BÀI ĐỌC I: St 1, 20 – 2, 4a
Thiên Chúa phán: “Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời”. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm. Thiên Chúa lại phán: “Ðất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp; và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất, và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”. Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa; Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ. Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều đầy mặt đất, và thống trị nó, hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu. Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi. Chúa chúc phúc và thánh hoá ngày thứ bảy, vì trong ngày đó, Người nghỉ việc tạo thành. Ðó là gốc tích trời đất khi được tạo thành.
PHÚC ÂM: Mc 7, 1-13
Khi ấy, những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem tụ tập lại bên Chúa Giêsu, và họ thấy vài môn đệ Người dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch, nghĩa là không rửa trước. Vì theo đúng tập tục của tiền nhân, những người biệt phái và mọi người Do-thái không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng. Vậy những người biệt phái và luật sĩ hỏi Người: “Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch?” Người đáp: “Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: “Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người”. Vì các ngươi bỏ qua các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người: rửa bình, rửa chén và làm nhiều điều như vậy”. Và Người bảo: “Các ngươi đã khéo bỏ giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục của các ngươi. Thật vậy, Môsê đã nói: “Hãy thảo kính cha mẹ”, và “ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử tử”. Còn các ngươi thì lại bảo: “Nếu ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi (nghĩa là của dâng cho Chúa)”, và các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho cha mẹ nữa. Như thế các ngươi huỷ bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho nhau. Và các ngươi còn làm nhiều điều khác giống như thế”.
Suy Niệm 1: DÂN NÀY SÙNG KÍNH TA NGOÀI MÔI MIỆNG…
Rình. Phát hiện lỗi. Chỉ trích… Đó là lối của những người ‘biệt phái’, tức phái đạo đức đặc biệt. Có vẻ họ cảm thấy thú vị mỗi khi bắt được lỗi nào đó nơi người khác… Còn các môn đệ Chúa Giêsu – và chính Người – thì luôn bị rình, cũng thường bị bắt lỗi, nhất là lỗi luật ngày Sa-bát, và do đó thường bị chỉ trích…
Lần này, bị bắt bẻ vì vài môn đệ đã không rửa tay (như một nghi thức tôn giáo) trước khi dùng bữa, Chúa Giêsu rất đỗi phiền lòng – không phải do bị bắt bẻ, mà do thấy rõ tình trạng đạo đức giả nơi những người bắt bẻ. Đạo đức giả, hay giả hình, thì không tốt chút nào. Bởi bản chất của nó là giả dối, không thật, không trung thực. Nó làm tổn hại phẩm giá con người là hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn chân thực và nơi Ngài chỉ có sự thật!
Giả hình, hay đạo đức giả, cũng là trò lừa người ta, và lừa cả Thiên Chúa, mà đây là điều không thể được! Như có người nói: Bạn có thể lừa mọi người trong một thời gian, và lừa một số người mãi mãi, nhưng bạn không thể nào lừa được mãi mãi tất cả mọi người. Còn lừa Thiên Chúa ư? Đó bao giờ cũng ngớ ngẩn như trò trẻ con thôi! Điều quan trọng, đừng quên rằng giả dối, lừa gạt do Satan sinh ra – chính Satan là cha đẻ. Do đó, mọi sự giả dối, lừa gạt đều là con đường huỷ diệt, con đường chết.
Phiền lòng lắm, nên Chúa Giêsu nhắc nhở: “Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: ‘Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người’”.
Chúng ta có kính Chúa ngoài môi miệng mà lòng mình thì rất xa Chúa không?
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
…………………..
