêsu cầu nguyện riêng một nơi, và có các môn đệ ở với Người, thì Người hỏi các ông rằng: “Những đám dân chúng bảo Thầy là ai?” Các ông thưa rằng: “Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ khác lại cho là Êlia, còn người khác thì cho là một trong các tiên tri thời xưa, đã sống lại”. Người lại hỏi các ông rằng: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa”. Và Người ngăn cấm các ông không được nói điều đó với ai mà rằng: “Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại”.
Suy Niệm 1: GIÊSU LÀ SỰ BÌNH AN VÀ LÀ DẤU MÂU THUẪN
“Còn ít lâu nữa, Ta sẽ khiến trời đất, biển khơi và đất cạn chuyển động. Ta cũng sẽ khiến mọi dân tộc chuyển động; và Ðấng mọi dân tộc trông đợi sẽ đến: Ta sẽ làm cho đền thờ đầy vinh quang… Vinh quang đền thờ sau hết này sẽ cao trọng hơn vinh quang đền thờ trước…, trong nơi này, Ta sẽ ban hoà bình, Chúa các đạo binh phán như vậy”.
Lời sấm của Thiên Chúa qua miệng ngôn sứ Khác-gai đầy sức trấn an, khích lệ sự tin tưởng vào sức mạnh và vinh quang của Chúa. Sự khải thắng cuối cùng của Thiên Chúa sẽ gắn với sự xuất hiện của “Đấng mà muôn dân trông đợi”. Đấng ấy chính là “Đền thờ sau hết, cao trọng và vinh quang hơn đền thờ trước”… Đấng ấy chính là Hoà Bình được Thiên Chúa ban cho muôn dân.
Hoà Bình? Vâng, Chúa Giêsu là Hoà bình, là sự Bình an cho con người và toàn thể thế giới thụ tạo này. Nhưng chuyện không đơn giản, bởi chính Người cũng tự giới thiệu là ‘dấu mâu thuẫn’! Một dấu mâu thuẫn là một nhân tố gây ra mâu thuẫn giữa người ta. Phân hoá, phân cực… dẫn đến loại trừ, kể cả bằng bạo lực – chính Chúa Giêsu đã nói ‘tiên tri’ về điều u ám này khi cho biết rằng Người đến và mang gươm giáo đến!
Chuyện cũng không đơn giản theo kiểu hai phe A và B mâu thuẫn nhau, trong đó một bên thuộc về Chúa Giêsu còn bên kia thì chống lại. Bởi thực tế rất thường cả A và B đều không hoàn toàn phản ánh tinh thần và đường lối của Chúa Giêsu, ngay cả dù nhân danh Chúa Giêsu!
Là dấu mâu thuẫn, Chúa Giêsu cũng là sự thách thức, sự chất vấn tâm hồn người ta. Người là Đấng Kitô chịu đau khổ và bị giết. Người là sự Bình An mà người ta chỉ cảm nhận được khi vượt qua các mâu thuẫn bề mặt để lặn xuống đủ sâu hay vươn lên đủ cao. Các quyền lực khó chịu với dấu mâu thuẫn ‘Giêsu’ luôn tìm cách dập tắt Người. Nhưng Người bị dập mà không tắt. “Ngày thứ ba Con Người sẽ sống lại”!
Chúng ta có chọn sự Bình An đằng sau dấu mâu thuẫn mang tên Giêsu không? Ta tìm cách tôn Người lên hay tìm cách dập tắt Người?
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
………………………..
Suy Niệm 2: ANH CHỊ EM GỌI THẦY LÀ AI?
