Thêm

    Thứ Tư tuần 15 Thường Niên

    BÀI ĐỌC I: Xh 3, 1-6. 9-12

    Trong những ngày ấy, Môsê chăn chiên cho ông nhạc gia là Giêtrô, tư tế xứ Mađian. Ông lùa đoàn chiên qua sa mạc, đến núi Horeb là núi của Thiên Chúa. Thiên Chúa hiện ra với ông trong ngọn lửa cháy từ giữa bụi gai. Ông nhìn thấy bụi gai bốc lửa, nhưng không bị thiêu rụi. Môsê nói: “Ta hãy lại xem cảnh tượng kỳ lạ này, vì sao bụi gai không bị thiêu rụi?” Thiên Chúa thấy ông lại xem, từ giữa bụi gai Người gọi ông: “Môsê, Môsê!” Ông thưa: “Dạ con đây!” Chúa nói: “Ngươi đừng đến gần đây. Hãy cởi dép ở chân ra, vì chỗ ngươi đang đứng là nơi thánh”. Chúa lại nói: “Ta là Thiên Chúa của Tổ phụ ngươi. Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp”. Môsê che mặt, vì không dám nhìn Thiên Chúa. Chúa phán với ông: “Tiếng kêu van của con cái Israel đã thấu đến Ta; Ta đã thấy họ bị người Ai-cập hà hiếp khổ cực. Bây giờ ngươi hãy lại đây, và Ta sai ngươi đến Pharaon, để ngươi dẫn đưa dân Ta là con cái Israel ra khỏi Ai-cập”. Môsê thưa cùng Thiên Chúa rằng: “Con là ai mà dám ra trước mặt Pharaon và dẫn đưa con cái Israel ra khỏi Ai-cập?” Chúa bảo ông: “Ta sẽ ở cùng ngươi; và cứ dấu này mà biết Ta đã sai ngươi: Khi ngươi dẫn đưa dân Ta ra khỏi Ai-cập, thì ngươi hãy tế lễ Thiên Chúa trên núi này”.

     

    PHÚC ÂM: Mt 11, 25-27

    Khi ấy, Chúa Giêsu thưa rằng: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con trừ ra Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho”.

     

    Suy Niệm 1: “VÌ CHA ĐÃ MẠC KHẢI CHO NHỮNG KẺ BÉ MỌN”…

    Một Môsê ở tuổi 40 đã thất bại khi vừa mới bắt đầu ra tay làm điều gì đó cho dân mình. Nay thêm 40 năm nữa trôi qua, Môsê trở thành một ông già 80 tuổi, chẳng còn hoài bão gì to tát, chỉ thủ phận coi sóc bầy chiên hằng ngày cho nhạc gia ở Mađian. Chính cái lúc ‘không phải lúc’ như thế, thì Thiên Chúa đã gọi và trao sứ mạng cho Môsê, như ta thấy trong trình thuật sách Xuất hành hôm nay.

    Biến cố bụi gai bốc cháy mà không thiêu rụi này là bước ngoặt quyết định trong cuộc đời Môsê. Trong câu chuyện tiếng gọi này, Môsê kinh nghiệm vừa sự siêu việt vừa sự gần gũi của Thiên Chúa. “Hãy cởi dép ở chân ra, vì chỗ ngươi đang đứng là nơi thánh”. Lệnh truyền ấy cùng với hình ảnh bụi gai bốc cháy mà không thiêu rụi là chỉ dấu về sự siêu việt, cao cả, uy nghi của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa cũng rất gần gũi, vì Ngài chính là Thiên Chúa của cha ông, và Ngài đang nghe, đang thấy, đang biết, đang động lòng trước tất cả những thảm cảnh xảy ra với con cái Israel là đoàn dân của Ngài…

    Trong nhất thời, Môsê thoái thác điều Chúa đề nghị: “Con là ai mà dám ra trước mặt Pharaon và dẫn đưa con cái Israel ra khỏi Ai-cập?” Môsê ý thức mình đầy giới hạn và bất lực. Nhưng Thiên Chúa đã vô hiệu hoá mọi lý do mà Môsê có thể đưa ra, bằng sự bảo đảm này: “Ta sẽ ở với ngươi”. Bài học kinh điển cho chúng ta ở đây: Có Chúa thì không gì là không thể được! Và câu chuyện 40 năm cuộc đời tiếp theo của Môsê sẽ chứng minh hùng hồn cho điều đó.

    Chúa Giêsu đến. Người cũng cho thấy sự siêu việt của Chúa Cha là “Chúa trời đất”. Đó là sự siêu việt làm cho sự khôn ngoan thông thái của con người trở thành vô duyên như trò trẻ con. Nhưng Thiên Chúa lại mạc khải chính Ngài cho những kẻ bé mọn (như Ngài đã gọi một Môsê yếu ớt an phận ở tuổi 80 thay vì một Mô sê tràn đầy sức mạnh ở tuổi 40).

    Chúa Giêsu cũng phát huy truyền thống ‘đứng về phía những người bé mọn’ ấy. “Không ai biết Con trừ ra Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và những kẻ Con muốn mạc khải cho”!

    Chúng ta không còn ngờ gì nữa. Chỉ sự nhận biết Chúa Giêsu, và qua đó nhận biết Chúa Cha, mới là sự hiểu biết đích thực và có tính quyết định. AI (artificial intelligence, trí tuệ nhân tạo) dù gây phấn khích đến đâu cũng chỉ quanh quẩn và bế tắc mà thôi. Chỉ có sự hiểu biết do Chúa ban (God-given intelligence) mới là loại trí tuệ làm cho người ta trở nên ‘người’ đích thực.

    Nếu chúng ta không bé mọn, sẽ khó mà nhận được loại ‘trí tuệ Chúa ban’ ấy!

     

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ………………………………

    Suy Niệm 2: SỐNG KHIÊM NHƯỜNG ĐỂ HIỂU MẦU NHIỆM NƯỚC THIÊN CHÚA

    Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta về việc Đức Chúa gọi Môsê. Ngài đồng thời trao cho Môsê một sứ mệnh, đó là đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập. Khi suy gẫm câu chuyện Đức Chúa gọi Môsê chúng ta hãy liên tưởng đến câu chuyện Đức Chúa gọi mỗi người chúng ta. Chúng ta cùng nhau chia sẻ về những yếu tố căn bản trong ơn gọi của Môsê.

    Thứ nhất, Chúa gọi trong khi Môsê đang làm công việc thường ngày của mình: “Bấy giờ, ông Môsê đang chăn chiên cho bố vợ là Gítrô, tư tế Mađian. Ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến núi của Thiên Chúa, là núi Khôrếp” (Xh 3:1). Thiên Chúa thường đến với chúng ta cách âm thầm và nhẹ nhàng trong những biến cố của ngày sống. Ngài thường đến khi chúng ta thực hiện những công việc mà chúng ta xem là đơn điệu, không mấy thú vị; những công việc mà nhiều khi chúng ta cảm thấy như là gánh nặng để kiếm kế sinh nhai. Điểm này nhắc nhở chúng ta rằng: Thiên Chúa không chỉ được tìm thấy trong những gì “ngoại thường,” nhưng hơn hết trong những cái “bình thường” của ngày sống. Chỉ những ai hiểu được chân lý này mới có thể thực hiện những công việc “đơn điệu và nhàm chán” của ngày sống với niềm vui vì cảm nhận được sự hiện diện và đồng hành của Chúa.

    Thứ hai, Đức Chúa sử dụng những sự vật bình thường để biến thành những thứ ngoại thường như dấu chỉ của ơn gọi: “Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây. Ông Môsê nhìn thì thấy bụi cây cháy bừng, nhưng không bị thiêu rụi” (Xh 3:2). Có thể ông Môsê đã nhìn thấy bụi gai này mỗi ngày. Nhưng hôm nay, bụi gai lại khác. Điều này chứng tỏ Môsê có thái độ quan sát môi trường sống, đồng thời nhạy cảm nhận ra sự “ngoại thường” trong những sự “bình thường.” Yếu tố thứ hai này mời gọi chúng ta vun trồng thái độ tìm kiếm sự hiện diện của Chúa trong môi trường sống của mình [qua những sự vật chúng ta tiếp xúc mỗi ngày].

    Thứ ba, Môsê tự hỏi về sự ngoại thường trong cái bình thường: “Mình phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ này mới được: vì sao bụi cây lại không cháy rụi?” (Xh 3:3). Việc “ao ước nhìn xem cảnh tượng kỳ lạ” là bước đầu tiên để tiến đến gần Chúa và nhận ra tiếng Ngài đang gọi. Yếu tố thứ ba trong quá trình ơn gọi là biết chất vấn sự “ngoại thường” trong cái “bình thường.” Nói một cách cụ thể, khi đối diện với một sự khác biệt [thay đổi] trong công việc thường ngày, chúng ta cần phải biết rằng Chúa đang kêu gọi chúng ta nhận ra một điều gì đó mà Ngài đang muốn nơi chúng ta. Càng nhạy cảm với sự khác biệt [thay đổi] trong sự kiện thường ngày, đồng thời biết đọc chúng trong ánh sáng đức tin, chúng ta sẽ nhận ra điều Chúa muốn nơi chúng ta.

    Thứ tư, đối thoại giữa Đức Chúa và Môsê (x. Xh 3:4-6). Theo cấu trúc của bài đọc, phần này là phần quan trọng nhất. Ơn gọi là cuộc đối thoại thân tình giữa Đức Chúa, Đấng gọi và môn đệ, người được gọi. Cuộc đối thoại xảy ra như sau:

    Đức Chúa [thấy Môsê lại xem bụi gai cháy]: “Môsê! Môsê!”

    Môsê: “Dạ, tôi đây!”

    Đức Chúa: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh.”

    Đức Chúa: “Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác, Thiên Chúa của Giacóp.”

    [Môsê che mặt đi, vì sợ nhìn phải Thiên Chúa]

    Đây là một kiểu mẫu đối thoại về ơn gọi trong Kinh Thánh. Thiên Chúa gọi đích danh người Ngài muốn gọi, còn người được gọi mau mắn đáp lời. Thiên Chúa nhắc lại lời hứa mà Ngài vẫn luôn trung thành qua dòng lịch sử. Một điều Ngài đòi hỏi nơi người được gọi, đó là “kính sợ” Ngài. Sự kính sợ này là “đầu mối mọi khôn ngoan.” Tóm lại, ơn gọi luôn là một cuộc đối thoại đầy yêu thương giữa người gọi và sự đáp trả đầy “kính sợ” của người môn đệ.

    Thứ năm, Đức Chúa trao sứ mệnh: “Giờ đây, tiếng rên siết của con cái Israel đã thấu tới Ta; Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai Cập. Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Pharaô để đưa dân Ta là con cái Israel ra khỏi Ai Cập” (Xh 3:9-10). Không có ơn gọi nào không có sứ mệnh. Dù sứ mệnh đó lớn hay nhỏ, điều đó không quan trọng. Nhiều khi người được gọi để cho mình bị chi phối bởi “loại sứ mệnh” hơn là “bản chất sứ mệnh.” Khi quan tâm đến loại sứ mệnh, chúng ta dễ dàng rơi vào tình trạng so sánh, rồi dẫn đến ghen tỵ. Nhưng khi tập trung vào “bản chất sứ mệnh,” đó là cộng tác với Chúa trong công trình cứu độ, thì chúng ta chỉ quan tâm một điều là hoàn thành sứ mạng dù sứ mạng nhỏ hay lớn. Tóm lại, đừng quá quan tâm đến loại việc chúng ta làm, nhưng hãy lưu tâm đến “bao nhiêu tình yêu” chúng ta để vào trong loại việc chúng ta làm.

    Thứ sáu, Môsê nhận ra sự bất xứng của mình: “Con là ai mà dám đến với Pharaô và đưa con cái Israel ra khỏi Ai Cập?” (Xh 3:11). Thái độ cảm thấy bất xứng trước ơn gọi Chúa ban là thái độ nền tảng giúp người được gọi trở nên khiêm nhường trước mặt Chúa. Như vậy, chỉ những người khiêm nhường mới hiểu được chiều sâu của mầu nhiệm ơn gọi.

    Cuối cùng, Đức Chúa khẳng định sự chọn lựa của Ngài: “Ta sẽ ở với ngươi. Và đây là dấu cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi: khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai Cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi này” (Xh 3:12). Sự bất xứng của con người sẽ được “bổ sung” bởi sự “hiện diện và đồng hành” đầy yêu thương của Chúa. Câu “Ta sẽ ở với ngươi” là câu điệp khúc trong Kinh Thánh. Câu này nhắc nhở chúng ta rằng: Trong hành trình ơn gọi, không có điều gì quan trọng cho bằng việc tin nhận và cảm nhận cách sâu xa việc Chúa luôn ở với mình. Chỉ những người hiểu điều này mới có được niềm vui, bình an hầu có thể đứng vững trong ơn gọi.

    Sau khi khiển trách các thành thấy phép lạ Ngài làm nhưng không sám hối, Chúa Giêsu cất lên lời chúc tụng Chúa Cha vì đã mạc khải cho những người bé nhỏ mầu nhiệm cao siêu về tình yêu Ngài mà các thành lớn đã không nhận ra. Đoạn Tin Mừng hôm nay cũng được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca (10:21-22). Trong đoạn trích ngắn ngủi này, Chúa Giêsu xuất hiện như Đấng mạc khải về khôn ngoan Thiên Chúa. Cấu trúc của đoạn trích hôm nay như sau: (1) lời tạ ơn của Chúa Giêsu về mạc khải và (2) nội dung của mạc khải.

    Chúa Giêsu bắt đầu với công thức chúc tụng đặc trưng của người Do Thái: “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất” (Mt 11:25). Nhưng với Chúa Giêsu, Ngài sử dụng từ “Abba” [lặp lại 5 lần trong 3 câu] để nói lên mối tương quan mật thiết giữa Ngài với Thiên Chúa của người Do Thái. Còn chữ “bé mọn” theo nghĩa đen của từ là nói đến những người đơn sơ, không có chữ nghĩa. Khi nói đến mạc khải là chúng ta nói đến sự “vén mở” hoặc sự thông truyền của Thiên Chúa về chính mình cũng như kế hoạch cứu độ. Trong bối cảnh của đoạn Tin Mừng hôm nay, câu 26 nói đến điều đẹp ý Chúa là mạc khải cho những con người đơn sơ, không chữ nghĩa. Điều này nói về việc ơn cứu độ là thuộc quyền của Thiên Chúa. Ngài quyết định chọn lựa một số để đón nhận ơn cứu độ, đồng thời trở thành khí cụ rao giảng Nước Trời. Ngài chọn ai là ý của Ngài. Tiêu chuẩn Ngài sử dụng để chọn lựa hoàn toàn khác với tiêu chuẩn con người đưa ra. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng: ơn gọi là một huyền nhiệm chỉ chìm sâu trong biển tình yêu và lòng thương xót của Chúa, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa đích thực của nó.

    Bài Tin Mừng kết với câu 27, nói về nội dung của mạc khải và Chúa Giêsu chính là “truyền thống cá vị” của Thiên Chúa: “Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.” Trong câu này, chúng ta thấy Chúa Giêsu khẳng định rằng Ngài là con đường độc nhất vô nhị để đến với sự hiểu biết và tình yêu của Chúa Cha. Đồng thời câu nói cũng ám chỉ sự hiểu biết và yêu thương mang tính hỗ tương giữa Ngài với Chúa Cha. Chúa Giêsu là mạc khải duy nhất về Chúa Cha. Theo một số thần học gia về Kitô học, câu nói này là câu nói quan trọng nhất về căn tính và sứ mệnh của Chúa Giêsu. Như thế, nó có một vị trí quan trọng trong Kitô học. Nói cách cụ thể, nếu không có Chúa Giêsu, chúng ta sẽ không thể nào biết được Thiên Chúa. Chỉ trong Đức Kitô, chúng ta tìm thấy con đường đến với Chúa Cha. Chi tiết này cho thấy, mầu nhiệm ơn gọi chỉ được giải thích cách rõ ràng trong mầu nhiệm Chúa Giêsu. Người không để Chúa Giêsu chiếm lấy, sẽ sống ơn gọi mình cách hời hợt và nông cạn! Vì họ không biết được mạc khải mà Chúa Giêsu mang đến để soi chiếu cho huyền nhiệm ơn gọi của họ.

    Lm. Anthony, SDB.

     

     

    …………………………………………

    Suy Niệm 3: Chúa mạc khải cho kẻ bé mọn

    1. Sau khi khiển trách những thành ven Biển hồ đã không tin Ngài vì cậy vào sự thông thái của mình. Chúa Giêsu lên tiếng tạ ơn và chúc tụng Chúa Cha đã mạc khải Tin Mừng cho những người bé mọn, tức là những người “nghèo trong tinh thần” mà Ngài đã nói trong bài giảng về Bát phúc, những người tội lỗi, những kẻ ít học.
      Người hèn mọn là đối tượng của lòng Chúa xót thương. Chúng ta tìm kiếm xem tại sao Thiên Chúa lại thiếu cảm tình  với người khôn ngoan, thông thái ? Phải chăng Thiên Chúa ganh tỵ với họ ? Hay phải chăng Thiên Chúa chỉ muốn con người kém cỏi, hèn mọn ?
    1. Qua lời cầu nguyện cùng Cha, Chúa Giêsu cho chúng ta biết : Thiên Chúa là Cha, là chủ tể vũ trụ vạn vật, Ngài hoàn toàn tự do và đầy yêu thương, Ngài tỏ mình cho ai là sáng kiến của Ngài, Ngài muốn chỉ bảo ai điều gì, khi nào và thế nào là tùy ý Ngài. Nhưng chắc chắn Ngài không tỏ mầu nhiệm Nước Trời cho những người tự phụ là khôn ngoan thông thái theo quan niệm của thế gian mà chỉ tỏ cho những người đơn sơ bé mọn.
      Cụ thể những người biệt phái, những luật sĩ là hạng người được coi là trí thức thông thái, đã không tiếp nhận Tin Mừng của Chúa và không nhận Ngài là Đấng  đã được tiên báo trong Thánh Kinh mà họ nghiên cứu tỉ mỉ. Trái lại, những kẻ đơn sơ bé mọn như các Tông đồ, là những người ít học mà các luật sĩ và biệt phái khinh thường, nhưng những kẻ bé mọn đó lại đón nhận Tin Mừng, tin nhận Ngài là Cứu Chúa và làm theo lời Ngài chỉ dạy.
    1. “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn (Mt 11,25).
      “Mặc khải” có nghĩa là làm cho những gì đã giấu kín được tỏ lộ ra. Mang ra ánh sáng  những gì đang ở trong bóng tối, hay làm cho một người hiểu những gì họ chưa biết hay còn mù mờ. Chúa Giêsu so sánh giữa những người khôn ngoan thông thái  với kẻ bé mọn để dạy mọi người  cần có thái độ của trẻ thơ : tin tưởng, khiêm nhường, ham  học hỏi, để người chuyển thông cho họ những kiến thức về Thiên Chúa. Bởi vì, thái độ kiêu hãnh và nghi ngờ sẽ cản người ta nhận ra những gì Thiên Chúa muốn mạc khải cho.
      Để hiểu mầu nhiệm Nước Trời, con người cần có thái độ khiêm nhường : trông cậy hoàn toàn vào Thiên Chúa chứ không phải ỷ vào sức mình.
    1. Chúng ta cần trở nên những người bé mọn theo tinh thần Phúc âm, để cảm nếm và sống hòa hiệp với Thiên Chúa. Đức tin Kitô giáo hướng dẫn chúng ta đến một con người cụ thể, một vị Thiên Chúa chấp nhận sống với con người, chứ không phải những lý lẽ thần học cao siêu. Một con người khiêm tốn có thể có đức tin sâu xa  hơn một nhà thông thái. Đức tin là một hồng ân cần được lãnh nhận  hơn là kết quả của sưu tầm trí thức của con người.
      Thánh Têrêsa Avila, tuy không học hành nhiều, nhưng đã có kinh nghiệm sống động về Thiên Chúa và đã trình bầy kinh nghiệm thiêng liêng của mình một cách tốt đẹp, đến nỗi đã được đặt làm tiến sĩ Hội thánh, vì giáo huấn của thánh nữ để lại là kho tàng thiêng liêng quí báu giúp mọi thành phần Giáo hội đến với mầu nhiệm Thiên Chúa (Mỗi ngày một tin vui).
    1. Hãy trở nên bé mọn trước Thiên Chúa.
      Người leo núi có những tâm trạng trái ngược nhau. Đứng ở dưới mặt đất bằng, tầm mắt người ta thật hạn hẹp; nhưng khi leo lên tới đỉnh núi thì ngay lập tức lại thấy mình thật bé nhỏ và bị nhấn chìm trước quang cảnh đang trải rộng dưới chân. Có thể mượn tâm trạng đó để cảm nghiệm sự sâu thẳm vô biên của Mầu nhiệm Thiên Chúa. Có dám bỏ vị trí lè tè chật chội  của cái tôi ích kỷ và đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống thánh thiện, lúc đó người ta mới thấy được sự nhỏ bé của mình và đồng thời cảm nhận được sự cao cả thánh thiện của Thiên Chúa.
      Bạn không nhất thiết phải là người mù chữ thất học mới có thể đặt niềm tin vào Thiên Chúa. Trái lại, như người ta thương nói :”Càng học càng thấy mình dốt”, điều kiện ban đầu để đến với Thiên Chúa không phải là bằng cấp này, học vị kia mà là thái độ khiêm tốn. Chính nhờ nhận biết mình bé mọn bạn có thể sẵn sàng đón nhận mạc khải của Chúa. Và một khi đã bước vào thế giới của mầu nhiệm, bạn sẽ càng thấy mình bé mọn và càng khao khát Thiên Chúa nhiều hơn nữa (5 phút Lời Chúa).
    1. Truyện : Đám táng Thiên Chúa.
      “Thiên Chúa đã chết”, đó là câu nói của triết gia Nietzche mà sau này được nhiều người lặp lại. Ngày nọ, những người này muốn cử hành lễ nghi an táng để từ biệt ý nghĩ Thiên Chúa hiện hữu. Họ nhờ bác phu già trông coi nghĩa trang  đào sẵn cho một cái huyệt. Hiện diện trong buổi lễ, ngoài bác phu già, tất cả đều là bậc trí thức trong xã hội. Khi người chủ trì khai mạc buổi lễ thì bác phu già la lên :

                – Không thể được, vì quan tài chưa đến.
    Thiên Chúa vô hình, cần gì đến quan tài để tẩm liệm. Một vài người xúm lại kéo bác phu già ra xa, nhưng ông vùng vẫy và la lớn :
    – Không. Thiên Chúa không chết. Thỉnh thoảng không ngủ được, ra đây ngồi, tôi vẫn nghe tiếng tim Ngài đập, nếu không tin, tối nay tụ họp lại đây quí vị sẽ thấy.
    Động tính hiếu kỳ, họ bỏ dở buổi lễ và hẹn nhau tối sẽ trở lại. Tuy nhiên,  tiếng động bên ngoài vọng lại khiến suốt đêm họ không thể nhận ra đâu là tiếng đập của quả tim Thiên Chúa. Họ dời tụ điểm đến một vùng quê, nhưng vắng tiếng động thành phố thì lại có tiếng côn trùng. Cuối cùng họ quyết định gặp nhau tại sa mạc. Bầu khí tĩnh mịch của sa mạc về đêm làm họ cảm thấy được cất khỏi gánh nặng lo toan, trở về với cõi lòng và chăm chú lắng nghe. Bỗng một người la to :” Tôi đã nghe thấy”. Nhiều người khác phụ họa :”Chúng tôi cũng đã nghe thấy”. Có người phân tích âm thanh của nó  giống như âm thanh của mỗi lần cố gắng sống hoàn thiện. Họ đã tin phục lời bác phu già và nhất là tìm lại được niềm tin.

     

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

                                                                                       

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com