Suy Niệm 2: SỐNG THEO GIỚI RĂN THIÊN CHÚA HƠN LÀ TRUYỀN THỐNG CON NGƯỜI
Trong sách Sáng Thế, chúng ta đọc thấy rằng: Khi Thiên Chúa sáng tạo những sự vật khác, Ngài chỉ đơn giản “phán” và mọi sự xảy ra như lời Ngài phán. Tuy nhiên, khi đến sáng tạo con người, thì mọi sự thay đổi: Thiên Chúa không chỉ đơn giản phán như trước, mà Ngài: Dừng lại – suy nghĩ – đối thoại – thực hiện. Hơn nữa, sau khi sáng tạo con người, “Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” (x. St 1: 28). Đây chính là điều làm con người hoàn toàn khác với các tạo vật khác. Chúng ta có thể nói rằng, đây chính là “hình ảnh của Thiên Chúa trong con người. Những tạo vật khác không có khả năng dừng lại – suy nghĩ – đối thoại – thực hiện. Những tạo vật khác chỉ sống theo định luật mà Thiên Chúa đã đặt để trong chúng. Còn con người thì không, con người có thể chống lại định luật này với khả năng “dừng lại – suy nghĩ – đối thoại – hành động.” Chúng ta có sử dụng khả năng này trong đời sống thường ngày của chúng ta không? Hay chúng ta để cho những cảm xúc tự nhiên chiến thắng chúng ta [như những thú vật], để rồi chúng ta có những thái độ và lối ứng xử, đôi khi, “không có nhân tính”?
Chi tiết thứ hai chúng ta suy gẫm trong bài đọc 1 là việc Thiên Chúa tạo dựng nên con người theo hình ảnh và giống Ngài. Ngài tạo dựng nên họ có nam có nữ (x. St 1:26-27). Điều này nói lên sự bình đẳng trong nhân vị giữa người nam và người nữ. Cả hai được tạo dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Tuy nhiên, ở đây chúng ta phải lưu ý rằng: Nam nữ bình đẳng với nhau trong nhân vị: Họ “bình đẳng” chứ không “giống” nhau. Chúng ta thấy điều này ngay trong cấu trúc của cơ thể, của tính tình, lối suy nghĩ, cách làm việc, v.v. Như vậy, chữ “bình đẳng” trong nhân vị bao gồm tư tưởng “khác biệt nhưng không tách biệt,” hay nói cách khác, “khác biệt nhưng không loại trừ mà là bổ sung.” Điều này có nghĩa là gì? Điều này có nghĩa là người nam và nữ là hình ảnh của Thiên Chúa trong cách thức chuyên biệt của họ. Đừng bắt chước ngưới khác trong cách thức “là hình ảnh Thiên Chúa” của họ. Hãy là “hình ảnh Thiên Chúa” trong cách thức bạn là! Vì đây là điều Ngài muốn khi tạo dựng nên bạn theo hình ảnh và giống Ngài.
Chi tiết thứ ba chúng ta cần lưu ý là điệp khúc “Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.” Điệp khúc này được thay đổi “một tí” sau khi con người được sáng tạo: “Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả thật là ‘rất’ tốt đẹp” (St 1:31). Với sự xuất hiện của con người, là hình ảnh của Thiên Chúa, mọi sự trở nên ‘rất’ tốt đẹp. Điều này cho thấy, chỉ trong con người mà những tạo vật khác đạt đến sự tốt lành mà nó không có trước đó. Ví dụ, một viên kim cương không có giá trị gì khi nó nằm trong lòng đất, chưa được con người khám phá ra. Nó chỉ ‘tốt’ như là một tạo vật trong vũ trụ. Nhưng khi con người khám phá và đem làm đồ trang sức, thì viên kim cương đạt được điều tốt mà nó không có trước đó. Theo cách nhìn này, câu nói trên của sách Sáng Thế hàm chứa lệnh truyền của Thiên Chúa cho con người khi sử dụng những tạo vật khác: Hãy làm cho các tạo vật khác đạt tới sự tốt lành mà chúng không có trước đó. Đó chính là sự cộng tác của con người vào trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Suy cho cùng, chúng ta không tạo ra sự tốt lành trong các tạo vật, chúng ta chỉ làm cho chúng được tốt hơn khi sử dụng đúng mục đích mà Thiên Chúa đã sáng tạo ra.