Kinh nghiệm dạy chúng ta rằng: luôn luôn có khó khăn trong cuộc sống. Nhiều lần khó khăn làm chúng ta chùn bước, không muốn tiếp tục hy sinh hay dấn thân phục vụ. Khó khăn chỉ vượt qua được khi chúng ta sống trong thái độ hy vọng. Khi gặp khó khăn, điều làm chúng ta vững bước là nếu ai đó “có khả năng” hứa sẽ đồng hành với chúng ta để giải quyết khó khăn. Những điều này được phản chiếu trong bài đọc 1 hôm nay. Dân Israel cũng đối diện với khó khăn trong việc tái thiết Đền Thánh Giêrusalem. Họ cũng tự hỏi rằng họ lấy đâu ra vàng bạc và nguyên liệu để tái thiết lại Nhà Đức Chúa. Đứng trước tình cảnh này, Đức Chúa qua trung gian ngôn sứ Khácgai trấn tĩnh dân là Ngài luôn ở với họ: “Vậy bây giờ, hỡi Dơrúpbaen, hãy mạnh bạo lên! Này thượng tế Giêsua, con ông Giơhôxađắc, mạnh bạo lên nào! Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên! Sấm ngôn của Đức Chúa. Hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi. Sấm ngôn của Đức Chúa các đạo binh” (Kg 2:4). Những lời “Ta ở với ngươi” là điệp khúc chúng ta thấy được lặp đi lặp lại nhiều lần trong Kinh Thánh khi Đức Chúa trao cho ai một sứ mệnh thì Ngài cũng đảm bảo với họ rằng Ngài sẽ luôn đồng hành với họ. Chính sự đảm bảo này mà họ không có gì phải lo sợ.
Như chúng ta đã thấy trong bài Tin Mừng hôm qua việc Hêrôđê “tò mò” để biết Chúa Giêsu là ai. Câu hỏi của ông được trả lời trong Tin Mừng hôm nay. Chi tiết đầu tiên mà chúng ta cần lưu ý trong hành trình “tìm cách để biết Chúa Giêsu” là việc “ở lại với Chúa Giêsu”: “Hôm ấy, Đức Giêsu cầu nguyện một mình. Các môn đệ cũng ở đó với Người” (Lc 9:18). Các môn đệ cũng ở đó, trong giây phút cầu nguyện với Chúa Giêsu. Nói cách khác, Chúa Giêsu và các môn đệ đang cùng thực hiện một hành động, đó là cầu nguyện – kết hiệp mật thiết với Chúa Cha. Chính trong giây phút kết hiệp với Chúa Cha mà Chúa Giêsu “ý thức” mình là ai và như thế Ngài hỏi các môn đệ xem họ có biết Ngài là ai không: “Người hỏi các ông rằng: ‘Dân chúng nói Thầy là ai? Các ông thưa: ‘Họ bảo Thầy là ông Gioan Tẩy Giả, nhưng có kẻ thì bảo là ông Êlia, kẻ khác lại cho là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại.’ Người lại hỏi: ‘Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?’ Ông Phêrô thưa: ‘Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.’Nhưng Người nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai” (Lc 9:18-21). Trong những lời này, chúng ta nhận ra hai giai đoạn trong việc đạt đến “kiến thức” chính xác về căn tính của Chúa Giêsu. Giai đoạn 1 là “biết về” Chúa Giêsu. Trong giai đoạn này, kiến thức được thu tập qua việc lắng nghe [hoặc đọc] những người biết về Chúa Giêsu. Chúng ta thấy điều này giống với bài Tin Mừng hôm qua. Kiến thức thu tập được trong giai đoạn này cũng quan trọng, nhưng không phản ánh cách trung thực về Chúa Giêsu vì nó mang tính “lý thuyết.” Giai đoạn 2 bắt đầu với lời mời gọi “gặp gỡ cá vị.” Giai đoạn này được gọi là giai đoạn “biết Chúa.” Yếu tố quan trọng trong giai đoạn này là “gặp gỡ cá vị” trong cùng một hành động với Chúa Giêsu [trong tương quan với Chúa Cha]. Kiến thức đạt được trong giai đoạn này là “một tương quan” chặt chẽ với Thiên Chúa chứ không phải là một mớ kiến thức trừu tượng.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý rằng dù chúng ta có được kiến thức chân thật về Chúa Giêsu trong việc gặp gỡ cá vị của Ngài, kiến thức của chúng ta vẫn giới hạn và chưa hoàn toàn đầy đủ. Trong câu trả lời của Phêrô, chúng ta nhận thấy một cái nhìn “phiến diện” về “Đấng Kitô của Thiên Chúa.” Phêrô và các môn đệ “biết” đúng về Chúa Giêsu là Đấng Kitô, nhưng “hiểu” chưa đúng về Ngài. Họ hiểu Ngài là Đấng Kitô theo truyền thống Con Người Vinh Quang trong sách Đanien. Cái hiểu này chưa phản ánh trung thực về căn tính của Chúa Giêsu, nên Ngài nghiêm giọng truyền các ông không được nói điều ấy với ai. Để bổ sung cho cái hiểu phiến diện của các môn đệ, Chúa Giêsu trình bày khía cạnh thứ hai về căn tính của Ngài, đó là Người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Isaiah: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9:22). Như vậy, một hình ảnh hoàn hảo về căn tính của Chúa Giêsu được thiết lập, đó là một Đức Kitô đạt đến vinh quang qua con đường đau khổ, đạt đến phục sinh qua sự chết. Đây là hai khía cạnh không thể tách rời trong “căn tính” của Chúa Giêsu và cũng là hai yếu tố không thể tách rời trong đời sống người môn đệ Chúa Giêsu.
