Thêm

    Thứ Bảy tuần 14 Thường Niên

    BÀI ĐỌC I: St 49, 29-33; 50, 15-24

    Trong những ngày ấy, Giacóp trối lại cho các con rằng: “Cha sắp về sum họp cùng dân cha. Các con hãy chôn xác cha gần mồ cha ông, trong hang đôi ngoài cánh đồng của Êphron, người Hêthê, ngang thung lũng Mambrê trong đất Canaan, mà Abraham đã mua của Êphron, người Hêthê, để làm nghĩa trang. Nơi đó đã mai táng Abraham và bạn ông là Sara, nơi đó cũng đã mai táng Isaac và bạn ông là bà Rébecca, nơi đó cũng đã mai táng bà Lia”. Trối cho các con xong, Giacóp rút chân lên giường và trút hơi thở, trở về sum họp với dân người. Khi Giacóp đã qua đời, anh em của Giuse lo sợ và nói với nhau rằng: “Có khi Giuse còn nhớ sự sỉ nhục đã phải chịu mà trả đũa lại điều ác mà chúng ta đã làm chăng?” Họ liền sai người đến nói với Giuse rằng: “Trước khi chết, cha ngài đã trối lại cho chúng tôi là hãy lấy lời cha mà nói với người rằng: “Cha xin con hãy quên tội ác và lỗi lầm của các anh con đã làm cho con”. Chúng tôi cũng xin ngài tha thứ tội ác của các tôi tớ Thiên Chúa của cha ngài”. Nghe vậy, Giuse bật khóc lên. Các anh em của Giuse đến sấp mình xuống đất mà nói rằng: “Chúng tôi là tôi tớ của ngài”. Giuse đáp rằng: “Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao? Các anh đã lo nghĩ sự dữ cho tôi, nhưng Thiên Chúa đã đổi nó ra sự lành để tôi được vinh hiển như anh em thấy hôm nay và để cứu sống nhiều dân tộc. Anh em đừng sợ, chính tôi sẽ nuôi dưỡng anh em và con cái anh em”. Ông đã an ủi và lấy lời êm dịu hiền lành mà nói với anh em. Giuse và gia quyến cha của ông đã cư ngụ trong nước Ai-cập, và ông sống được một trăm mười tuổi. Ông đã được thấy con cái của Ephraim đến ba đời. Con cái của Makir, là con của Manassê cũng đã sinh ra trên đầu gối Giuse. Các việc ấy đã qua đi, Giuse đã nói cùng anh em: “Sau khi tôi chết, Thiên Chúa sẽ thăm viếng anh em, và dẫn anh em ra khỏi đất này và đưa đến đất mà Người đã thề hứa ban cho Abraham, Isaac và Giacóp”.

    PHÚC ÂM: Mt 10, 24-33

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Môn đệ không hơn thầy, và tôi tớ không hơn chủ mình. Môn đệ được bằng thầy, tôi tớ được bằng chủ mình thì đã là khá rồi. Nếu họ đã gọi chủ nhà là Bêelgiêbul thì huống hồ là người nhà của Ngài. Vậy các con đừng sợ những người đó, vì không có gì che giấu mà không bị thố lộ; và không có gì kín nhiệm mà không hề hay biết. Điều Thầy nói với các con trong bóng tối, hãy nói nơi ánh sáng; và điều các con nghe rỉ tai, hãy rao giảng trên mái nhà. “Các con đừng sợ kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn. Các con hãy sợ Đấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống địa ngục. Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ: các con còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần. “Vậy ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt người đời, thì Thầy sẽ chối nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời”.

    Suy Niệm 1: TRONG CÂU CHUYỆN CỦA THIÊN CHÚA: LÒNG TỐT SẼ THẮNG

    Gia cóp qua đời. Anh em của Giuse lo sợ rằng khi cha không còn nữa, Giuse sẽ đòi nợ/báo oán về chuyện cũ… Nhưng Giuse không hề toan tính chuyện đó, trái lại vẫn một mực nhân hậu, từ tâm đối với các anh mình. Giuse trấn an các anh em: “Anh em đừng sợ! Nào chúng ta có thể chống lại thánh ý Chúa sao? Các anh đã lo nghĩ sự dữ cho tôi, nhưng Thiên Chúa đã đổi nó ra sự lành để tôi được vinh hiển như anh em thấy hôm nay và để cứu sống nhiều dân tộc. Anh em đừng sợ, chính tôi sẽ nuôi dưỡng anh em và con cái anh em”.

    Thật tuyệt vời. Giuse ý thức câu chuyện cuộc đời mình nằm trong câu chuyện của Thiên Chúa, nhất là ý thức rằng Thiên Chúa rút điều tốt lành ra từ sự dữ của con người. Không mảy may oán hận; chỉ làm ơn thôi! Và bằng cung cách ấy, Giuse đã là hình ảnh báo trước về Chúa Giêsu chịu khổ nạn để đem ơn cứu độ cho mọi người.

    Chúa Giêsu cũng trao thông điệp ‘đừng sợ’, dựa trên sự thật rằng sự dữ của con người không thắng được quyền năng và lòng tốt của Thiên Chúa: “Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha anh em không biết đến. Phần anh em, tóc trên đầu anh em đã được đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ: anh em còn đáng giá hơn chim sẻ bội phần.”

    Vậy chúng ta đừng sợ. Hãy ý thức rằng câu chuyện cuộc đời của mỗi chúng ta sẽ có ý nghĩa tuỳ mức gắn kết với câu chuyện cứu độ của Thiên Chúa. Dù điều gì xảy đến với chúng ta đi nữa, Thiên Chúa tốt lành vẫn luôn rút ra được cho ta những điều tốt lành!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ……………………………

    Suy Niệm 2:  HÃY SỢ LÀM MẤT LÒNG CHÚA!

    Có câu nói mà chúng ta thường hay dùng để nói cho nhau nghe [đôi khi để chọc ghẹo nhau] là: “Suy bụng ta ra bụng người.” Một cách nào đó, câu nói này phản ánh câu chuyện được trình thuật trong bài đọc 1 hôm nay. Khi đọc kỹ bài đọc 1, chúng ta không khỏi bất ngờ vì trong cùng một bài đọc, chúng ta chứng kiến cái chết của hai người quan trọng, đó là Giacóp và Giuse. Tuy nhiên, điều đáng để chúng ta lưu ý là cấu trúc của bài đọc: mở đầu với cái chết của Giacóp và kết với cái chết của Giuse. Phần ở giữa nói về cuộc đối thoại giữa Giuse và anh em. Những chi tiết này muốn nói với chúng ta điều gì? Chúng nói lên sự thật của cuộc sống: Ai trong chúng ta cũng phải chết. Điều quan trọng là chúng ta phải sống thế nào để có một “cái kết” đầy phúc lành. Để có một cái kết hạnh phúc chúng ta phải làm gì? Câu trả lời được tìm thấy trong phần đối thoại giữa Giuse và anh em của ông.

    Sau khi ông Giacóp qua đời, các anh ông Giuse nghĩ rằng ông Giuse còn hận các ông rồi sẽ trả thù:“Không khéo Giuse còn hận chúng ta và trả lại cho chúng ta tất cả điều ác chúng ta đã gây ra cho nó!” (St 50:15). Đọc những lời này, chúng ta có cảm giác như các người anh của Giuse đang “suy bụng ta ra bụng người.” Để tránh việc bị ông Giuse trả thù, các người anh lại “bịa chuyện” là Giacóp nói ông Giuse phải tha cho họ trong những lời sau: “Cha của chú trước khi chết đã truyền rằng: Các con hãy nói thế này với Giuse: ‘Thôi! Xin con tha tội tha lỗi cho các anh con, vì họ đã gây ra điều ác cho con.’ Bây giờ xin chú tha tội cho các kẻ làm tôi Thiên Chúa của cha chú!” Các ông không phải là người đến xin tha thứ, nhưng sai người khác đến với một “lời trăn trối của Giacóp” được các ông dựng lên. Đứng trước thái độ của những người anh, “ông Giuse khóc.” Ông khóc không phải bất kỳ lý do nào khác ngoài tâm tình đầy yêu thương và tha thứ mà cha ông muốn ông đối xử với anh em ông. Khi biết đã lấy được lòng của ông Giuse qua lời “trăn trối của Giacóp,” các anh ông Giuse đích thân đến xin tha thứ. Những lời ông Giuse nói cho các anh ông là điều đáng để chúng ta suy gẫm để sống hầu đạt được một cái kết hạnh phúc: “Đừng sợ! Tôi đâu có thay quyền Thiên Chúa! Các anh đã định làm điều ác cho tôi, nhưng Thiên Chúa lại định cho nó thành điều tốt, để thực hiện điều xảy ra hôm nay, là cứu sống một dân đông đảo. Bây giờ các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh” (St 50:19-21). Tóm lại, để có một cái kết tốt đẹp, chúng ta phải sống cuộc sống này với trọn tình yêu, đồng thời luôn sẵn sàng tha thứ cho những người làm hại chúng ta.

    Chi tiết thứ hai đáng để chúng ta suy gẫm là lời trăn trối của ông Giuse: “Tôi sắp chết, nhưng thế nào Thiên Chúa cũng sẽ viếng thăm anh em và đưa anh em từ đất này lên đất mà Người đã thề hứa với ông Ápraham, ông Ixaác và ông Giacóp” (St 50:24). Qua những lời này, ông Giuse cho chúng ta thấy rằng dù sống trong vinh hoa phú quý trong đất Ai Cập, nhưng ông luôn mong ước được trở về đất hứa, đất mà Thiên Chúa đã hứa cho tổ phụ của ông. Ông bắt con cái Israel phải thề để đem ông ra khỏi đất Ai Cập, đất mà ông có tất cả vinh quang, nhưng đối với ông cũng là vùng đất nô lệ. Ông muốn ở với dân của ông trong đất hứa. Về phần chúng ta, đâu là nơi chúng ta mong được an nghỉ: đất Chúa hứa ban hay trần gian này với những niềm vui chóng qua?

    Niềm vui và nỗi buồn của kiếp nhân sinh được trình bày trong bài đọc 1 cũng là điều các môn đệ Chúa Giêsu phải đối diện trong hành trình rao giảng Tin Mừng. Bài Tin Mừng hôm nay gồm ba phần: Phần 1 (Mt 10:24-25) tiếp tục lời Chúa Giêsu dạy về việc làm thế nào để đối diện với sự bách hại trong tương lai; phần 2 (Mt 10:26-31) nói về điều đáng sợ và điều không đáng sợ; phần 3 (Mt 10:32-33) trình bày về tầm quan trọng của việc tuyên xưng Chúa Giêsu trước mặt người khác. Chúng ta cùng nhau rút ra ba sứ điệp từ ba phần để sống trong ngày hôm nay.

    Trong phần 1, Chúa Giêsu nói với các môn đệ lý do tại sao các ông bị bách hại: “Trò không hơn thầy, tớ không hơn chủ. Trò được như thầy, tớ được như chủ, đã là đủ rồi. Chủ nhà mà người ta còn gọi là Bêendêbun, huống chi là người nhà.” Câu này và những câu khác trong hai phần sau rất quan trọng để hiểu về ơn gọi của người môn đệ Chúa Giêsu trong các sách Tin Mừng. “Môn đệ” có nghĩa là “người học” hay “sinh viên.” Người theo Chúa Giêsu là người “sinh viên suốt đời” của Chúa Giêsu, bởi vì những gì Ngài dạy là sự khôn ngoan về cuộc sống. Tương quan thầy trò trong bối cảnh Do Thái là việc người học trò sau khi học xong những gì thầy phải dạy, tiếp tục đi đến học với thầy khác và sau đó chính mình trở thành thầy dạy. Để ngăn điều này xảy ra trong tương quan của người môn đệ với Chúa Giêsu, Thánh Mátthêu thêm vào câu “tớ được như chủ” để nói lên rằng: đối với người tin hữu, Chúa Giêsu không chỉ là thầy, nhưng còn là chủ, là Chúa. Trong câu này, Chúa Giêsu nói đến khả thể người môn đệ được chia sẻ trong cùng vinh quang, cũng như trong cùng khổ nạn mà Ngài phải chịu. Chúng ta luôn muốn được chia sẻ trong vinh quang của Chúa Giêsu, nhưng lại không muốn chia sẻ trong đau khổ. Người môn đệ chân thật là người sẵn sàng đón nhận tất cả mọi sự đến từ Chúa. Chúng ta đã có thái độ sẵn sàng này chưa?

    Mỗi người trong chúng ta ai cũng có nỗi sợ riêng của mình. Chúa Giêsu, trong phần 2 của bài Tin Mừng, nói cho các môn đệ về một nỗi sợ mà họ cần phải có. Ngài nói họ phải sợ và không phải sợ ai; không phải sợ và phải sợ điều gì. Một cách cụ thể, người môn đệ không “sợ người ta” vì người ta “chỉ giết thân xác mà không giết được linh hồn,” nhưng người môn đệ sợ Thiên Chúa, “Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” Tuy nhiên, sứ điệp của phần này nằm trong lối viết “bánh mì kẹp”: câu 26 và câu 31 bắt đầu với những lời: “Vậy anh em đừng sợ.” Phần giữa nói về thực tế bị bách hại và giết chết mà người môn đệ phải đối diện khi rao giảng Tin Mừng. Trong phần giữa, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ phải can đảm trong việc rao giảng: “Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.” Nhưng khi rao giảng những điều bí mật và điều rỉ tai [mầu nhiệm Nước Trời], các môn đệ sẽ bị người ta giết thân xác. Đối diện với bắt bớ, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ đặt trọn niềm tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng quan tâm chăm sóc cho cả sự sống rẻ nhất: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em.” Qua những lời này, Chúa Giêsu muốn nói với người môn đệ rằng: Chỉ có những người có đức tin vững mạnh mới có thể đứng vững trước bách hại, trước những khó khăn và nguy hiểm về thân xác mà đời sống rao giảng mang lại cho người môn đệ.

    Cuối cùng, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ về mối tương quan giữa việc tuyên xưng hoặc chối bỏ Ngài trong đời sống hiện tại với việc Ngài sẽ đón nhận hoặc chối bỏ họ trong đời sống mai sau. Khi liên kết tư tưởng này với phần thứ 2, chúng ta nhận ra rằng: khi không sợ những người chỉ giết thân xác, người môn đệ mới hiểu được tầm quan trọng trong việc tuyên xưng Chúa Giêsu trước mặt người khác. Nói cách khác, khi không sợ con người nhưng kính sợ Thiên Chúa, người môn đệ mới hiểu được ý nghĩa của câu: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” Trong những lời này, Chúa Giêsu cho thấy chúng ta có tự do trong việc nhận hay chối Ngài. Việc nhận hay chối của chúng ta là yếu tố quyết định việc Ngài nhận hay chối chúng ta trước mặt Chúa Cha. Quyết định ở trong tầm tay mình! Chúng ta sẽ quyết định như thế nào: nhận hay chối Ngài!

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………….

    Suy Niệm 3: Chúa trấn an và khích lệ các Tông đồ

    1. Chúa Giêsu cho các môn đệ biết : Tôi tớ không thể hơn chủ. Người ta đã đối xử tệ bạc với Thầy thì người ta cũng đối xử với các con tệ bạc hơn. Nhưng các con đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn các con. Các con cứ mạnh dạn tuyên bố điều Thầy nói riêng với các con. Mọi sự sẽ có Cha trên trời lo cho các con, vì các con trọng hơn chim sẻ nhiều. Ai nhận Thầy trước mặt người đời thì Thầy cũng nhận người đó trước mặt Cha Thầy . Còn ai chối Thầy thì Thầy cũng chối kẻ ấy.
    1. “Môn đệ không hơn Thầy, tôi tớ không hơn chủ”.
      Cha ông chúng ta thường nói rằng :”Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”, nghĩa là con cái và cháu chắt thừa kế nhiều nét giống nhau từ cha mẹ và ông bà mình. Trong bài Tin Mừng Chúa Giêsu cũng có ý nói : Chúa Giêsu thế nào thì những ai theo Chúa  cũng như vậy. Kitô hữu là những người phải nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu.
      Cách so sánh trên đây cho thấy lý do gây ra bách hại, là sự đồng nhất sâu xa giữa Chúa Giêsu và các Tông đồ. Chính khi chịu bách hại, người Tông đồ nên giống Chúa Giêsu hơn. Điều này an ủi, khích lệ và tăng thêm sức mạnh cho các Tông đồ khi phải đương đầu với những khó khăn.
      Chúa Giêsu đã đi trên con đường của nghèo khó, thua thiệt, bách hại, thập giá, tha thứ  và tha thứ cho đến cùng. Nhưng Chúa Giêsu không chỉ đề ra cho chúng ta thấy một lý tưởng, một con đường để đi theo. Ngài chính là con đường, là sự thật và là sự sống. Chúng ta tin rằng nếu chúng ta kết hiệp với Ngài, chúng ta sẽ được sức mạnh của Ngài để thắng vượt mọi gian nan thử thách. Chúng ta cũng tin rằng bên kia những hao mòn và chết chóc trong thể xác, tâm hồn chúng ta sẽ được mãi mãi kết hiệp với Ngài.
    1. “Các con đừng sợ người ta”.
      Phản ứng tự nhiên của con người trước khó khăn, bách hại, là lo sợ. Chúa Giêsu đã khuyên các Tông đồ can đảm làm chứng cho Ngài, và Ngài cũng khuyên họ đừng sợ.  Đừng sợ những kẻ vu oan, vì không có gì ẩn khuất mà không bị lộ. Trung thành với sự thật đôi khi cũng khiến chúng ta phải trả giá có khi bằng chính mạng sống của mình.
      Chúa Giêsu cũng nhắc chúng ta  đừng sợ những kẻ  chỉ có thể làm hại thân xác, mà không thể giết được linh hồn. Thân xác có thể bị thiệt thòi, nhưng linh hồn sẽ không hề hấn gì, nếu chúng ta vững tin vào Chúa.
      Lần thứ ba Ngài nhắc chúng ta đừng sợ là vì chúng ta quí trọng hơn nhiều, nếu Thiên Chúa đã chăm lo cho chim sẻ ngoài đồng, thì huống hồ là con người, ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương chăm sóc, chúng ta sẽ dấn thân nhiều hơn để làm chứng cho Chúa .
    1. Hãy nghe tiếng nói của lương tâm.
      Chúa Giêsu bảo các môn đệ của Ngài đừng sợ người đời. Những gì Ngài nói với họ trong bí mật, họ phải tỏ lộ cho mọi người biết. Những gì Ngài nói với họ ban đêm, họ phải nói ra giữa ban ngày. Những gì họ nghe rỉ tai, họ phải leo lên mái nhà mà rao giảng. Trong bí mật, giữa ban đêm, rỉ tai, những kiểu nói này có thể gợi lên cho chúng ta “tiếng nói của lương tâm”.
      Lương tâm chính là tiếng nói của Thiên Chúa trong sâu thẳm tâm hồn con người. Tiếng nói của lương tâm quả thật không chấp nhận thỏa hiệp và nhân nhượng. Đòi hỏi của tiếng nói ấy triệt để đến độ con người phải sẵn sàng hy sinh  cả mạng sống của mình để trung thành sống theo tiếng nói ấy. Không thỏa hiệp với các sức mạnh của gian dối, không vì một chút đặc ân dễ dãi và nhất là quyền lực, của cải, danh vọng, mà bán đứng lương tâm hay thinh lặng đồng lõa. Đó là thách đố lớn nhất và cũng là thách đố duy nhất của Giáo hội  cho những người có quyền bính trong Giáo hội, cho mọi tín hữu Kitô trong giai đoạn hiện nay (Mỗi ngày một tin vui).
      Người ta thường nói :”Bất nhập hổ huyệt, an đắc hổ tử : không vào hang cọp thì làm sao bắt được cọp con. Muốn đem Tin Mừng đến cho người khác thì người tông đồ phải biết dấn thân và dấn thân cũng có nghĩa như liều mạng. Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta cái tư tưởng “Đừng sợ”. Chúng ta có thể tìm thấy từ ngữ “đừng sợ” 365 lần trong Kinh Thánh. Người tông đồ chỉ có thể tìm được sự can đảm nếu biết tin cậy phó thác cho Chúa.
    1. Truyện : Tại sao lại sợ ?
      Một sĩ quan người Anh có đức tin mạnh mẽ cùng gia đình xuống tầu để phục vụ ở một xứ xa. Tầu rời bến được vài ngày thì gặp bão. Mọi người rất sợ, nhưng vợ viên sĩ quan sợ hơn cả,  còn ông thì bình thản như chẳng có sự gì xẩy ra. Vợ ông trách ông là ông không quan tâm gì đến an nguy của vợ con. Ông không nói nhiều, vào phòng rồi quay trở ra với một thanh kiếm trong tay. Ông dí mũi kiếm vào ngực vợ. Lúc đầu bà tái mặt nhưng liền sau đó bỗng cười lên không tỏ gì là sợ hãi nữa.

                – Làm sao em có thể cười khi anh dí mũi kiếm vào ngực em ?
    – Làm sao em sợ được khi lưỡi kiếm ấy  ở trong tay một người rất thương em.
    – Vậy tại sao em lại muốn anh  sợ cơn bão này khi anh biết rằng nó ở trong tay của Cha anh là người hằng yêu mến anh  (Góp nhặt) ?

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

                                                                                                   

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com