Điểm cuối cùng trong bài đọc 1 hôm nay làm chúng ta lưu ý là sự kiện Thiên Chúa nghỉ ngơi trong ngày Sabát: “Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi. Thiên Chúa ban phúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hoá ngày đó, vì ngày đó Người đã nghỉ, ngưng làm mọi công việc sáng tạo của Người” (St 2:1-3). Mệnh lệnh nghỉ ngơi trong ngày Sabát không gì khác là lời mời gọi đi ra khỏi những bận rộn của tuần sống của mình để dành thời gian thinh lặng và nghỉ ngơi trong Chúa để không rơi vào tình trạng đi xa khỏi ý định ban đầu của Thiên Chúa cho cuộc sống của chúng ta và của các tạo vật. Chỉ những người dành thời gian thinh lặng và nghỉ ngơi trong Chúa mới có khả năng hiểu được ý nghĩa của vạn vật và cuộc sống của mình. Nói cách khác, chỉ những người, dù bận rộn, nhưng vẫn dành thời gian trò chuyện với Chúa mới có khả năng biết và thi hành ý Chúa.
Bài Tin Mừng hôm nay được xem là bước chuẩn bị cho cuộc tranh luận về đề tài “ô uế và không ô uế.” Cao trào của cuộc tranh luận về đề tại này sẽ được tìm thấy trong chương 8 (11-21), khi những người Pharisêu đòi Chúa Giêsu cho họ xem dấu lạ để thử người về quyền bính Ngài có trong việc giảng dạy về đề tài này. Đoạn Tin Mừng hôm nay cũng nhằm mục đích chuẩn bị cho hành trình giảng dạy của Chúa Giêsu bên ngoài Galilê, trong những vùng đất mà người Do Thái xem là ô uế, những vùng đất của dân ngoại.
Như thường lệ, Thánh Máccô trong bài Tin Mừng hôm nay sử dụng nghệ thuật tương phản trong thái độ để chuyển tải sứ điệp của mình. Cuối chương 6, trong bài Tin Mừng ngày hôm qua (Mc 6:53-56), chúng ta thấy thái độ đón nhận Chúa Giêsu của dân chúng. Thái độ này hoàn toàn tương phản với thái độ từ chối của “những người Pharisêu và một số kinh sư.” Nếu chúng ta liên kết với đề tài tương phản giữa “giới răn Thiên Chúa” và “truyền thống của tiền nhân” mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập đến, chúng ta nhận ra rằng: Trong ý định ban đầu của Thiên Chúa, Ngài muốn “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tim 2:4). Điều này được phản chiếu trong việc mọi người đón nhận Ngài; nhưng theo “truyền thống của những người Do Thái” chỉ những ai được tuyển chọn, là con cháu Abraham thì mới được hưởng ơn cứu độ. Điều này được phản chiếu trong thái độ của những người Pharisêu và một số kinh sư. Còn chúng ta: Chúng ta muốn mọi người được cứu độ, ngay cả những người chúng ta không thích, hay chúng ta chỉ muốn những người trong “nhóm” của chúng ta được cứu độ?
Như chúng ta đã chia sẻ ngày hôm qua, Giáo Hội chọn bài đọc 1 từ sách Sáng Thế để đưa chúng ta về với ý định ban đầu của Thiên Chúa. Điều này chúng ta thấy rõ trong cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Pharisêu và một số kinh sư trong bài Tin Mừng hôm nay. Cấu trúc của bài Tin Mừng hôm nay gồm 2 phần. Phần 1 là thách thức của những người Pharisêu và một số kinh sư về việc các môn đệ Chúa Giêsu không rửa tay trước khi ăn theo truyền thống của tiền nhân (Mc 7:1-8); và phần 2 là việc Chúa Giêsu chỉ trích những người chống đối Ngài đã dùng truyền thống của con người để thay thế cho các giới răn của Thiên Chúa qua việc thực hành korban: “Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng: ‘Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử!’ Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Người nào nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là ‘coban’ nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa’ rồi, và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa (Mc 7:10-12). Theo Chúa Giêsu, họ dùng truyền thống con người để tránh bổn phận của mình trước mặt Thiên Chúa cũng như biện minh cho những lỗi phạm của mình về luật bác ái. Ở đây, Chúa Giêsu một cách gián tiếp tuyên bố rằng: Ngài là Đấng có quyền giải thích luật. Đây chính là một khẳng định mang tính Kitô học. Tuy nhiên, điều chúng ta cần học ở đây là: Đừng tìm cách biện minh cho những lỗi phạm của chúng ta về việc thực hành bác ái.