Lm. Anthony, SDB.
……………………….
Suy Niệm 3 : Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu
- Trong dân chúng có ba dư luận về Đức Giêsu : Ngài là Gioan Tẩy Giả sống lại, là Êlia xuất hiện, hay một tiên trì thời xưa sống lại. Đại khái họ coi Ngài không phải là một người thường như mọi người, nhưng đặc biệt là người thuộc hàng tiên tri : giảng dạy và có khả năng làm phép lạ. Riêng ông Phêrô được ơn trên soi sáng đã tuyên xưng Đức Giêsu là “Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Tuy thế, ông vẫn nghĩ về Đấng Kitô theo cách thông thường của đa số người thời đó, tức là một Đấng Cứu Thế oai phong hiển hách. Bởi đó Đức Giêsu phải sửa lại cách nghĩ ấy : Ngài là Đấng Kitô chịu nạn chịu chết và phục sinh.
- Hôm nay, qua bài Tin Mừng, các môn đệ lâm vào cảnh khó tin và rất bất ngờ. Bởi vì, sau những phép lạ Chúa làm, như phép lạ hóa bánh ra nhiều cho 5000 người ăn, danh tiếng của Chúa lẫy lừng khắp nơi. Người ta còn muốn tôn người làm vua nữa. Ai ngờ hôm nay, Ngài tuyên bố những điều thật khó hiểu, làm mất hứng :”Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại”.
Đức Giêsu là Đấng Messia như Phêrô đã đoán chính xác. Nhưng Ngài không là Đấng Messia vinh quang như dân chúng đã mong chờ. Ngài phải là Đấng Messia đau khổ. Ngài không thống trị, Ngài chỉ phục vụ. Đức Giêsu không quan tâm chiếu rọi loại hình ảnh mà dân chúng muốn. Ngài biết Ngài có một số phận mà Thiên Chúa đã định mà Ngài phải hoàn thành, không sai sót.
- Tiếp theo đó, Đức Giêsu đưa ra lời mời gọi mọi người chứ không riêng gì các môn đệ, là hãy theo Ngài :”Ai muốn theo Ta”. Đức Giêsu muốn khơi động lòng muốn cho những ai theo Ngài. Điều đó chứng tỏ Chúa tôn trọng quyền tự do lựa chọn của con người, theo hay không theo cũng được. Tiếng Latinh dùng chữ “Si quis” (nếu ai) càng rõ nghĩa hơn : chữ “nếu” nói lên sự tự do hoàn toàn.
Nếu câu hỏi của Đức Giêsu chỉ có bấy nhiêu chữ “Nếu ai muốn theo Ta”, thì tất cả chúng ta, những người đã được rửa tội, đều có thể đáp lại thật nhanh :”Con muốn… Con muốn theo Chúa” . Nhưng nếu nghe trọn câu Ngài nói :”Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”, thì chắc hẳn số người nhanh chóng trả lời “Con muốn” sẽ giảm đi rất nhiều.
- Có một câu hỏi quan trọng trong cuộc đời cần được trả lời :”Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai” ? Đây không phải là bài thi trắc nghiệm để biết kết quả đúng sai, cũng chẳng nhằm xem bao nhiêu phần trăm ủng hộ hay chống đối, mà là một bước để tỏ bầy, để đi vào một tương quan mới. Từ câu hỏi thăm dò xa xa, chung chung “Đám đông nói Thầy là ai” ? đến câu hỏi mang tương quan cá nhân, biệt vị “còn anh em”. Câu trả lời không có chỗ cho sự hời hợt, sự giả vờ, lấy lệ, hay xã giao. Câu trả lời của ta xuất phát từ con tim, kinh nghiệm, sự hiểu biết dựa trên nền tảng đức tin, cũng như từ sự kín đáo của ơn mạc khải :”Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”(5 phút Lời Chúa).
Hôm nay Thầy Giêsu vẫn đặt câu hỏi ấy với bạn :”Đối với con, Thầy là ai” ? Bạn sẽ trả lời thế nào ? Phải chăng là những gì được tuyên xưng trong kinh Tin Kính, hay được “vay mượn” từ người khác ? “Nếu muốn trả lời Người cách xa xa, ta sẽ khám phá ra một điều làm mình chắc chắn là sự sống lại, nghĩa là sự sống phát xuất từ mầu nhiệm sự đóng đinh và sự chết… “Đối với con, Thầy là ai ? Con có liên kết số mệnh con với số mệnh của Thầy không ? Con có nhận rằng Thầy cần sự đau khổ của con để Thánh giá của Thầy có đầy đủ kích thước không ? Nếu có, con sẽ sống” (A. Degeest).
- Cùng với thánh Phêrô, chúng ta hãy tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô của Thiên Chúa. Tuyên xưng như thế cũng có nghĩa là tuyên xưng mầu nhiệm Thập giá. Chúa Giêsu là Đức Kitô, bởi vì Ngài đã chấp nhận đi qua con đường Thập giá để cứu rỗi con người. Tuyên xưng mầu nhiệm ấy cũng chính là để mầu nhiệp Thập giá tỏ bày trong cuộc sống chúng ta. Chính trong mầu nhiệm Đức Kitô, con người có thể hiểu chính mình. Do đó, để thực hiện ơn gọi Kitô hữu, chúng ta được mời gọi đi lại con đường Thập giá mà Chúa đã đi qua (Mỗi ngày một tin vui).
- Truyện vui : Vác thập giá mình.
Vào chiều thứ Sáu Tuần Thánh, cha sở kêu gọi giáo dân : khi quí vị đến nhà thờ đi chặng đàng Thánh giá để tưởng niệm sự chết và đau khổ của Chúa Giêsu, mỗi người nên làm một cây thập giá bằng bất cứ vật liệu nào tượng trưng cho sự đau khổ của mình trong cuộc sống đang phải chịu. Sau chặng đàng Thánh giá yêu cầu quí vị mang lên bàn thờ cho tôi làm phép. Mọi người đều mang lên đủ loại thập giá. Ông trùm bước lên tay không, cùng với bà vợ. Khi cha sở hỏi, thập giá của ông đâu, ông chỉ ngay vào bà vợ và nói :”Thưa cha, đây là thập giá của con”. Cha sở cũng làm phép, nhưng sau đó liền bảo ông rằng :”Bây giờ ông hãy ôm lấy cây thập giá này và hôn lên cây thập giá của ông đi”.
Đây là câu chuyện vui cười ! Nhưng Thập giá Đức Giêsu đề cập đến không phải chỉ là bà vợ hay ông chồng. Nó không đơn thuần chỉ là một đám cưới không hạnh phúc, hay những trở ngại khó khăn đến với chúng ta ngoài ý muốn, cũng không chỉ là những điều xui xẻo, không may xẩy đến như thi rớt, bệnh tật, mất việc. Thập giá Đức Giêsu đề cập chính là sự chọn lựa từ bỏ mình để dâng hiến hoàn toàn cho thánh ý Thiên Chúa (Rm 6,13;12,1). Từ bỏ những ý kiến, suy nghĩ riêng tư, cả cái tôi kiêu căng, tự ái, ích kỷ và lòng ham hố danh lợi (Pl 2,21). Đó là tự làm rỗng mình đi cho Thần Khí của Thiên Chúa ngự trị, để làm theo thánh ý của Thiên Chúa. Đó là với Đức Tin Cậy Mến chúng ta biến đổi Thập giá thành Thánh giá, đau khổ trở nên giá cứu chuộc linh hồn cho mình và cho nhân loại.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt