BÀI ÐỌC I: Ds 20, 1-13
Trong những ngày ấy, vào tháng Giêng, con cái Israel và toàn thể cộng đồng đến rừng Sim. Dân chúng định cư ở Cađê. Tại đây bà Maria đã qua đời và được chôn cất. Và khi dân chúng thiếu nước, họ toa rập nhau chống đối Môsê và Aaron. Họ công kích Môsê rằng: “Phải chi chúng tôi chết đi như anh em chúng tôi đã chết trước mặt Chúa. Tại sao các ông dẫn cộng đoàn của Chúa vào rừng vắng này, để chúng tôi lẫn súc vật chúng tôi phải chết? Tại sao bắt chúng tôi bỏ Ai-cập mà dẫn lên chỗ rất xấu xa này, chẳng cày cấy được, chẳng sinh quả vả, nho lựu, hơn nữa không có nước mà uống”. Môsê và Aaron lánh mặt khỏi dân chúng và vào nhà xếp giao ước. Hai ông sấp mình xuống đất, kêu van cùng Chúa rằng: “Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin nghe tiếng dân này kêu van, và xin mở cho họ kho tàng châu báu của Chúa là mạch nước hằng sống, để họ uống no đầy mà hết kêu trách”. Sự vinh quang của Chúa hiện ra trên họ. Và Chúa phán cùng Môsê rằng: “Hãy cầm lấy gậy và tập họp dân chúng lại, ngươi và Aaron khiến hòn đá, trước mắt họ, và đá liền chảy nước. Khi ngươi làm cho nước từ hòn đá này chảy ra, thì toàn dân và súc vật sẽ được uống”. Môsê cầm lấy cây gậy để trước mặt Thiên Chúa như Chúa đã truyền dạy ông. Khi tập họp cộng đồng đến trước hòn đá, ông bảo họ rằng: “Hỡi bọn người phản loạn và cứng lòng, hãy nghe đây. Chúng tôi có thể làm cho nước từ hòn đá này chảy ra cho các ngươi được không?” Môsê giơ tay cầm gậy đánh vào hòn đá hai lần: nước chảy ra tràn trề. Dân chúng và súc vật được uống. Bấy giờ Chúa phán cùng Môsê và Aaron rằng: “Vì các ngươi không tin Ta mà tuyên xưng thánh danh Ta trước mặt con cái Israel, thì các ngươi không được đem dân này vào Ðất Ta sẽ ban cho chúng nó”.
Ðây là nước mâu thuẫn nơi con cái Israel trách Chúa, và Người dùng nước để tỏ ra thánh danh Người.
PHÚC ÂM: Mt 16, 13-23
Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt thành Cêsarêa Philipphê, và hỏi các môn đệ rằng: “Người ta bảo Con Người là ai?” Các ông thưa: “Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó”. Chúa Giêsu nói với các ông: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Chúa Giêsu trả lời rằng: “Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Ðấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Ðá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá Nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. Bấy giờ Người truyền cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Ðức Kitô. Kể từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy: Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các kỳ lão, luật sĩ và thượng tế, phải bị giết, và ngày thứ ba thì sống lại. Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng: “Lạy Thầy, xin Chúa giúp Thầy khỏi điều đó. Thầy chẳng phải như vậy đâu”. Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy: con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”.
Suy Niệm 1: CHÚA ĐÒI TA TIN VÀO NGÀI CÁCH TUYỆT ĐỐI
Dân khát nước, và họ lại bắt đền Môsê và Aaron. Hai ông đến cầu xin Chúa ban nước cho dân ngay chỗ khô cằn này trong sa mạc. Chúa nhận lời, bảo Mô sê làm cho nước chảy ra từ đá. Ông triệu tập dân lại, dùng gậy gõ vào tảng đá hai lần. Nước chảy ra tràn trề cho mọi người và cả súc vật của họ uống thoả thích.
Nhưng câu chuyện này có ẩn chứa một tình tiết bi tráng. Các nhà chú giải lưu ý chi tiết Mô sê gõ cây gậy vào tảng đá đến hai lần, và giải thích rằng ông và cả Aaron thiếu lòng tin, vì thế Thiên Chúa phiền lòng và đã không cho cả hai vào Đất Hứa. Thực tế đã xảy ra như vậy. Mô sê sau hành trình rong ruổi dẫn dắt đoàn dân ngót 40 năm trong sa mạc, vừa khi đặt chân đến cửa ngõ vào Đất Hứa thì ông qua đời trong âm thầm, chỉ một mình, không ai hay biết, trên một ngọn núi ngay bên kia sông Gio-đan…
Chúng ta chạnh lòng, cảm thấy tội nghiệp cho Mô sê. Nhưng một lần nữa, dường như ở đây Mô sê không chỉ trách nhiệm về sự nghi nan của mình, mà trong tư cách nhà lãnh đạo, ông còn chịu trách nhiệm về sự cứng cỏi của đoàn dân được uỷ thác cho ông nữa. Đồng thời, bi kịch của bản thân Mô sê cho thấy Chúa khẩn thiết đòi hỏi niềm tin mà chúng ta phải đặt nơi Ngài.
Chính Chúa Giêsu cũng khẩn thiết mong chờ niềm tin nơi các môn đệ. Câu hỏi “người ta bảo Thầy là ai?” vẫn chưa chạm đến trọng tâm, mà chỉ là sự dẫn nhập vào câu hỏi “anh em bảo Thầy là ai?”… “Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Phê rô trả lời rất hay, nhưng trong câu trả lời này vẫn còn ẩn chứa sự sai lạc nào đó, sai lạc về nhận hiểu đường lối cứu độ của ‘Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống’! Vì thế mới có chuyện ngay sau đó Chúa Giêsu đã quở trách Phê rô: “Hỡi Satan, hãy lui ra đàng sau Thầy”!
Ngày nay, Chúa cũng khẩn thiết mong chờ chúng ta tin vào Người, không phải tin nửa vời hay tin cách méo mó lệch lạc, mà là tin tuyệt đối, tin trọn vẹn vào chính Chúa và vào con đường Thập giá mà Người mời gọi tất cả chúng ta bước đi theo Người.
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
………………………………….
Suy Niệm 2: HÃY THEO CHÚA, ĐỪNG DẪN CHÚA!
Trong những ngày vừa qua, chúng ta đã nghe về những “khó chịu và phàn nàn” của Dân Israel chống lại Môsê và Thiên Chúa khi những nhu cầu của họ không được thoả mãn. Họ luôn bị cám dỗ nhớ đến “củ hành củ tỏi” bên Ai Cập. Bài đọc 1 hôm nay thuật lại cho chúng ta việc dân Israel “thử thách” Đức Chúa bên mạch nước Mêribah. Hình ảnh nối kết bài đọc 1 với bài Tin Mừng là hình ảnh “tảng đá”: “Nghe đây, hỡi quân phản nghịch! Từ tảng đá này, chúng tôi có thể làm cho nước chảy ra cho các người được không?” Ông Môsê giơ tay, lấy gậy đập vào tảng đá hai lần; nước trào ra lai láng cho cộng đồng và súc vật uống” (Ds 20:10-11). Từ tảng đá, nước đã trào ra lai láng cung cấp nước uống cho dân. Dù làm một điều vĩ đại, Môsê và Aharon bị Đức Chúa quở trách: “Bởi vì các ngươi đã không tin vào Ta để biểu dương sự thánh thiện của Ta trước mắt con cái Israel, nên các ngươi sẽ không được đưa đại hội này vào đất Ta ban cho chúng” (Ds 20:12). Tại sao điều này xảy ra? Hai ông đã làm gì sai? Nếu chúng ta đọc kỹ những lời trong câu 10-11, chúng ta nhận ra rằng thay vì nói: “Từ tảng đá này, Đức Chúa có thể làm cho nước chảy ra cho các người được không?” hai ông lại nói: “Từ tảng đá này, chúng tôi có thể làm cho nước chảy ra cho các người được không?” Hai ông chiếm lấy vị trí của Chúa trong việc làm cho nước chảy ra từ tảng đá. Điều này chúng ta sẽ thấy được phản chiếu lại trong hình ảnh của Thánh Phêrô khi thánh nhân tìm cách ngăn cản Chúa Giêsu. Đây cũng là cám dỗ mà mỗi người chúng ta thường gặp. Nhiều lần chúng ta chiếm lấy vị trí của Chúa để rồi trở nên những người chống lại Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay cũng được thánh Máccô (8:27-30) và Thánh Luca (9:18-21) thuật lại. Trong Tin Mừng Thánh Máccô, trích đoạn này về việc Thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, cùng với 8:31-913, tạo thành phần quan trọng nhất. Về phần mình, Thánh Mátthêu thêm vào [trình thuật của Thánh Máccô] câu 16b-19 nhằm mục đích thêm vào khía cạnh “giáo hội học” trong lời tuyên xưng của Thánh Phêrô. Cấu trúc của bài Tin Mừng như sau: (1) Thánh Phêrô tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu; (2) lời đáp trả của Chúa Giêsu trước lời tuyên xưng của Thánh Phêrô; (3) Chúa Giêsu tiên đoán cuộc thương khó của mình và sự vấp phạm của Thánh Phêrô. Cấu trúc này cho thấy lối viết “bánh mì kẹp” quen thuộc: bắt đầu và kết thúc với Thánh Phêrô [được khen và bị quở trách]. Chúng ta thấy ở đây hành trình đức tin của Thánh Phêrô cũng giống hành trình đức tin của mỗi người chúng ta: có lúc mạnh mẽ, nhưng cũng không thiếu những lần yếu đuối khi gặp thử thách.
Trong phần tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô, chúng ta cần lưu ý rằng Thánh Mátthêu thêm vào những chi tiết sau so với Tin Mừng Thánh Máccô: (1) Trong Tin Mừng Thánh Máccô, Chúa Giêsu sử dụng từ “Thầy” khi hỏi các môn đệ [“Người ta nói Thầy là ai?”]. Thánh Mátthêu dùng “Con Người” [“Người ta nói Con Người là ai?”] nhằm nhấn mạnh đến khía cạnh con người của hình ảnh Con Người trong sách Đanien (7:13). (2) Thánh Mátthêu nói đến tên Ngôn sứ Giêrêmia trong trình thuật của mình vì đây là vị ngôn sứ cảm nghiệm cách cá vị việc bị loại trừ và những đau khổ như lời tiên báo về sự loại trừ và đau khổ Chúa Giêsu sẽ chịu. (3) Thánh Mátthêu thêm vào lời tuyên xưng của Thánh Phêrô câu: “Con Thiên Chúa Hằng Sống” nhằm nói đến việc Chúa Giêsu luôn ý thức về phận làm con của mình [với Chúa Cha] (x. Mt 11:27). Khi thêm vào những lời này, Thánh Mátthêu sử dụng mối tương quan Cha-Con để đưa thính giả ra khỏi tư tưởng mang tính chính trị về Đấng Cứu Thế. Qua những chi tiết này, Thánh Mátthêu mời gọi chúng ta luôn phải có một hình ảnh đúng về Chúa Giêsu: Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật. Điều này nói lên mối tương quan Cha-Con mà Ngài có với Thiên Chúa của Israel. Nói cách khác, mối tương quan không thể tách rời giữa Ngài với Chúa Cha quyết định tất cả những thứ khác. Điều này mời gọi chúng ta duyệt xét lại mối tương quan của mình với Thiên Chúa: có phải mối tương quan với Thiên Chúa là điều quyết định tất cả mọi sự trong cuộc sống của chúng ta không?
Lời đáp trả của Chúa Giêsu trước lời tuyên xưng của Thánh Phêrô được Thánh Mátthêu trình bày khác với Thánh Máccô. Trong Tin Mừng Thánh Máccô, chúng ta không tìm thấy lời đáp trả mang tính hài lòng như trong Tin Mừng Thánh Mátthêu. Điều chúng ta tìm thấy là mệnh lệnh giữ im lặng. Thánh Mátthêu cung cấp cho chúng ta những lời cho thấy sự hài lòng của Chúa Giêsu: “Đức Giêsu nói với ông: ‘Này anh Simôn con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời’” (Mt 16:17). Dù hài lòng, nhưng Chúa Giêsu lưu ý Thánh Phêrô rằng Ngài hài lòng về câu trả lời không phải do nỗ lực phàm nhân của Phêrô, nhưng do mạc khải của Chúa Cha. Chi tiết này cũng nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta chỉ sống đẹp lòng Chúa khi chúng ta không dựa vào sức mình, nhưng dựa vào sự trợ giúp của Chúa.
Điểm thứ hai trong những lời đáp trả của Chúa Giêsu mà chúng ta cần lưu ý là việc Chúa Giêsu đổi tên Simon thành Phêrô: Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16:18-19). Theo truyền thống Kinh Thánh, việc đổi tên luôn đi kèm theo một sứ mệnh mới. Thánh Phêrô đón nhận sứ mệnh mới là trở thành “Tảng Đá” để trên đó Chúa Giêsu xây Hội Thánh của Ngài. Từ “Hội Thánh” chỉ xuất hiện ở đây [và trong 18:17]. Từ này ám chỉ đến việc tụ họp dân Chúa. Để hoàn thành sứ mạng của mình, Chúa Giêsu trao cho Thánh Phêrô chìa khoá Nước Trời. Khi sử dụng chữ Nước Trời ở đây, Thánh Mátthêu thiết lập mối liên hệ giữa Hội Thánh và Nước Trời. Nói cách khác, Hội Thánh là “sự xếp đặt mang tính trung gian” để mang ơn cứu độ cho con người giữa thời gian sứ vụ trên trần thế của Chúa Giêsu và việc Nước Trời sẽ đến trong tương lai. Nhìn từ khía cạnh thần học, quyền lực đi theo chìa khoá Nước Trời trao cho Thánh Phêrô là quyền lực mang tính “thụ động.” Điều này có nghĩa là Thiên Chúa sẽ ràng buộc và tháo cởi những gì Thánh Phêrô ràng buộc và tháo cởi. Thánh Phêrô được ban cho một quyền lực rất lớn. Tuy nhiên, bản chất của quyền này là gì? “Ràng buộc” và “tháo cởi” là những thuật ngữ trong truyền thống Do Thái ám chỉ việc ràng buộc thần dữ [ma quỷ] trong khi trừ quỷ. Chúng cũng ám chỉ đến hành động mang tính pháp lý để ra vạ tuyệt thông hoặc đưa ra những quyết định quan trọng cần tuân theo. Chi tiết này cho thấy, Chúa Giêsu đã mang hai truyền thống [Cựu Ước – Do Thái và Tân Ước – Kitô Giáo] lại với nhau. Tóm lại, trong Chúa Giêsu, mọi sự tìm thấy sự hoàn thiện của nó. Chỉ trong Chúa Giêsu, chúng ta tìm thấy sự hoàn thiện cho những gì chúng ta đã trải qua, đang trải qua và sẽ trải qua.
Sau khi trao cho Thánh Phêrô chìa khoá Nước Trời, Chúa Giêsu tiên báo lần đầu tiên về cuộc thương khó của Ngài: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Mt 16:21). Nghe những lời này, Thánh Phêrô không thể chấp nhận. Đấng Kitô mà Thánh Phêrô tuyên xưng không thể chịu đau khổ và bị giết chết. Thánh Phêrô chỉ muốn thần học ân sủng và vinh quang để tách Chúa Giêsu khỏi thập giá của Ngài. Nhưng Chúa Giêsu nhắc nhở Thánh Phêrô về vị trí và giới hạn của mình dù Ngài đã ban cho ông chìa khoá Nước Trời: “Xatan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16:23). Vị trí của Thánh Phêrô là đi theo Chúa Giêsu. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về thực tại của tương quan chúng ta với Chúa. Nhiều lúc thay vì đi theo Chúa, chúng ta dẫn Chúa đi đến nơi chúng ta muốn và làm những điều mang lại vinh quang cho mình hơn là cho Chúa. Chúng ta trở nên “kẻ thù” [xatan] của Chúa khi chúng ta cản lối Chúa, bằng cách đặt tư tưởng và chính mình lên trên tư tưởng và chính Thiên Chúa.
Lm. Anthony, SDB.
…………………………..
Suy Niệm 3: Chúa Giêsu là ai ?
- Sau một thời gian giảng dạy và làm nhiều phép lạ, Đức Giêsu muốn biết người ta nghĩ sao về mình và Ngài cũng muốn hỏi các Tông đồ nghĩ sao về Ngài.
Dân chúng biết mù mờ về Đức Giêsu bởi họ không chú ý đến giáo huấn của Ngài. Lúc này đã gần đến giờ của Đức Giêsu, giờ Ngài sắp bước vào cuộc Thương khó – đỉnh cao của chương trình cứu chuộc nhân loại. Ngài muốn các môn đệ xác tín lập trường của mình, để các ông can đảm theo Ngài. Chúng ta cũng không thể biết Đức Giêsu là ai, nếu chúng ta không quan tâm học hỏi và khám phá. Không biết Đức Giêsu là một thiệt thòi lớn lao. Vì chỉ khi biết Đức Giêsu, chúng ta mới đạt được nguồn bình an và hạnh phúc vĩnh cửu.
- Có nhiều câu trả lời về Chúa Giêsu : người thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó. Mọi câu trả lời đều nói lên phần nào sứ mệnh của Chúa, nhưng chưa đúng hẳn, tức là dân chúng chỉ coi Chúa Giêsu là một tiên tri, tức là một người được Thiên Chúa sai đến để dọn đường cho Đấng Thiên Sai, chứ chưa phải là Đấng Thiên Sai. Vì thế, chỉ với câu trả lời của ông Phêrô :”Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Chúa Giêsu mới hoàn toàn bằng lòng, tức là ông Phêrô tuyên xưng Chúa là Đấng Thiên Sai. Quả thực, tin nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống là diễn tả được cả sứ mạng lẫn con người của Ngài.
- Lời đáp trả của Phêrô quả là một lời tuyên xưng :”Ngài là Đức Kitô” tức là Đấng Thiên Chúa sai đến để giải phóng dân tộc. Tuy nhiên chúng ta thấy, trong cái nhìn của Phêrô và phù hợp với giấc mơ chung của các ông, thì Đức Kitô mà các ông mong đợi là Đấng sẽ đánh đuổi ngoại xâm và biến đất nước thành một vương quốc cường thịnh.
Chính vì thế, khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn Ngài phải trải qua, Phêrô đã can gián Ngài. Tuyên xưng một Đức Kitô Cứu Thế mà không chấp nhận con đường thập giá, Chúa Giêsu gọi đó là thái độ của Satan. Ba cám dỗ của Satan đối với Chúa Giêsu đều qui về một mối là khước từ con đường Thập giá. Do đó, khi Phêrô can gián Ngài từ bỏ ý định cứu rỗi bằng con đường Thập giá, Ngài đã gọi Phêrô là Satan.
- Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống và được Ngài khen là người có phúc. Tuy nhiên, ông không thể chấp nhận Đấng Kitô phải chịu đau khổ và chịu chết như thế được. Cũng như bao người Do thái khác, Phêrô mong đợi một Đấng Kitô như là một vị vua trần thế nắm quyền lực chính trị, giải phóng Israel khỏi ách thống trị Rôma, làm bá chủ thế giới. Nhưng đường lối của Chúa thì khác, con đường hiến thân phụ vụ :”Con người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người”(Mc 10,45)(5 phút Lời Chúa).
- Phêrô và các môn đệ chỉ hiểu được sứ mệnh của Chúa Giêsu khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại. Đấng Kitô là một danh hiệu gắn liền với Thập giá. Mang danh hiệu Kitô, tuyên xưng Đức Kitô cũng có nghĩa là chấp nhận đi theo con đường của Ngài. Phêrô và các môn đệ đã sống đến tận cùng lời tuyên xưng của các ông. Tất cả đều lặp lại cái chết khổ hình của Đức Kitô.
Chúng ta ghi dấu Thánh giá trên người chúng ta, chúng ta mang thánh giá trong người chúng ta, đó không là dấu hiệu của sự chết, nhưng là biểu dương của một sức sống của Đấng đã chết, đã phục sinh và đang tác động trong chúng ta. Nói như thánh Phaolô :”Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”. Chúa Kitô sống trong chúng ta để tiếp tục và hoàn tất chương trình cứu rỗi loài người. Chúa Kitô đã vác Thập giá và đã chết một lần, cuộc Tử nạn ấy cần phải được tiếp tục qua các Kitô hữu. Cũng chính thánh Phaolô đã nói :”Tôi cần phải bổ khuyết những gì còn thiếu sót trong cuộc tử nạn của Chúa Kitô (Mỗi ngày một tin vui).
- Truyện : Ý nghĩa của một bức tượng.
Nhà điêu khắc Dannecker người Đức, đã để nhiều công khó trong công tác tạc một bức tượng của Chúa giêsu bằng cẩm thạch. Trong hai năm đầu, bức tượng đã xong, nhà điêu khắc mời một em bé vào phòng vẽ của mình và hỏi em bé rằng :
– Ai đó ?
Em bé tức khắc trả lời :
– Một vĩ nhân.
Nhà điêu khắc buồn và nghĩ rằng, công khó của mình trong hai năm kể như đã hỏng. Ông tiếp tục tạc lại trong sáu năm nữa và mời một em bé khác vào phòng vẽ và hỏi :
– Em biết bức tượng này là ai không ?
Sau khi nhìn bức tượng một lúc, yên lặng và nước mắt tràn ra đôi mi, em khẽ nói :
– Hỡi những con trẻ đau khổ hãy đến cùng ta !
Nhà điêu khắc thỏa mãn, thành công về tác phẩm của mình. Nhà điêu khắc Dannecker sau đó đã tuyên bố :
– Thôi đã thấy Chúa Cứu Thế Giêsu và hình ảnh của Ngài đã thể hiện trong khi tôi tạc bức tượng Ngài bằng cẩm thạch này.
Sau đó ít lâu, hoàng đế Napoléon Bonaparte yêu cầu nhà điêu khắc tạc cho hoàng đế bức tượng nữ thần Vệ Nữ để trưng bầy trong việc bảo tàng Louvre, Paris. Hoàng đế hứa sẽ trả cho ông một món tiền rất lớn, nhưng Dannecker từ chối. Ông nói rằng :”Một người đã thấy Đấng Kitô và đã tạc vẽ mặt của Ngài rồi thì không thể dùng nghệ thuật của mình vào những việc ở đời này được nữa, bởi vì làm như thế là tục hóa nghệ thuật của mình mất rồi”.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt