Thêm

    Thứ Hai, tuần 6 /TN

    BÀI ĐỌC I: St 4, 1-15. 25

    Ađam ăn ở với vợ là Evà; bà mang thai, sinh ra Cain, và nói rằng: “Nhờ ơn Chúa, tôi sinh được người con”. Bà sinh ra Abel là em. Abel thì chăn chiên, còn Cain thì làm ruộng. Sau một thời gian, Cain lấy hoa trái đồng ruộng dâng lên cho Chúa. Abel cũng bắt các con vật đầu đàn và lấy mỡ mà dâng lên cho Chúa. Chúa đoái nhìn đến Abel và của lễ ông dâng. Còn Cain và của lễ của ông, thì Chúa không nhìn đến, nên Cain quá căm tức và sụ mặt xuống. Chúa nói với Cain: “Tại sao ngươi căm tức, tại sao ngươi sụ mặt như thế? Nếu ngươi làm lành, sao ngươi không ngẩng mặt lên; còn nếu ngươi làm dữ, thì tội đã kề ở cửa ngươi. Lòng ganh tị thúc đẩy ngươi, ngươi phải chế ngự nó”. Cain nói cùng em là Abel rằng: “Chúng ta hãy ra ngoài”. Và khi hai anh em đã ra tới đồng, thì Cain xông vào giết Abel em mình. Chúa phán cùng Cain rằng: “Abel, em ngươi đâu?” Cain thưa: “Tôi đâu có biết! Tôi có phải là người giữ em tôi đâu?” Chúa phán: “Ngươi đã làm gì? Tiếng máu em ngươi từ đất kêu thấu đến Ta. Bây giờ, ngươi bị chúc dữ trên phần đất đã mở miệng hút máu em ngươi do tay ngươi làm đổ ra. Khi ngươi trồng tỉa, đất sẽ không sinh hoa trái cho ngươi. Ngươi sẽ đi lang thang khắp mặt đất”. Cain thưa cùng Chúa rằng: “Tội ác tôi quá nặng nề, đâu tôi còn đáng tha thứ. Hôm nay Chúa đuổi tôi ra khỏi mặt đất, tôi sẽ ẩn trốn khỏi mặt Chúa và tôi sẽ đi lang thang trên mặt đất, nhưng ai gặp tôi, sẽ giết tôi”. Chúa bảo: “Không có vậy đâu, hễ ai giết Cain, thì sẽ bị phạt gấp bảy lần”. Rồi Chúa ghi trên Cain một dấu, để ai gặp hắn, sẽ không giết hắn.

    Ađam còn ăn ở với vợ, bà sinh một con trai đặt tên là Seth, bà nói: “Thiên Chúa đã ban cho tôi một đứa con trai khác thế cho Abel mà Cain đã giết”.

    PHÚC ÂM: Mc 8, 11-13

    Khi ấy, các người biệt phái xuất hiện và bắt đầu tranh luận với Chúa Giêsu. Họ xin Người một điềm lạ trên trời để thử Người. Người thở dài mà nói: “Tại sao thế hệ này lại xin điềm lạ? Quả thật, Ta bảo các ông hay: Sẽ chẳng cho thế hệ này điềm lạ nào”. Rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền sang bờ bên kia.

    Suy Niệm 1: EM NGƯƠI ĐÂU?

    Sự dữ đã đi vào gia đình nhân loại ngay từ hai ông bà nguyên tổ, qua câu chuyện biểu tượng là việc ăn trái cây biết lành biết dữ. Con người, vẫn với tự do của mình, tiếp tục lún sâu hơn trong tội lỗi với việc Cain sát hại Abel. Câu chuyện hai anh em, mỗi người dâng lễ phẩm của mình cho Đức Chúa, cũng đầy tính biểu tượng. Câu chuyện ấy không có ý nói rằng Chúa thích mỡ súc vật hơn là trái cây, nên Ngài nhận của Abel mà từ chối của Cain. Đúng hơn, câu chuyện muốn cho biết rằng nơi tâm hồn Cain đã có gì đó không đẹp ý Chúa.

    Của lễ không được nhận, Cain “căm tức và sụ mặt xuống”. Chúa cảnh cáo và nhắc nhở. Nhưng điều xảy ra là do ghen tức, Cain đã “xông vào giết Abel”. Chúa truy hỏi em ngươi đâu, Cain chối quanh rằng tôi không biết, tôi không phải là người trông giữ em tôi!… “Tiếng máu em ngươi từ đất kêu thấu đến Ta”, Chúa nói… Nhưng trước một Cain dằn vặt và đầy sợ hãi, Chúa đã trấn an rằng Ngài sẽ bảo vệ mạng sống của Cain…

    Xâu chuỗi các sự kiện có nhiều tính biểu tượng này, ta thấy gì?

    Ta thấy tội đầu tiên mở van đáy cho mọi thứ tội tràn vào nhận chìm con người là tội BẤT TUÂN PHỤC THIÊN Ý – do đó, mọi thứ tội đều tự bản chất là tội bất tuân phục thánh ý Chúa…

    Ta thấy con người mất khả năng đề kháng, tự do vẫn còn nguyên, nhưng khả năng sử dụng tự do bị suy yếu trầm trọng, và chuỗi tội lỗi bắt đầu, trong đó tội này gây ra thêm tội kia – như một phản ứng phân hạch dây chuyền trong vụ nổ bom hạt nhân.

    Ta thấy khi bất tuân phục thánh ý Chúa, con người chống lại Thiên Chúa, thì cũng chống lại con người (tha nhân và chính bản thân mình) là hình ảnh của Thiên Chúa – sự dữ leo thang nhanh chóng đến mức Cain giết Abel, đó là con người giết chính mình và đồng thời cho thấy muốn giết Thiên Chúa (vì mọi con người đều là hình ảnh của Thiên Chúa).

    Ta thấy như vậy là xáo trộn hoàn toàn rồi, và điên rồ tận cùng rồi! Bạo lực, xung đột, chiến tranh, loại trừ… đã nhảy vào sân khấu ngay từ đầu tiên, với hình ảnh Cain xông vào giết Abel, và kéo dài, gia tăng cấp độ cho đến ngày nay như chúng ta đã và đang thấy: không còn chỉ là chuyện giữa các cá nhân, mà là chiến tranh và tàn sát giữa các cộng đồng, các quốc gia, các liên minh…

    Câu hỏi “Em ngươi đâu?” mà Thiên Chúa hỏi Cain không chỉ là câu hỏi dành cho các tương quan cá nhân, mà cả cho các cộng đồng, các quốc gia nữa. Khi mới làm giám mục Rôma, Đức thánh cha Phanxicô đã đến Lampedusa uỷ lạo tinh thần các di dân sống sót sau khi hàng ngàn người bị xua đuổi và chết thảm trên biển trong thời gian trước đó. Ngài đã có một bài giảng lễ xoáy sâu vào câu hỏi “Em ngươi đâu?” này, muốn nhắn gửi các giới hữu trách đã để xảy ra thảm kịch…

    Bao lâu chúng ta còn chối quanh, như Cain, trước câu hỏi “Em ngươi đâu?”, thì bấy lâu chiến tranh và loại trừ vẫn còn, phẩm giá con người vẫn bị chà đạp, thí bỏ. Và không tránh được cảm thức xấu hổ, trần truồng, chúng ta sẽ run sợ khi Chúa đến gặp và hỏi: “Ngươi ở đâu rồi?” – “Con đang trốn trong bụi rậm đây, Chúa ơi, con không dám ra trước mặt Chúa”!

    Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người đã bị người ta loại trừ cách bất nhẫn và đầy bạo lực nhân danh sự an toàn và ổn định của những cá nhân và cộng đồng, xin Chúa giúp đưa chúng ta ra khỏi bụi rậm và nhận ra chính Chúa nơi khuôn mặt của anh chị em mình.

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ……………………….

    Suy Niệm 2: SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA GIÊSU VỚI VÀ CHO CHÚNG TA CHÍNH LÀ DẤU LẠ

    Bài đọc 1 vẽ thêm một bức tranh đầy đau thương trong gia đình đầu tiên của nhân loại. Đây là bức tranh đau thương thứ hai xảy ra trong lịch sử nhân loại. Trong bức tranh thứ nhất tương quan “vợ-chồng” bị đổ vỡ – Họ không tin tưởng và đổ lỗi cho nhau. Còn bức tranh thứ hai trình bày sự đổ vỡ trong mối tương quan “anh-em” hoặc “chị-em” – Họ ganh tỵ và giết nhau. Suy gẫm trên lời Chúa trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta có thể rút ra hai thái độ tiêu cực [từ Cain] cần phải tránh và một thái độ tích cực [của Thiên Chúa] cần phải học sau đây.

    Thái độ thứ nhất mà chúng ta cần phải tránh là sự ganh tỵ và giận dữ. Sách Sáng Thế trình bày cho chúng ta thấy nguyên nhân của việc Cain giết Aben là do ganh tỵ và giận dữ: “Sau một thời gian, Cain lấy hoa màu của đất đai làm lễ vật dâng lên Đức Chúa. Aben cũng dâng những con đầu lòng của bầy chiên cùng với mỡ của chúng. Đức Chúa đoái nhìn đến Aben và lễ vật của ông, nhưng Cain và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn. Cain giận lắm, sa sầm nét mặt” (St 4:3-5). Cain ganh tỵ vì Thiên Chúa đoái nhìn đến lễ vật của Aben. Có nhiều lối giải thích khác nhau về lý do tại sao Thiên Chúa đoái nhìn đến lễ vật của Aben, mà không đoái nhìn đến lễ vật của Cain. Một trong những lối giải thích được nhiều người chấp nhận là: Aben đem dâng cho Chúa của lễ đẹp nhất chọn từ “những con đầu lòng” của đàn vật mình, là những con vật không tỳ ố hay thương tích; còn Cain dâng cho Chúa những hoa màu dư thừa của ruộng đồng. Lối giải thích này dường như không được ẩn chứa trong đoạn Kinh Thánh trên. Theo các chuyên gia Kinh Thánh, đoạn trích này nói về văn hoá du mục của người Do Thái: Người Do Thái là những người chăn nuôi du mục, hơn là trồng trọt. Vì lý do này mà lễ vật dâng tiến lấy từ việc chăn nuôi của họ, từ tay họ làm ra được ưa thích hơn so với lễ vật lấy từ việc trồng trọt. Tuy nhiên, điều làm cho lễ vật của Aben được thương nhận là vì ông “dâng những con đầu lòng của bầy chiên mình.” Điều này tiên báo của lễ đẹp lòng Thiên Chúa mà Chúa Giêsu, như “Con đầu lòng,” dâng lên Chúa Cha trên Thánh Giá.

    Khi thấy lễ vật của mình không được đoái nhận, Cain không nên ganh tỵ và giận dữ. Đúng ra Cain phải tự xét lại xem lễ vật và động lực dâng lễ vật của mình có đẹp lòng Thiên Chúa không. Thay vì xét mình và hoán cải thì Cain đã “phán xét người khác” và “lên án tử.” Đây chính là lý do đưa Cain đến bờ vực sâu của phạm tội. Chúng ta cũng vậy! Biết bao lần trong cuộc sống thường ngày, thay vì “nhìn vào bên trong chính mình và hoán cải” trước mặt Chúa, chúng ta lại “nhìn ra ngoài, nhìn vào anh chị em của mình để lên án và kết tội.” Nói theo ngôn từ của bài đọc 1 là, chúng ta đã nhiều lần ganh tỵ và giận dữ với anh chị em mình. Khi chúng ta giận dữ với ai, thì chúng ta đã giết người đó trong con tim và tư tưởng của mình. Hành động giận dữ luôn là kết quả của một hành động xấu. Sách Sáng Thế nói cho chúng ta rằng: “Đức Chúa phán với Cain: ‘Tại sao ngươi giận dữ? Tại sao ngươi sa sầm nét mặt? Nếu ngươi hành động tốt, có phải là ngươi sẽ ngẩng mặt lên không? Nếu ngươi hành động không tốt, thì tội lỗi đang nằm phục ở cửa, nó thèm muốn ngươi; nhưng ngươi phải chế ngự nó” (St 4: 6-7). Khi chúng ta để sự nóng giận chế ngự chúng ta, chúng ta đã để cho ma quỷ thừa cơ lợi dụng như Thánh Phaolô răn dạy chúng ta: “Đừng để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn; đừng để ma quỷ thừa cơ lợi dụng” (Eph 4:26). Hãy luôn sống điềm tĩnh và kiểm soát sự nóng giận của mình. Đừng để hối hận vì chỉ một giây phút nóng giận mà phá hỏng đi những mối tương quan chúng ta đã mất nhiều thời gian xây dựng; đừng để hối hận vì không thể rút lại những lời nói thiếu tế nhị, xúc phạm và gây tổn thương cho người khác khi tức giận. Người có tính hay giận dữ là “người yếu nhất,” vì họ không thể chiến thắng được “một” trong những cảm xúc của họ, thì làm sao họ có thể chiến thắng chính mình và chiến thắng người khác.

    Thái độ thứ hai chúng ta cần tránh là thái độ “nói dối” và “không biết hối hận” của Cain: “Đức Chúa phán với Cain: ‘Aben em ngươi đâu rồi?’ Cain thưa : ‘Con không biết. Con là người giữ em con hay sao?’” (St 4:9). Nhiều người thường giải thích đoạn văn trên theo chiều hướng xem thái độ của Cain là thái độ của những người ích kỷ, chỉ sống cho riêng mình và “không có đời sống cộng đoàn.” Những người có thái độ này là những người “không biết đến” anh chị em vì họ “không phải là người giữ” anh chị em của họ. Lối giải thích này, một mức độ nào đó, đúng theo bối cảnh của nó. Tuy nhiên, khi đặt bản văn trong bối cảnh của tương quan trong gia đình, tác giả sách Sáng Thế muốn trình bày cho chúng ta một sự thật đau lòng về con người: Nói dối để chối bỏ trách nhiệm về việc làm của mình. Vừa mới giết và dấu xác em mình xong, Cain không nói sự thật khi Thiên Chúa hỏi đến Aben. Cain không nói sự thật vì Cain đã bị “Satan, cha của sự dối trá” chiếm ngự. Nói cách khác, Cain không dám chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Đây chính là điều mà cha mẹ của Cain là Adam và Eva đã làm – họ không nhận lỗi của mình nhưng đổ lỗi cho nhau! Chúng ta cũng nhiều lần không nhận trách nhiệm về lỗi phạm của mình bằng việc “nói dối.” Chúng ta sợ bị mất mặt, sợ bị mất hình ảnh “đáng tôn kính của mình” trước mặt người khác khi nói thật và sống thật. Nhiều khi chúng ta còn biện minh rằng: “Lời nói dối của tôi không hại đến ai. Nhiều khi còn bảo vệ hạnh phúc của mình và của người khác.” Đây là điều mà nguyên tắc luận lý dạy: Lấy phương tiện biện minh cho hành động. Tuy nhiên, trong trường hợp trên, nguyên tắc này đã bị áp dụng sai vì phương tiện xấu thì không thể biện minh cho mục đích tốt. Phương tiện xấu không thể làm cho hành vi tốt được! Nói dối là nói dối. Không thể làm cho sự việc và hành động trở nên thật.

    Thái độ tích cực chúng ta cần học là thái độ đầy yêu thương và tha thứ của Thiên Chúa. Như Ngài đã đối xử rộng lượng với Adam và Eva, Cha Mẹ của Cain, Thiên Chúa cũng khoan dung và bảo vệ ông dù ông xúc pham đến Ngài: “Đức Chúa phán với ông: “Không đâu! Bất cứ ai giết Cain sẽ bị trả thù gấp bảy.” Đức Chúa ghi dấu trên Cain, để bất cứ ai gặp ông khỏi giết ông” (St 4:15). Yêu một người đáng yêu, tha thứ cho một người đáng tha thứ là bình thường, là con người. Còn yêu một người không đáng yêu, tha thứ cho một người không đáng tha là “ngoại thường,” là thiêng liêng.

    Bài Tin mừng hôm nay rất ngắn gọn và xảy ra ngay sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hoá bánh ra nhiều lần thứ hai. Việc những người Pharisêu đòi Chúa Giêsu một dấu lạ có thể mang hai ý nghĩa: (1) Họ muốn thử Chúa Giêsu như bài Tin Mừng trình bày, và (2) Maccô muốn nói đến dấu lạ ẩn chứa đằng sau phép lạ hoá bánh ra nhiều mà Chúa Giêsu muốn nhắm đến [điều chúng ta sẽ nghe trong ngày mai khi Chúa Giêsu giải thích cho các môn đệ]. Cuộc tranh luận hôm nay là cao trào của cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và nhóm Pharisêu mà đã được bắt đầu với sự kiện các môn đệ không rửa tay trước khi ăn uống (x. Mc 7:1-23). Chúng ta cùng nhau phân tích cách chi tiết ba câu của bài Tin Mừng để rút ra thêm những bài học quý giá cho ngày sống của mình:

    Thứ nhất, “khi ấy, những người Pha-ri-sêu kéo ra và bắt đầu tranh luận với Đức Giêsu, họ đòi Người một dấu lạ từ trời để thử Người” (Mc 8:11). Trong câu này, chúng ta thấy động lực đòi dấu lạ từ trời của những người Pharisêu là để “thử thách” Chúa Giêsu. Hành vi này gợi cho chúng ta nhớ lại hành vi thử thách Chúa Giêsu của ma quỷ trong hoang địa. Nhiều khi chúng ta cũng “thử thách” Thiên Chúa như vậy. Nhưng chúng ta không đòi xem “dấu lạ từ trời.” Chúng ta chỉ đòi Chúa cho chúng ta “những điều dưới đất” mà chúng ta xin. Chúng ta đến với Chúa với những động lực không tinh tuyền. Thay vì đến với Chúa với lòng yêu mến và tạ ơn, chúng ta lại đến với Chúa với thái độ “làm cho xong việc đạo đức” hoặc để cho người khác “chiêm ngưỡng và tôn vinh” sự thánh thiện của mình. Hãy đến với Chúa với lòng khiêm nhường và con tim tràn đầy yêu thương.

    Thứ hai, “Người thở dài não nuột và nói: ‘Sao thế hệ này lại xin một dấu lạ? Tôi bảo thật cho các ông biết: thế hệ này sẽ không được một dấu lạ nào cả’” (Mc 8:12). Chúng ta thấy trong câu này thái độ buồn phiền của Chúa Giêsu. Ngài buồn vì nhóm Pharisêu vừa mới chứng kiến phép lạ hoá bánh ra nhiều thì đã đòi dấu lạ từ trời để chứng minh Ngài là “Đấng Messia từ trời đến.” Nhưng Chúa Giêsu từ chối không “khoa trương” quyền năng của mình theo “ý muốn” của con người. Chúng ta thấy Chúa Giêsu buồn sầu vì họ không thể vượt qua dấu chỉ bề ngoài để đến với thực tại mà dấu lạ muốn chỉ đến: Không phải Môsê (con người) ban cho các ông manna trong hoang địa, nhưng là Cha Ta (Thiên Chúa), Đấng ngự trên trời ban cho các ông. Chúng ta cũng vậy! Nhiều lần trong ngày sống của mình, chúng ta “không muốn” vượt qua dấu chỉ bên ngoài được tìm thấy trong các biến cố xảy ra để đọc được ý nghĩa bên trong mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta. Vì vậy, chúng ta tiếp tục sống trong thái độ hoài nghi và không tin tưởng. Đối với chúng ta là những Kitô hữu [nhất là những người được thánh hiến cho Thiên Chúa], dấu lạ vĩ đại nhất mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta là biến bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Ngài để nuôi dưỡng chúng ta. Dấu lạ hàm chứa hai ý nghĩa: Một mặt nói lên tình yêu tuyệt đối và vô điều kiện của Thiên Chúa cho con người và mặt khác nói lời mời gọi tha thứ cho nhau để trở nên một với nhau trong Ngài. Hãy sống dấu lạ này cách triệt để trong từng giây phút của ngày sống chúng ta.

    Thứ ba, “rồi bỏ họ đó, Người lại xuống thuyền qua bờ bên kia (Mc 8:13). Câu này tạo nên bối cảnh để chuẩn bị cho một cuộc tranh luận khác mà những người chống đối không còn là những người Pharisêu, nhưng là các môn đệ, những người “ngồi chung thuyền” với Ngài để qua bờ bên kia. Chúa Giêsu luôn muốn lên con thuyền của cuộc đời của chúng ta. Ngài luôn muốn hành trình với chúng ta. Liệu chúng ta có cho phép Ngài bước vào chiếc thuyền của đời mình và đồng hành với chúng ta không? Liệu chúng ta có trở nên nghi ngờ và tự hỏi nhiều điều trong lòng như các môn đệ dù Chúa Giêsu đang “ở với chúng ta trên thuyền” và đã chứng kiến những kỳ công Ngài đã làm trong cuộc đời chúng ta?

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………….

    Suy Niệm 3: Biệt phái xin Chúa phép lạ từ trời

    1. Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều (8,1-10) lần thứ hai ở phía đông biển hồ Bétsaiđa, Chúa Giêsu cùng môn đệ xuống thuyền sang phía tây hồ. Nhưng vừa cập bến được ít lâu, một nhóm biệt phái, có cả nhóm sađucêu nữa, kéo nhau đến rình mò , tranh luận và thử thách Ngài.
      Trước đó Người cũng đã làm nhiều phép lạ, trong đó có những phép lạ lớn (Mc 4,35 – 5,43 : dẹp yên bão táp, trục xuất quỉ ám  ra khỏi người ta, chữa một bà loạn huyết, làm cho đứa con gái ông Giairô sống lại). Thế mà những người biệt phái vẫn chưa tin Người. Hôm nay họ lại thách thức Người làm một “dấu lạ từ trời” nghĩa là một phép lạ phát xuất từ chính Thiên Chúa.
    1. “Người thở dài não nuột mà nói…”
      Thực ra những phép lạ Người làm, nhất là những phép lạ lớn vừa kể trên, đã đủ minh chứng Người là Đấng có quyền phép “từ trời”.  Sở dĩ họ không tin là chỉ vì họ ngoan cố. Bởi đó Chúa Giêsu nói  sẽ chẳng cho họ một dấu lạ nào nữa .
      Trong phần tiếp theo, Tin Mừng Mc vẫn tiếp tục cho thấy Chúa Giêsu làm thêm nhiều phép lạ khác. Tuy nhiên những phép lạ đó cũng chẳng phải làm cho  những người biệt phái ấy. Nói cách khác, những phép lạ ấy chỉ có ý nghĩa và giá trị cho những người khác chứ không cho những người biệt phái cứng lòng.
    1. Vấn đề phép lạ – dấu lạ.
      Đành rằng trong công cuộc truyền giáo, Chúa ban cho một số chứng nhân của Người có khả năng làm một số phép lạ hay dấu lạ để minh chứng lời rao giảng và nâng đỡ niềm tin cho người nghe, nhưng phép lạ hay dấu lạ không là điểm chính yếu và đóng vai trò quyết định cho việc đón nhận Lời Thiên Chúa.  Vì thế, sẽ tầm thường hóa niềm tin và hậu quả  là sự hời hợt không có chiều sâu cũng như không có sự yêu mến đích thực.
      Thánh Phaolô từng dạy rằng, đã trông thấy rồi mới tin thì không còn là đức tin nữa. Nói cách khác, chỉ là sự bất đắc dĩ phải chấp nhận khi chuyện đã tỏ tường mà thôi. Thiên Chúa ban phép lạ hay dấu lạ là do lòng nhân hậu của Người và có giá trị trong chương trình cứu độ, chứ không chiều theo sở thích của con người đòi hỏi Người phải ban dấu lạ điềm thiêng.
      Thật vậy, một đức tin trưởng thành không hệ tại ở dấu lạ, mà kiên trì trong thử thách và sự trung tín bền vững vào Chúa. Đó mới là điều hữu ích cho linh hồn tín hữu.
    1. Những phép lạ kể trên đã đủ chứng minh Chúa Giêsu là Đấng có quyền phép từ trời rồi. Thế nhưng, họ không tin là vì họ ngoan cố, bởi đó Ngài nói sẽ chẳng cho họ một dấu lạ nào nữa.
      Chúng ta phải nói lại, phép lạ Chúa như vậy, Tin Mừng hôm nay cho thấy phép lạ “không sinh ra đức tin” mà chỉ là “dấu chỉ dẫn người ta tới đức tin”. Bởi thế, Sống đạo mà chỉ quan tâm tới phép lạ (như Lộ Đức, Fatima, La Vang…) thì chưa hẳn là sống đạo thật. Sống đạo thật là sống bằng đức tin. Ngược lại, người có đức tin thật thì nhìn thấy phép lạ trong tất cả mọi việc, kể cả việc nhỏ và tầm thường nhất.
    1. Niềm tin thì chúng ta dễ có, và có thể tạo ra niềm tin, còn Đức tin thì phải đến từ Thiên Chúa, đó là một hồng ân Thiên Chúa ban cho con người, chứ không phải con người tạo ra Đức tin. Trong hành vi đức tin, Thiên Chúa vừa cho có ánh sáng, vừa cho bóng tối. Đức tin, vì thế đòi hỏi phải có sự khó nhọc, chọn lựa, hy sinh và dấn thân. Một Đức tin mà đòi hỏi một chứng cớ rõ ràng, thì không phải là Đức tin nữa. Vả lại, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình thương, mà trong tình yêu thì không có sự ép buộc hay cưỡng bức, nhưng là sự tự do, tự nguyện.
    1. Truyện : Hãy cho tôi thấy Thiên Chúa.
      Một ông vua thông minh tài giỏi, nhưng rất ngạo ngược. Ngày kia, ông bèn nảy ra ý kiến hiểm độc. Ông cho triệu các nhà lãnh đạo tôn giáo đến và ra lệnh trong một tuần lễ phải cho ông thấy được Thiên Chúa, nếu không sẽ bị chém đầu.
      Thật là một đòi hỏi nan giải và hóc búa. Làm sao có thể thực hiện cho nhà vua được ? Vì không thiếu phép lạ, nhưng phép lạ không phải để đáp lại cái ý muốn điên rồ và thách  thức ấy.
      Biết được nỗi lo âu ấy, một kẻ chăn chiên đến xin các vị lãnh đạo  cho phép để chỉ cho nhà vua thấy Thiên Chúa. Họ không tin tưởng lắm, nhưng cũng đành lòng chấp nhận.
      Buổi sáng ngày ấn định, anh chăn chiên dẫn nhà vua đến cánh đồng cỏ nơi anh thường thả đàn vật. Họ cùng nhau đi bộ. Lúc đến nơi thì mặt trời đã gần lên tới đỉnh đầu. Người chăn chiên đưa tay chỉ mặt trời và nói :”Tâu bệ hạ, xin hãy nhìn”.
      Nhà vua tức giận quát lớn :”Thằng điên ! Ngươi muốn ta mù sao ? Ai có thể nhìn vào mặt trời chói chang như vậy” ?
      Lúc ấy, người chăn chiên liền quì gối xuống trước mặt vua mà nói :”Muôn tâu bệ hạ, với một vật Chúa làm ra và ánh áng của nó còn chói chang, đến nỗi bệ hạ chẳng dám nhìn, thì làm sao bệ hạ có thể  nhìn thấy chính Thiên Chúa được ?

      Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

                                                                                                   

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com