Đi sâu hơn vào trong vấn đề tranh luận, chúng ta thấy cuộc tranh luận này bắt đầu với việc rửa tay, một hành vì mang tính cách bên ngoài và những người Pharisêu và một số kinh sư chỉ dừng lại ở đó. Nhưng Chúa Giêsu hướng những người chống đối Ngài vào yếu tố bên trong. Ngài trích lời của ngôn sứ Isaia để nói về điều này: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mc 7:6-7). Trong câu này, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn chúng ta phải trở về với ý định của Thiên Chúa khi thờ phượng Ngài. Ngài muốn chúng ta thờ phượng Ngài với cả con người của mình: trọn linh hồn và thân xác. Tóm lại, điều Thiên Chúa muốn chúng ta là không chỉ tôn thờ Ngài bằng môi bằng miệng, nhưng với trọn con tim. Nói cách khác, hãy đến với Chúa như là một “con người thống nhất – hồn và xác” chứ không phải chỉ thân xác như một “thây ma” hoặc chỉ linh hồn như một “bóng ma.”
Lm. Anthony, SDB.
……………………………………
Suy Niệm 2: Chúa khuyên đừng vụ hình thức
- Tin Mừng hôm nay kể lại cuộc đối chất giữa Chúa Giêsu và những người biệt phái về vấn đề tập tục của tiền nhân. Đối với người Do Thái, việc rửa tay, rửa chén đĩa, không chỉ là một biện pháp vệ sinh nhằm phòng bệnh, mà còn là một nghi thức tôn giáo nói lên ước nguyện trở nên thanh sạch để có thể hiệp thông với Thiên Chúa là Đấng Thánh. Đây là điều tốt, nhưng người biệt phái đã quá vụ hình thức mà bỏ quên điều thiết yếu, họ phán đoán một người tốt hay xấu dựa trên những hình thức bên ngoài. Điều quan trọng là sự thanh sạch của tâm hồn, chứ không phải việc rửa tay, rửa vật dụng bên ngoài; đừng lẫn lộn tập tục của truyền thống với lề luật do chính Thiên Chúa ban bố.
- Thực hành lề luật không có nghĩa là chỉ thi hành những nghi thức bên ngoài và coi đó là xong nhiệm vụ. Những hình thức bên ngoài là cần thiết, nhưng chúng chỉ là những yếu tố bổ sung và phụ thuộc, mà cái cần thiết nhất là tấm lòng. Hay nói cách khác, cần nhất là cái động lực thúc đẩy chúng ta làm : nếu động lực tốt thì việc làm sẽ tốt, nếu động lực xấu thì việc làm sẽ xấu. Nếu việc làm mà thiếu động lực tốt thì việc làm chỉ là giả tạo và người làm việc ấy chỉ là giả hình :”Dân này thờ kính Ta bằng môi miệng, mà lòng chúng thì xa Ta” (Is 29,13).
- “Dân này kính Ta bằng miệng, còn lòng chúng thì xa Ta” (Mc 7,6).
Chẳng cần phải nói nhiều, chúng ta cũng thấy, ngày nay người ta sống giả dối với nhau rất nhiều. Cái gì ngày này người ta cũng có thể làm giả được. Nếu như trước đây chỉ mới có chân giả, da giả thì ngày nay có hàng loạt những thứ giả khác như tóc giả, lông mi giả, hoa giả trái cây giả, gạo giả… Gần đây chúng ta còn được nghe rất nhiều thứ giả khác : bẳng giả, chứng chỉ giả, tiến sĩ giả… Những thứ ấy còn đi vào cả những sinh hoạt thiêng liêng như mâm quả, hoa nến, nhang, đèn giả. Mức độ “giả” rất tinh vi nên nhiều khi cái giả xem ra còn đẹp hơn những cái thật, khó mà phân biệt được. Ở đây, Chúa Giêsu chỉ mới nói đến “Giả hình”. Ngày nay, còn một thứ giả tệ hơn. Đó là “Giả nhân giả nghĩa”. “Giả hình” mà còn đáng trách thì giả nhân giả nghĩa còn đáng trách hơn chừng nào.
- Chúa Giêsu khiển trách những người biệt phái và luật sĩ thờ phượng Chúa trên đầu môi chót lưỡi, còn tấm lòng lại xa cách Người. Họ chăm chăm tuân giữ các truyền thống xa xưa, còn điều răn yêu thương là cốt lõi cũa Lời Chúa dạy thì họ lại không tuân giữ. Chúa Giêsu cũng đả kích các nhà thông luật Do thái vì họ quá tôn trọng hình thức bề ngoài, qua đó, Người mời gọi chúng ta hãy sống thật với lương tâm của mình. Để sống đạo tốt, chúng ta cần chu toàn các lề luật của Giáo hội, nhưng đồng thời còn phải sống tình mến với Chúa và mọi người.
- Những người giả hình này đáng người ta tặng cho cái nhãn hiệu “Tốt mã dẻ cùi”. Chim dẻ cùi là một giống chim đẹp, mỏ đỏ, đuôi dài, lông mã, lông đuôi sặc sỡ ngũ sắc, coi giống chim phượng. Người ta đã gọi là phượng hoàng Nam (phượng hoàng của nước Nam) hay phượng hoàng đất. Nhưng chim dẻ cùi phải cái tật hay ăn cứt chó, cứt lợn. Người ta đã có câu :
Dẻ cùi tốt mã dài đuôi,
Hay ăn cứt chó, ai nuôi dẻ cùi.
Dẻ cùi tiếng hót lại không hay, vì vậy dẻ cùi tuy đẹp mã thật, nhưng người ta không quí mà lại khinh. Người ta thường dùng câu “Tốt mã dẻ cùi” để chế riễu người bề ngoài đẹp đẽ sáng sủa, ăn vận diêm dúa mà bụng dạ bẩn thỉu không tốt mà lại vô tài (Văn Hòe, Tục ngữ lược giải, 1957, tr 198).
- Ngày nay thật đáng lo ngại là cho sự khủng hoảng đạo lý nơi nhiều gia đình. Có những người con chỉ dừng trên nghĩa vụ, bổn phận lo lắng cho cha mẹ của cải vật chất, mà quên đi cha mẹ còn phải được kính trọng và yêu mến. Vật chất chỉ là giá trị bề ngoài nhưng chính giá trị tinh thần, giá trị đạo đức mới quan trọng cho đời sống cha mẹ. Giá trị đạo đức bị đảo lộn bởi có những đứa con coi vật chất là trên hết, đặt tiền tài trên nghĩa vụ làm con, sẵn sàng gửi cha mẹ vào các nhà dưỡng lão mà quên rằng bổn phận của con cái là nuôi dưỡng, thăm hỏi khi cha mẹ còn sống, và cầu nguyện xin lễ cho các ngài khi đã qua đời.
- Truyện : Sư máy.
Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/08/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ ở Nhật, đó là “sư máy”. Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ : đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi giơ lên, một tay thì gõ mõ, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật.
Sáng kiến này đưa ra nhằm đáp ứng cho ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật. Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận : những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ có một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương (Mỗi ngày một tin vui).
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt