Thêm

    Thứ Ba tuần 14 Thường Niên

    BÀI ĐỌC I: St 32, 22-32

    Trong những ngày ấy, Giacóp chỗi dậy sớm, đem hai vợ, hai người đầy tớ gái, và mười một người con đi sang qua khe suối Giabốc. Sau khi dẫn họ và đem tất cả của cải qua bên kia suối, ông ở lại một mình, và đây, có một người vật lộn với ông cho đến sáng. Người ấy thấy mình không thể vật ngã Giacóp được, nên đá vào gân đùi ông, và lập tức gân ấy khô bại. Người ấy nói với ông rằng: “Hãy buông ta ra, vì đã hừng đông rồi”. Ông trả lời: “Tôi chỉ buông ông ra khi nào ông chúc lành cho tôi”. Vậy người ấy hỏi: “Ông tên gì?” Ông trả lời: “Tôi tên là Giacóp”. Người ấy lại nói: “Tên ông sẽ không còn gọi là Giacóp nữa, nhưng sẽ gọi là Israel, vì nếu ông có sức mạnh chống lại Thiên Chúa, ắt ông sẽ còn mạnh sức thắng được loài người”. Giacóp hỏi người ấy: “Xin ông cho tôi biết ông tên gì?” Người ấy đáp: “Tại sao ông lại hỏi tên ta?” Bấy giờ người ấy chúc lành cho Giacóp chính nơi ấy. Giacóp đặt tên cho nơi ấy là Phanuel, và bảo rằng: “Tôi đã thấy Chúa nhãn tiền mà mạng sống tôi vẫn an toàn”. Khi ông đã ra khỏi Phanuel, thì mặt trời liền mọc lên, nhưng ông đi khập khễnh một chân. Vì lẽ đó, con cái Israel không ăn gân đùi cho đến ngày nay, vì gân đùi Giacóp bị khô bại: bởi thiên thần đã đá vào gân đùi ông, nên ông bị bại.

    PHÚC ÂM: Mt 9, 32-38

    Khi ấy, người ta đem đến Chúa Giêsu một người câm bị quỷ ám. Khi đã trừ quỷ, thì người câm nói được, đám đông dân chúng kinh ngạc và nói rằng: “Chưa bao giờ thấy xảy ra như vậy trong dân Israel”. Nhưng các người biệt phái nói rằng: “Ông ta đã nhờ tướng quỷ mà trừ quỷ”. Và Chúa Giêsu đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn. Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.

    Suy Niệm 1: CHÚA GIÊSU CẦN CHÚNG TA GIÚP NGƯỜI THI ÂN GIÁNG PHÚC

    Câu chuyện Gia cóp cho thấy ông hơn một lần giành giật được sự chúc lành. Lần trước, Gia cóp cùng mẹ là Rebecca dàn dựng một quả lừa và đã lừa được cha mình là Isaac, để rồi quyền trưởng nam và sự chúc lành theo đó đã rơi vào Gia cóp thay vì Êsau… Đó là sự toan tính tinh quái của con người, mà Chúa dù không muốn, đã để cho xảy ra, bởi vì con người có tự do được chính Thiên Chúa ban cho…

    Lần này, chuyện còn lạ lùng hơn khi Gia cóp vật lộn với thần sứ của Thiên Chúa suốt cả đêm, đến gần sáng thì bị đá giập gân đùi, nhưng bù lại, Gia cóp giành được sự chúc lành! Gia cóp được gọi là Israel – và nói thật chính xác thì mãi đến khi vụ vật lộn này kết thúc, Gia cóp mới biết rằng mình đã ‘chiến đấu’ với Thiên Chúa! Ông thốt lên: “Tôi đã thấy Chúa nhãn tiền mà mạng sống tôi vẫn an toàn”.

