Thêm

    Thứ Bảy, Tuần 13 Thường Niên

    BÀI ĐỌC I: St 27, 1-5. 15-29

    Isaac đã già, mắt loà không còn trông thấy được nữa. Ông gọi con trai cả là Êsau mà bảo rằng: “Hỡi con”. Êsau thưa: “Dạ, con đây”. Ông nói tiếp: “Con thấy cha đã già rồi, cha không biết ngày nào cha chết. Con hãy lấy khí giới: cung, tên, rồi đi ra ngoài; khi săn được gì, con hãy lấy mà dọn món ăn mà con biết cha ưa thích, rồi đem cho cha ăn, và cha sẽ chúc lành cho con trước khi cha chết”. Bà Rêbecca nghe lời ấy (…) và khi Êsau ra đồng để thi hành lệnh của cha (…) thì bà lấy áo tốt của Êsau mà bà vẫn giữ trong nhà, đem mặc cho Giacóp. Bà lấy da dê mà bọc tay và quấn cổ Giacóp. Đoạn bà lấy cháo và bánh đã nấu trao cho Giacóp… Giacóp bưng lên cho cha mà nói rằng: “Thưa cha”. Isaac nói: “Cha nghe rồi. Hỡi con, con là ai?” Giacóp thưa: “Con là Êsau trưởng nam của Cha. Con đã làm như cha dạy, xin cha chỗi dậy, ngồi ăn thịt con đã săn được để cha chúc lành cho con”. Isaac lại nói với con: “Hỡi con, lẽ nào con săn được mau như thế?” Giacóp thưa: “Thánh ý Thiên Chúa đã định, nên con chóng được như ý muốn”. Isaac bảo rằng: “Hỡi con, con hãy lại đây để cha rờ thử xem con có phải là Êsau con của cha hay không”. Giacóp tiến lại gần cha. Isaac rờ con mà nói: “Tiếng nói là tiếng Giacóp, còn tay lại là tay Êsau”. Ông không nhận ra được, vì tay (cậu) có lông như tay anh cả. Vậy ông chúc lành cho con mà nói: “Con có phải là Êsau con cha thật không?” Giacóp đáp: “Thưa phải”. Ông nói tiếp: “Hỡi con, hãy đem cho cha ăn thịt săn của con, để cha chúc lành cho con”. Khi ông ăn đồ con đem đến xong, con ông lại đem rượu cho ông uống. Uống xong, ông bảo con rằng: “Hỡi con, hãy lại đây hôn cha”. Giacóp lại gần hôn cha; ông ngửi thấy mùi thơm của bộ áo con, thì chúc lành cho con mà rằng: “Mùi thơm của con ta như mùi hương cánh đồng phì nhiêu mà Chúa đã chúc phúc. Xin Thiên Chúa ban cho con những giọt sương trời, giải đất mầu mở, lúa miến và rượu nho dư đầy. Các dân tộc sẽ suy phục con, các chi họ sẽ sấp mình trước con. Con hãy làm chủ các anh em con, các con cái của mẹ con sẽ phủ phục trước mặt con. Ai nguyền rủa con, thì sẽ bị nguyền rủa; và ai chúc lành cho con, thì sẽ được đầy phúc lành”.

    PHÚC ÂM: Mt 9, 14-17

    Khi ấy, [Chúa Giêsu sang miền Giêsarênô,] các môn đệ Gioan đến gặp Người mà hỏi: “Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của Ngài lại không?” Chúa Giêsu nói với họ rằng: “Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ chay. Không ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ, vì miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng tệ hơn. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da mới, và cả hai được nguyên vẹn”.

    Suy Niệm 1:

    NẾU KHÔNG MUỐN BẦU NỨT, RƯỢU ĐỔ…

    Hai mẹ con, Rebecca và Giacop, dàn dựng một quả lừa. Isaac bị lừa. Cuối cùng, phúc lành của Chúa thay vì thuộc về Êsau thì lại được trao cho Giacop. Tình tiết hơi lạ này càng cho thấy câu chuyện của Thiên Chúa đi xuyên qua và sử dụng những yếu tố của con người, kể cả những toan tính tinh quái Chúa vẫn cho phép xảy ra. Nguyên lý ở đây là: (1) con người dùng tự do của mình theo bất cứ cách nào mình muốn, nhưng Thiên Chúa không bao giờ mất quyền kiểm soát, và (2) Thiên Chúa luôn có thể và luôn muốn rút ra điều tốt lành, kể cả từ những điều dở tệ của con người!

    Điều nói trên không hề có nghĩa rằng con người không phải chịu trách nhiệm về những sai trái của mình. Bởi trách nhiệm luôn còn đó, bao lâu con người còn ý thức và tự do! Điều nói trên giúp ta ghi nhớ và không nghi ngờ quyền kiểm soát của Thiên Chúa trên mọi tình hình. Con người tự do như chim sải cánh trong bầu trời, như cá tung tăng trong đại dương – mà bầu trời và đại dương ấy lại chính là Thiên Chúa và quyền kiểm soát của Ngài! Sự tự do đúng nghĩa, vì thế, là tự do thuộc về Thiên Chúa.

    Chúa Giêsu đến. Người trình bày kiểu mẫu của sự tự do như thế, khi chúng ta chiêm ngắm sự tự do của Chúa Giêsu. Đồng thời, Người trở thành hệ qui chiếu hay sự định vị cho tự do của chúng ta. Nói cách khác, nếu bầu trời và đại dương kia vẫn được ta thấy ít nhiều mông lung, thì Chúa Giêsu và Tin Mừng của Người giúp làm kết đọng lại cách rõ ràng, sắc nét.

    Câu chuyện các môn đệ bị phàn nàn về việc không ăn chay là một trong nhiều minh hoạ về sự tự do của Thầy và trò. Câu chuyện đó cũng trao thông điệp rằng Chúa Giêsu là yếu tố mới, đóng vai trò hệ qui chiếu và sự định vị… Phải thích nghi, phải phù hợp với yếu tố mới này, nếu không muốn “áo rách lại càng rách thêm” hay không muốn “bầu nứt và rượu đổ”!

    Rượu mới Giêsu là câu chuyện của Thiên Chúa mở ra, đòi phải có bầu da mới là câu chuyện của chúng ta, câu chuyện của cá nhân và của cộng đoàn!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………….

    Suy Niệm 2: SỐNG NIỀM VUI CÓ CHÚA

    Khi đọc bài đọc 1, chúng ta thường không có nhận xét gì [nếu chúng ta không chăm chú lắng nghe với thái độ suy gẫm], hoặc nếu có thì cũng chỉ quan tâm đến việc Giacóp được Ixaác chúc lành. Nếu để ý kỹ hơn, chúng ta nhận ra rằng đây là câu chuyện về sự “lừa dối” trong gia đình. Thật sự, câu chuyện này có như thế không? Chúng ta cùng nhau tìm hiểu xem câu chuyện này muốn nói điều gì.

    Bài đọc 1 được viết theo kiểu kịch nghệ với một vài cảnh và vai diễn như sau: Ixaác-Êxau (câu 1-4), Rêbêca-Giacóp (câu 5-17), Ixaác-Giacóp (câu 18-29) [không trích đoạn kế tiếp bao gồm Ixaác-Êxau (câu 30-40), Êxau-Rêbêca (câu 41-45). Hình ảnh Ixaác bị mù loà dẫn đến những việc khác như nếm, sờ, nghe và cảm. Tuy nhiên, điều chính yếu của câu chuyện là việc chúc lành. Theo truyền thống thời đó, chúc lành thường được trao trong bối cảnh cái chết cận kề hoặc trong bối cảnh tạm biệt. Lời chúc lành phải được hiểu như là ‘sự sống’ được truyền từ người sắp ra đi cho người đang tiếp tục sống. Lời chúc lành liên quan đến toàn bộ sự sống. Vì vậy, lời chúc lành không thể rút lại và cũng không thể thay đổi. Đây là lý do tại sao Ixaác không thể rút lại lời chúc lành cho Giacóp và chuyển cho Êxau. Nhưng chúng ta lý giải thế nào về hành động lừa dối để được chúc lành của Giacóp? Như chúng ta biết, Êxau và Giacóp là anh em sinh đôi. Êxau sinh ra trước, nên là con trưởng. Theo truyền thống của người Do Thái, người con trưởng là người được chúc lành. Nhưng trong chương 25 (29-34), Êxau đã bán quyền làm trưởng của mình cho Giacóp vì một bát cháo. Như vậy, việc Giacóp nhận được lời chúc lành từ Ixaác là điều “hợp luật” [hợp lệ]. Câu chuyện này tiếp tục nói lên sự “đối kháng” giữa Êxau và Giacóp, điều đã bắt đầu khi cả hai còn trong bụng mẹ (x. St 25: 19-34). Thánh Augustinô lý giải cho hành động của Giacóp như sau: việc chuyển lời chúc lành cho Giacóp không phải là một sự lừa dối, nhưng là một huyền nhiệm. Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng tư tưởng vẫn chưa trình bày cách chính xác giá trị của câu chuyện. Trong câu chuyện, chúng ta đọc thấy Giacóp là kẻ “lừa dối,” nhưng Giacóp cũng là người mang lời hứa và lời chúc lành. Câu chuyện này một cách nào đó bắt đầu đưa chúng ta vào mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa: Ngài có thể sửa lại những gì mà con người đã sai phạm, hay đúng hơn, Ngài có thể cho điều tốt [sự chúc lành] xuất phát từ những yếu đuối, tội lỗi của con người.

    Điểm thứ hai chúng ta suy gẫm trong bài đọc 1 là lời chúc lành của Ixaác cho Giacóp. Ba lời chúc lành được bắt đầu với việc “ngửi” thấy mùi thơm: “Ông hít mùi áo cậu và chúc phúc cho cậu rằng: ‘Kìa, mùi thơm con tôi như mùi thơm cánh đồng Đức Chúa đã chúc phúc’” (St 27:27). Điều chúng ta lưu  ý ở đây là mùi thơm không phải của những cánh đồng hoang dã của những thợ săn (mùi của Êxau), nhưng là mùi thơm của “cánh đồng Đức Chúa đã chúc” – cánh đồng của những người trồng trọt và chăn nuôi [làm nông nghiệp]. Lời chúc đầu tiên liên kết với lời chúc thứ hai: “Xin Thiên Chúa ban cho con, sương trời với đất đai màu mỡ, và lúa mì rượu mới dồi dào” (St 27:28). Lời chúc này cũng mang tính “nông nghiệp” và sẽ bị đảo ngược lại trong câu 39. Lời chúc lành cuối cùng liên quan đến việc làm chủ trên Êxau: “Các dân phải làm tôi con, các nước phải sụp xuống lạy con. Con hãy làm chủ các anh em con, và các con của mẹ con phải sụp xuống lạy con. Kẻ nguyền rủa con sẽ bị nguyền rủa, kẻ chúc phúc cho con sẽ được chúc phúc” (St 27:29). Lời chúc này ám chỉ đến lịch sử sau này của Israel, đặc biệt khi Vua Đavít chinh phục con cháu của Êxau. Nhìn chung, lời chúc lành liên quan đến nghề nghiệp và vị trí trong gia đình. Đây là hai điều quan trọng cho một kiếp nhân sinh: điều mình làm [làm gì cho anh chị em] và điều mình là [là gì trong gia đình/cộng đoàn]. Chúng ta thường đến xin Chúa chúc lành cho điều chúng ta làm sinh hoa trái, chứ ít khi xin Ngài chúc lành để ngày càng sinh hoa trái trong việc mình là ai trong gia đình hay cộng đoàn [đời tu]: là những người cha, người mẹ tốt, những người con ngoan hiền, những người tu sĩ [linh mục/giám mục] thánh thiện.

    Câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay kết thúc trình thuật về ba vấn đề mà qua đó Chúa Giêsu bị chống đối từ ba nhóm khác nhau. Câu chuyện này cũng được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Máccô (2:18-22). Dù là một chuyện ngắn gọn, nhưng lại hàm chứa ba phần khác nhau, đó là phần đối thoại mang tính tranh cãi (câu 14-15) và hai dụ ngôn nhỏ (câu 16-17). Sự liên kết của ba phần nằm ở sự hiện diện của Chúa Giêsu. Nói cách khác, sự hiện diện của Chúa Giêsu mang lại sự khác biệt trong việc ăn chay theo tập tục của người Do Thái.

    Như chúng ta biết, ăn chay là một việc thực hành đạo đức mà các tín hữu của các tôn giáo lớn thực hiện. Đối với người Do Thái, việc ăn chay là một việc thực hành đạo đức mang tính cá nhân và cộng đoàn. Trong cuộc tranh luận hôm nay với các môn đệ của ông Gioan, Chúa Giêsu nói các môn đệ của Ngài không ăn chay trong suốt thời gian Ngài đang ở với họ: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, đang khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể bị đem đi khỏi họ, bấy giờ họ mới ăn chay” (Mt 9:15). Nhưng sau khi Ngài “bị đem đi khỏi họ,” các môn đệ mới ăn chay. Người Do Thái không có mùa để ăn chay như chúng ta có mùa chay, nhưng người Do Thái có ngày để ăn chay cả cộng đoàn, đặc biệt trong dịp lễ Yôm Kippur và ngày mồng 9 của tháng Ab. Theo lời dạy, người Do Thái cũng giữ chay cách cá nhân vào các ngày thứ 2 và thứ 5, trong khi đó, những tín hữu đầu tiên [và “một số” bây giờ] chọn các ngày thứ 4 và thứ 6]. Người Do Thái luôn hiểu ăn chay là (1) hạ mình trước Thiên Chúa (x. Is 58:3-9), (2) là lời cầu nguyện để được làm cho mạnh mẽ (Tb 12:8), (3) là diễn tả sự đau buồn [cho tội lỗi, cho mất mát]. Ăn chay luôn có tương quan chặt chẽ với bố thí [phần dành dụm được khi ăn chay được sử dụng để bố thí].

    Điểm đáng để chúng ta lưu ý trong phần tranh luận là câu hỏi của các môn đệ ông Gioan: “Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” (Mt 9:14). Họ bắt đầu với khẳng định về việc giữ luật ăn chay của họ và người Pharisêu. Họ tiếp tục với việc tra vấn Chúa Giêsu về các môn đệ. Ở đây, chúng ta thấy sự cẩn trọng của họ. Họ không tra vấn về việc ăn chay của chính Chúa Giêsu, nhưng của các môn đệ của Ngài. Điều này cho thấy rằng Chúa Giêsu ăn chay, nhưng những người theo Ngài không còn thực hành việc ăn chay như những người Do Thái. Như vậy, việc theo Chúa Giêsu mang lại một sự “tách biệt” với lối thực hành đạo đức cũ.

    Câu quan trọng nhất trong bài Tin Mừng hôm nay là câu 15. Trong câu này, Chúa Giêsu nêu lý do tại sao các môn đệ của Ngài không ăn chay [và sẽ ăn chay]. Như chúng ta đã trình bày, một trong những ý nghĩa của ăn chay là diễn tả sự đau buồn, than khóc. Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh này để trả lời những người chất vấn Ngài. Trong bối cảnh này, Thánh Mátthêu hiểu ăn chay là dấu hiệu của sự than khóc khi thay đổi động từ “ăn chay” được dùng trong Tin Mừng Thánh Máccô thành “than khóc.” Khi Chúa Giêsu đang còn sống, các môn đệ không cần phải than khóc. Nhưng khi Chúa Giêsu bị đem đi đánh đòn, đóng đinh trên cây thập giá, họ sẽ than khóc cho tội lỗi của họ [và của con cháu họ]. Họ cũng than khóc khi Chúa Giêsu về cùng Chúa Cha: than khóc cho sự ly biệt mang tính thể lý. Chúa Giêsu tiếp tục sử dụng châm ngôn để đối đáp. Ngài so sánh các môn đệ như những khách được mời dự tiệc cưới, đó là những người tham gia vào một sự kiện thấm đượm tình yêu và niềm vui. Trong lối giải thích của các Rabbi, chàng rể thường được hiểu là chính Thiên Chúa. Nhìn từ khía cạnh này, Chúa Giêsu đang khẳng định Ngài là Chúa. Sự hiện diện của Ngài mang lại niềm vui cho các môn đệ. Ở đâu có Ngài hiện diện, ở đó không có sự than khóc, u buồn. Đây là điều đáng để chúng ta suy gẫm. Chúa Giêsu luôn mời chúng ta sống trong niềm vui của Ngài, nhưng biết bao nhiêu lần chúng ta từ chối bằng cách sống trong đau buồn của tội lỗi. Chúng ta cần phải bắt đầu lại: bắt đầu sống niềm vui có Chúa, sống niềm vui của những người yêu và được yêu. Đây là cách ăn chay đẹp nhất mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta.

    Qua hai dụ ngôn, Chúa Giêsu muốn ám chỉ đến sự “tách rời” của những người theo Ngài khỏi lối thực hành đạo đức cũ của người Do Thái: “Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá sẽ co lại, khiến chỗ rách lại càng rách thêm. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế là giữ được cả hai” (Mt 9:16-17). Hai động từ chỉ rõ sự tách biệt là “vá” và “rách.” Theo nguyên từ, chữ “miếng vá” là pleroma (có nghĩa là “tràn đầy,” hoặc “hoàn hảo”); còn từ “chỗ rách” là schisma (có nghĩa là “ly khai,” hay “ly giáo”). Nhìn từ khía cạnh này, câu nói của Chúa Giêsu ám chỉ đến việc “ly khai” của các tín hữu ra khỏi những môn đệ của nhóm Pharisêu. Điều này được diễn tả qua hình ảnh “cũ” (và tốt) với “mới” (và tốt cách hoàn hảo). Nói cách cụ thể, những người theo Chúa Giêsu sẽ sống đời sống thờ phượng mới (“trong Thần Khí và sự thật”). Họ sẽ sống theo mệnh lệnh mới (“Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em”). Chúng ta đã thật sự sống đời sống mới như Chúa Giêsu mong đợi chưa?

    Chi tiết cuối cùng chúng ta cần biết là việc Chúa Giêsu kết thúc với khẳng định về sự tồn tại của cả hai nếu biết “tuân theo luật tự nhiên của sự vật”: Rượu cũ cũng ngon và sẽ phải được giữ trong và với rượu mới trong Chúa Giêsu. Nếu chúng ta đọc kỹ và suy gẫm, chúng ta nhận ra câu này diễn tả cách trọn vẹn điều Chúa Giêsu nói trước khi dạy các môn đệ về tiêu chuẩn mới mà họ phải sống: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5:17). Trong Chúa Giêsu, luật cũ vẫn tồn tại và được kiện toàn; luật mới được ban bố. Cả hai được nên một trong Ngài. Ngài là mối dây liên kết. Nơi Ngài không có sự chia rẽ. Nhìn từ khía cạnh này, chúng ta có thể nói rằng: nơi đâu có Chúa Giêsu, nơi đó có sự hợp nhất giữa cũ và mới [giữa già và trẻ]. Nơi đâu có Chúa Giêsu, chia rẽ không hiện hữu.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………..

    Suy Niệm 3: Tranh luận về việc ăn chay

    1. Môn đệ ông Gioan thấy môn đệ Chúa Giêsu không ăn chay thì hỏi : sao môn đệ Ngài không ăn chay ? Chúa đáp : Trong tiệc cưới, bao lâu chàng rể còn ở lại thì bạn bè vẫn vui mừng, chừng nào chàng rể đi rồi thì họ mới buồn rầu chay tịnh. Qua bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dùng hình ảnh tiệc cưới, trong đó chính Ngài là chàng rể, còn các môn đệ là phù rể. Vậy nên chỉ sau khi chàng rể bị đem đi, nghĩa là sau cái chết của Chúa Giêsu, thì lúc đó các môn đệ mới giữ chay : giữ chay vì thương nhớ, và để đón chờ Chúa trở lại.
    1. Ăn chay, cầu nguyện, làm phúc bố thí là ba sinh hoạt chính trong đời sống đạo đức của Do Thái giáo. Họ có một cuộc “đại chay” bắt buộc nhân ngày lễ xá tội. Đồng thời họ cũng có những cuộc chay tịnh khác mang tính cách tập thể, chẳng hạn gặp ngày tổ quốc gặp hoạn nạn. Ngoài ra, những người đạo đức còn ăn chay vì lòng sốt sắng, như các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và những người Biệt phái, họ thường ăn chay mỗi tuần hai lần vào ngày thứ hai và thứ năm. Chung qui lại, ăn chay đối với Do thái giáo bao gồm ba ý nghĩa chính :

                – Để tỏ lòng sám hối và xin ơn.
    – Để chờ đợi Đấng Cứu Thế đến giải phóng dân  khỏi ách đô hộ ngoại bang.
    – Lòng đạo đức nhiệt thành.

    3. Ý nghĩa việc ăn chay.

    Theo truyền thống Do thái giáo, việc giữ chay được liên kết chặt chẽ với việc chờ đợi Đấng Cứu Thế. Ăn chay có nghĩa là nói lên niềm trông đợi Đấng Cứu Thế. Căn cứ trên ý nghĩa và mục đích của việc giữ chay như thế,  Chúa Giêsu muốn cho mọi người thấy rằng Ngài chính là Đấng Cứu Thế, do đó các môn đệ không cần giữ chay, bởi vì họ không cần trông đợi nữa. Đó là thái độ hợp thời và hợp lý; họ đang sống bên Chúa Giêsu : thái độ của họ không phải là thái độ buồn sầu, khóc lóc.  Thời của Đấng Cứu Thế không phải là thời của tang chế, ủ dột, mà là thời của hân hoan (Mỗi ngày một tin vui).

    1. “Rượu mới thì đổ vào bầu da mới”.

    Chúa đến khai mạc một luật mới, một hiến chương mới của Nước Trời. Luật mới này đòi hỏi con người, cụ thể là người Do thái thời đó, phải thay đổi hoàn toàn đời sống, hay nói một cách gợi hình hơn “phải lột xác”. Việc ăn chay, do đó, sẽ chẳng giống như luật cũ. Hai thí dụ Chúa dùng để giải thích cho đòi hỏi  đó rất linh động và gợi hình, là không nên lấy vải mới vá vào áo cũ, không đổ rượu mới vào bầu da cũ. Tức là Chúa quyết liệt khẳng định : bây giờ là lúc phải theo luật mới của Tân Ước.

    Chúng ta có thể đưa ra một số chứng từ cụ thể trong Tin Mừng để thấy bản chất  luật mới của Chúa Giêsu : thương yêu là căn bản trong tương quan của mỗi người đối với Thiên Chúa và với tha nhân – tôn trọng sự thật, chân lý, lẽ phải ngay từ trong thâm tâm – không trình diễn, khoe khoang những việc đao đức, chỉ cần chính tâm, thành ý, làm hơn là nói – không nệ luật cứng nhắc, máy móc, nhưng phải uyển chuyển trên tiêu chuẩn bác ái v. v…(Phạm Văn Phượng).

    1. Ngoài ra, ăn chay đối với người Kitô hữu cũng có nghĩa là “dấn thân” cho một thế giới mới, xây dựng một trật tự và một nếp sống mới trong những mối tương quan mới về hiệp nhất, yêu thương với Chúa và với anh chị em chung quanh ta.
      Trong bài giáo huấn hồi tháng 3 năm 1979, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói đến ý nghĩa của sự chay tịnh như sau :”Chay tịnh là khước từ khoái cảm, các kích thích lạc thú và ngay cả thức ăn của uống, tự nó không phải là mục đích, nhưng nó phải mở đường cho những giá trị sâu xa hơn mà con người nội tâm cần phải được nuôi dưỡng. Một sự khước từ, một sự hãm dẹp thân xác như thế, phải giúp tạo nên trong con người những điều kiện  để có thể sống những giá trị cao cả mà nó hằng khao khát”.
    1. Truyện : Ý nghĩa việc ăn chay.

    Có một đan sĩ nọ, trong một phút yếu lòng, đã phạm một tội rất nặng. Thầy cảm thấy hối hận sâu xa và quyết định bỏ ba năm để đền tội. Ngày kia, thầy đến hỏi Đức Viện phụ :

                – Thưa cha, ba năm trời có đủ để khóc than và đền bù tội lỗi của con không ?
    – Ba năm nhiều quá ! Viện phụ đáp.
    – Vậy thưa cha, chỉ cần một năm thôi cũng đủ hay sao ?
    – Cha nghĩ một năm cũng quá nhiều !
    – Vậy con nghĩ 40 ngày ăn chay đánh tội nhiệm nhặt là đủ rồi , hay cha vẫn thấy còn quá nhiều ?
    Bấy giờ Viện phụ mới kết luận :”Cha tin chắc rằng khi một người thành tâm thống hối tội lỗi của mình đã phạm  và quyết chí từ nay không tái phạm tội ấy nữa,  thì chỉ cần một ngày đau buồn đền tội và một ngày hôm sau, khi bình minh trở lại, người ấy phải vui mừng đón nhận cuộc sống mới !
    Sự trưởng thành thực sự mà con người có thể đạt được qua sự chay tịnh  không chỉ là thắng vượt được những dục vọng và đam mê thấp hèn của bản thân mà chính là biết xa lánh tội lỗi và đưa con người đến gần Chúa và tha nhân hơn.

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

                                                                                                   

               

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com