    Nhớ lại, mới hôm qua, sau giấc ngủ trên đường với một chiêm bao thị kiến, Gia cóp đã ngạc nhiên nhận ra “Có Chúa ở nơi này mà tôi không biết!”… Gia cóp không biết, không hoàn toàn nhận thức được những việc mình làm và cách mình làm việc, so với tiêu chuẩn luân lý của chúng ta ngày nay dưới ánh sáng của Tân Ước. Hãy nghĩ, chẳng hạn, về việc Gia cóp có hai người vợ đồng thời mà bản văn Sáng thế hôm nay nhắc đến…

    Nhưng có những điều mà chính Gia cóp rất rõ, đó là sự cao cả, siêu việt của Thiên Chúa, và sự khẩn thiết của việc mình được Thiên Chúa ban phúc lành. Đáp lại, Thiên Chúa vừa ban phúc lành cho Gia cóp, vừa tỏ lộ cho ông biết rằng Ngài không chỉ rất siêu việt mà còn rất nội tại, gần gũi nữa! Ông “đã được thấy Chúa nhãn tiền”! Lời Thánh vịnh 16 (Đáp ca) nói về Gia cóp và đồng thời mời gọi chúng ta đi vào trong kinh nghiệm này: “Phần tôi, nhờ công chính, sẽ được nhìn thấy Thiên Nhan”!

    Chúa Giêsu đến, Người sẽ cập nhật ý nghĩa của ‘công chính’ này là ‘trái tim trong sạch’ trong Mối Phúc thứ sáu: “Phúc cho ai có trái tim trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”!…

    Và với Chúa Giêsu, phúc lành của Thiên Chúa tràn ngập chứ không còn phải giành giật một cách khó khăn nữa. Chúa Giêsu thi ân giáng phúc cho mọi người khốn khổ một cách hào phóng. Người “đi rảo khắp các thành phố làng mạc, dạy dỗ trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền”… bởi vì “thấy đoàn lũ dân chúng, Người động lòng xót thương họ, vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn”!…

    Có những người đón nhận Chúa Giêsu, cũng có những người khác – như giới Phariseu – giải thích hoạt động thi ân giáng phúc của Chúa Giêsu một cách ác ý. Nhưng Người không nhụt chí. Ngược lại, Người càng thêm động lực để mở rộng qui mô sứ mạng của Người: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, anh em hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”!

    Thợ gặt mà Chúa đang cần hôm nay, ở đây, trong tất cả thực tế này, là chúng ta đó!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ……………………….

    Suy Niệm 2: CẦU NGUYỆN XIN CHÚA BAN NHIỀU THỢ GẶT

    Hôm qua chúng ta nghe câu chuyện Giacóp đang trên đường đến nhà Laban. Trên đường đi, ông có một giấc mơ. Trong giấc mơ đó, ông được Đức Chúa hứa ban cho đất và một dòng dõi hùng mạnh. Trong bài đọc 1 hôm nay, lời Đức Chúa hứa về con cháu được thực hiện. Tác giả sách Sáng Thế trình bày điều này qua những lời sau: “Đêm đó, ông Giacóp dậy, đem theo hai bà vợ, hai nữ tỳ và mười một đứa con, và ông lội qua sông Giápbốc. Ông đem họ theo, đưa họ qua sông, rồi đưa tài sản của ông qua (St 32:23-25). Tuy nhiên, nội dung chính của bài đọc 1 nói về cuộc vật lộn của Giacóp với Đức Chúa. Theo một số học giả Kinh Thánh, trình thuật về cuộc vật lộn với Đức Chúa được xem như bản đối chiếu với cuộc gặp gỡ đầy sợ hãi với Êsau khi Giacóp về đến nhà. Qua câu chuyện, tác giả muốn gởi đến thính giả thông điệp sau: Giacóp thật sự là con người được chúc lành, nhưng lần này ông phải “vật lộn” để có được lời chúc lành. Điều này hoàn toàn trái ngược với việc ông “lừa dối” Êsau để nhận lời chúc lành từ Ixaác. Cuộc vật lộn của Giacóp để được Đức Chúa chúc lành ám chỉ nói đến cuộc sống của chúng ta. Ai trong chúng ta cũng muốn được chúc lành. Nhưng nhiều khi chúng ta muốn được chúc lành mà không muốn “vật lộn” với Chúa, hay nói cách khác là không muốn có một “tương quan thân tình nào” với Chúa [vật lộn xảy ra khi hai người “ôm chặt” nhau. Hình ảnh này ám chỉ đến một tương quan sâu đậm và thân tình]. Chúng ta muốn được chúc lành mà không kiên nhẫn, luôn muốn bỏ cuộc. Điều này được diễn tả qua những lời sau của Giacóp: “Tôi sẽ không buông ngài ra, nếu ngài không chúc phúc cho tôi” (St 32:28). Liệu chúng ta có ôm chặt Chúa cho đến khi Ngài chúc lành cho mình không? Hay chúng ta thấy mệt mỏi rồi rơi vào tình trạng thất vọng không còn tin tưởng vào Chúa?

    Chi tiết quan trọng thứ hai trong cuộc vật lộn để xin chúc lành của Giacóp là việc “hỏi tên.” Trước khi chúc lành, “Người đó hỏi ông: ‘Tên ngươi là gì?’ Ông đáp: ‘Tên tôi là Giacóp.’ Người đó nói: ‘Người ta sẽ không gọi tên ngươi là Giacóp nữa, nhưng là Ítraen, vì ngươi đã đấu với Thiên Chúa và với người ta, và ngươi đã thắng’” (St 32:28-29). Nếu để ý chúng ta không thấy lời chúc lành nào cả. Chúng ta chỉ thấy người lạ đổi tên Giacóp thành Israel. Theo nguyên ngữ, từ Israel không được biết đến. Nó có thể có nghĩa “xin Đức Chúa thống trị.” Nhìn từ khía cạnh này, lời chúc lành mà Thiên Chúa ban cho Giacóp là được Ngài thống trị, được Ngài là Chúa. Tuy nhiên, trong bối cảnh của trình thuật, từ Israel được hiểu từ khía cạnh của “học thuyết nguyên nhân,” đó là “vì đấu với Thiên Chúa [và các chúa khác], với người ta [Êsau và Laban], và ngươi đã thắng.” Nói cách cụ thể, từ Israel mang nghĩa sức mạnh để “chiến đấu” với Thiên Chúa và con người. Trên đây là những thông tin chúng ta cần biết. Từ những thông tin đó, điều đáng suy gẫm ở đây là việc đổi tên. Theo Kinh Thánh, việc đổi tên hàm chứa hai ý nghĩa: (1) Thiên Chúa khẳng định người được đổi tên thuộc trọn về Ngài, và (2) Thiên Chúa trao cho người được đổi tên một sứ mệnh mới. Mỗi người chúng ta cũng được “đổi tên” [đặt tên mới] trong ngày rửa tội [ngày khấn dòng]. Ngày đó, Thiên Chúa khẳng định chúng ta thuộc trọn về Ngài. Đồng thời, Ngài cũng trao cho chúng ta sứ mệnh mới, sứ mệnh yêu thương. Chúng ta đã sống hai thực tại này như thế nào: Chúng ta có thuộc trọn về Chúa [hay thuộc về Ngài cách nửa vời?] và đang thực hành sứ mệnh yêu thương không?

    Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Mátthêu trình thuật cho chúng ta hai điều nơi Chúa Giêsu, đó là Ngài chữa lành một người câm bị quỷ ám (Mt 9:32-34) và Ngài tỏ lòng thương với đám đông dân chúng. Sự kiện Chúa Giêsu chữa người câm bị quỷ ám cũng như phản ứng của người Pharisêu được trình bày rất ngắn gọn. Nếu lưu ý, chúng ta nhận ra rằng việc chữa lành chỉ được đề cập đến trong một mệnh đề phụ. Chúng ta sẽ thấy cùng sự kiện như thế được trình thuật cách chi tiết hơn trong chương 12 (câu 22-32). Điều làm chúng ta quan tâm ở đây là việc chữa lành của Chúa Giêsu đã gợi lên hai phản ứng trái chiều: tích cực nơi đám đông [“Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ!” (Mt 9:33)] và tiêu cực nơi những người Pharisêu [“Nhưng người Pharisêu lại bảo: ‘Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ’” (Mt 9:34)]. Phản ứng tích cực của đám đông cho thấy việc Chúa Giêsu thực hiện những phép lạ có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải phóng dân Israel. Phản ứng tiêu cực của những người Pharisêu đã bắt đầu một chuỗi đối kháng và bóng dáng của Thập Giá đã rợp bóng trên cuộc đời Chúa Giêsu từ giây phút này. Theo họ, Chúa Giêsu không phải là một “thầy thuốc không có hại.” Việc chữa lành của Ngài mang đặc tính tôn giáo hơn là thể lý. Trong những sự kiện xảy ra thường ngày, nhất là những sự kiện đau buồn [không như lòng mong ước], chúng ta phản ứng thế nào: đón nhận [để cho sức mạnh giải phóng của ơn Chúa hoạt động trong chúng ta] hay phản kháng [làm cho chuỗi đối kháng và bóng dáng thập giá tiếp tục rợp bóng trên Chúa Giêsu Kitô]?

    Bốn câu nói về lòng thương xót của Chúa Giêsu mang tính cách chuyển tiếp. Chúng nhằm mục đích kết thúc một phần giảng dạy mà Chúa Giêsu thực hiện (4:23-9:34). Phần này trình bày cho chúng ta về Chúa Giêsu như một Đấng Messia qua lời nói và hành động. Chúng cũng nhằm mục đích mở ra cho sứ mệnh của các môn đệ và lời dạy về sứ mệnh rao giảng trong chương 10. Việc sử dụng nguồn để viết phần này phản chiếu sự đa dạng đó, sự hoà quyện giữa nguồn lấy từ Tin Mừng Thánh Máccô và nguồn Q. Một cách cụ thể, trong phần này, câu quan trọng nhất là câu 35: “Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.” Câu này lặp lại câu Mt 4:23. Câu này cung cấp một bản tóm tắt về sứ vụ của Chúa Giêsu. Nó bao gồm một mệnh đề chính [“Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc”] và ba mệnh đề phụ [“giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền”]. Ba mệnh đề phụ tạo nên cấu trúc ‘ABA’ trong đó yếu tố B [“rao giảng Tin Mừng Nước Trời”] là nòng cốt và quan trọng. Nó được “bao bọc” bởi việc “giảng dạy trong các hội đường” và “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.” Mối tương quan giữa ba yếu tố là: Tin Mừng Nước Trời được rao giảng và bắt đầu triển nở bằng lời và hành động của Chúa Giêsu. Câu 35 này và câu 23 của chương 4 tạo nên một “dấu kép,” trong đó Thánh Mátthêu miêu tả Chúa Giêsu như một thầy giảng qua lời [trong chương 5-7] và qua hành động [trong chương 8-9]. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về đời sống rao giảng Tin Mừng trong ngày sống. Việc rao giảng phải được thực hiện không chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng hành động. Cuộc sống dạy rằng: Người đáng tin cậy là người có lời nói đi đôi với hành động. Chúng ta đang sống điều này như thế nào?

    Cuối cùng, việc Chúa Giêsu chạnh lòng thương (câu 36) nói lên việc Ngài yêu thương với tất cả “cảm xúc” của con người. Tình yêu [đầy cảm xúc] và lòng thương xót của Ngài mở rộng đến đám đông chứ không chỉ giới hạn cho nhóm Mười Hai. Động lực mà qua đó Chúa dấn thân để thực hiện “công việc tông đồ” là kinh nghiệm trực tiếp về nhu cầu cần người lãnh đạo tinh thần [thiêng liêng] của đám đông: “họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9:36). Ở đây, chúng ta thấy sự “nhanh nhẹn” của Chúa Giêsu khi Ngài biến “vấn đề” [“họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không có người chăn dắt”] thành cơ hội để dạy các môn đệ [“Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:37-38)]. Từ cơ hội này, Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng: anh em thấy một sự trái nghịch giữa lúa đồng [nhiều] và thợ gặt [ít]. Đây luôn là tình trạng anh em sẽ đối diện vì công việc tông đồ luôn làm cho anh em bị “hao tổn tâm lý” ngay cả khi nó không đòi hỏi anh em nhiều về thể lý. Vì vậy, anh em hãy cầu nguyện! Thật vậy, chỉ có cộng đoàn mà đức tin của các thành viên được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện liên lỉ mới có thể đón nhận và tạo ra những thợ gặt tốt cho mùa gặt.

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………..

    Suy Niệm 3: Chữa người câm bị quỉ ám

    1. Người ta đem đến cho Chúa Giêsu một người câm bị quỉ ám. Chúa trừ quỉ ra và người câm nói được, dân chúng thấy vậy thì khâm phục quyền năng Chúa, tin tưởng Chúa là Đấng Thiên Sai; còn người biệt phái thì không chịu tin Chúa mà lại tin ma quỉ… Và Chúa đi khắp các thành các làng mạc rao giảng Tin Mừng Nước Chúa và chữa lành mọi bệnh tật. Khi thấy dân chúng đông đúc không ai cứu giúp thì Ngài chạnh lòng thương họ. Ngài bảo các môn đệ xin Chúa Cha cho nhiều người đến dìu dắt họ.
    1. Mở đầu Tin Mừng là câu chuyện Chúa Giêsu trục xuất một tên quỉ ra khỏi người câm. Toàn dân thì ca tụng, nhưng người biệt phái độc miệng cho rằng : Chúa dùng quyền tướng quỉ mà trừ quỉ. Khi đã không ưa thì dưa có dòi, biệt phái tìm cách để nói xấu Chúa Giêsu, vì giáo lý của Ngài đã vạch trần thái độ kiêu ngạo, dối trá và giả hình của họ. Tuy nhiên, đối với Chúa Giêsu, sự chống đối không quan trọng khi Ngài không phản kháng, mà điều khẩn thiết hơn cả là Tin Mừng phải được loan báo cho muôn dân.
    1. Sự ghen tị của người biệt phái.
      Trong ý thức hệ của người Do thái, họ vẽ ra trong tư tưởng của mình một lối sống kiểu Biệt phái giả hình và đòi dân theo, họ quan niệm một thời kỳ cứu độ và một Đấng Messia giầu sang, chứ không phải hòa đồng chung bàn với người hèn kém. Từ đó họ không nhận ra được Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Với ý thức hệ như thế, họ không những bị trói buộc trong tư tưởng thiển cận của họ, không nhận ra được dấu chỉ của thời đại, mà còn bắt người khác phải suy nghĩ và hành động như họ. Chính vì thế mà họ gièm pha những lời Chúa Giêsu nói và những việc Ngài làm. Họ tìm cách lèo lái dân thỏa hiệp với họ và xuyên tạc sự thật về Chúa Giêsu, trong khi dân chúng ca tụng công việc của Chúa  thì họ lại bóp méo xuyên tạc cho đó là việc của tướng quỉ.
    1. “Lúa chìn đầy đồng mà thợ gặt thì ít”.
      Chúa Giêsu chạnh lòng thương trước hiện trạng của con người vất vưởng lầm than, mà những bậc làm “thầy” Do thái không giải quyết được cho họ. Họ như rắn mất đầu, thiếu vắng đời sống tâm linh.  Trong bản tính nhân loại, một mình Chúa cần sự cộng tác của các môn đệ cùng làm công việc của Ngài như một “mục tử” và “lương y”. Trước sự bao la của hoạt động tông đồ, điều đầu tiên mà Chúa Giêsu yêu cầu là cầu nguyện :”Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin Chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”.
      Chúa Giêsu sai môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, vì Chúa muốn rằng sứ mệnh rao giảng của Chúa cần được tiếp tục mãi  trong thời gian từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nhờ qua những con người được mời gọi cộng tác với Chúa, làm công việc của Chúa với những quyền năng do Chúa ban cho. Sự hiện diện và sứ mệnh của Giáo hội qua các thời đại trong lịch sử đều nằm trong chương trình của Chúa ngay từ đầu và do ý Chúa muốn , chứ không do sáng kiến của con người.
    1. “Chúa Giêsu chạnh lòng thương”.
      Bức tranh nhân loại ngày nay thật tăm tối khi sự nghèo khó lại sánh vai bên cạnh sự giầu có và thừa mứa. Dưới gầm bàn ăn của người phú hộ ngày ngày yến tiệc linh đình là vô số những Lazarô đang lê lết quằn quại trong bệnh tật và đau khổ.
      Sự hiện diện của những người đau khổ là một tra vấn cho lương tâm Kitô hữu chúng ta. Chính qua chúng ta mà Chúa Giêsu tiếp tục chạnh lòng thương trước nỗi khốn khổ của con người, nhưng cũng chính qua những người khốn khổ mà Chúa Giêsu đến với chúng ta.  Trong ngày sau hết,  chúng ta chỉ bị xét xử về một điều, chúng ta có nhận ra và yêu thương Ngài nơi  những con người khốn khổ không ?
      Có lần Mẹ Têrêsa đã cầu nguyện với Chúa như thế này :”Xin hãy cho con rao giảng về Chúa, không phải bằng lời nói nhưng bằng gương sống, với sức thu hút mạnh mẽ và sự lôi cuốn của lòng cảm thông, một sự thu hút và lôi cuốn đến từ những gì con làm, bằng chứng rõ ràng  cho Tình Yêu hoàn toàn đối với Chúa, Đấng hiện diện tràn đầy trong tâm hồn con”.
      Nhân loại ngày nay vẫn còn bơ vơ như đoàn chiên không có người chăn. Hãy tập cho mình biết chạnh lòng thương như Chúa Giêsu, để cùng với Chúa làm cho thế giới chúng ta đang sống được ấm áp tình người hơn.
    1. Truyện : Người hành khất bất đắc dĩ.
      Cha Anthony de Mello thuật lại một câu chuyện có thật. Chuyện xẩy ra tại đất nước Bangladesh, một trong những nước nghèo nhất thế giới.
      Có một người đàn ông nọ đi bộ về nhà sau một ngày làm việc cực nhọc tại xưởng thợ. Vì quá mệt mỏi, ông dừng lại ngồi nghỉ dưới một bóng cây ven đường và thiếp ngủ đi lúc nào không biết. Khuôn mặt tiều tụy của ông khiến người đi đường ngỡ ông là người hành khất kiệt sức và ngất xỉu. Và người ta chạnh lòng thương, ai đi qua cũng bỏ vào chiếc mũ của ông vài đồng xu.
      Khi thức giấc, người công nhân già hết sức ngạc nhiên vì thấy chiếc mũ cũ kỹ của mình đầy những đồng xu, số tiền đếm được  còn nhiều hơn một ngày công của ông. Ông mỉm cười tự nghĩ  mình đã là một người hành khất bất đắc dĩ.
      Trên đường về, ông nhìn thấy nhiều người ăn xin đui mù tàn tật, ông chạnh lòng thương, rồi ông lặng lẽ  chia đều cho họ  số tiền vừa mới nhận được. Và hơn ai hết, người công nhân nghèo hèn ấy hiểu : được nhận lãnh và được chia sẻ  cũng đều là niềm hạnh phúc không gì có thể sánh bằng.

      Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

                                                                                                   

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com