Thêm

    CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN

    BÀI ĐỌC I: Đnl 30, 10-14

    Môsê nói cùng dân chúng rằng: “Nếu các ngươi nghe tiếng Chúa là Thiên Chúa các ngươi, hãy tuân giữ các giới răn và huấn thị của Người đã được ghi chép trong sách Luật này, hãy trở về cùng Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết lòng và hết linh hồn các ngươi. Thánh chỉ ta truyền cho các ngươi hôm nay không quá khó khăn cũng không quá sức các ngươi. Nó không phải ở đâu trên trời, để các ngươi có thể nói: ‘Ai trong chúng tôi có thể lên trời mang luật xuống giảng cho chúng tôi nghe để chúng tôi thực hành được?’ Nó cũng không phải ở bên kia biển, để các ngươi viện lẽ nói rằng: ‘Ai trong chúng tôi có thể vượt biển, và mang nó về cho chúng tôi, để chúng tôi được nghe và thực hành điều đã truyền dạy?’ Nhưng lời ở sát bên các ngươi, nơi miệng các ngươi, trong lòng các ngươi, để các ngươi thực thi”.

    BÀI ĐỌC II: Cl 1, 15-20

    Đức Giêsu Kitô là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật; vì trong Người muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có trước mọi loài và mọi loài tồn tại trong Người. Người là đầu thân thể tức là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài. Vì chưng, Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người. và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất.

    PHÚC ÂM: Lc 10, 25-37

    Khi ấy, có một người thông luật đứng dậy hỏi thử Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”. Người nói với ông: “Trong Lề luật đã chép như thế nào? Ông đọc thấy gì trong đó?” Ông trả lời: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình”. Chúa Giêsu nói: “Ông đã trả lời đúng, hãy làm như vậy và ông sẽ được sống”. Nhưng người đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Nhưng ai là anh em của tôi?” Chúa Giêsu nói tiếp: “Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua. Nhưng một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: ‘Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông’. Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” Người thông luật trả lời: “Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy”. Và Chúa Giêsu bảo ông: “Ông cũng hãy đi và làm như vậy”.

    Suy Niệm 1: YÊU THƯƠNG LÀ CHU TOÀN LỀ LUẬT

    Thiên Chúa thiết lập con cái Israel thành một dân, dân riêng của Ngài, và Ngài ban luật cho họ. Nhưng ngay từ đầu, luật ấy được nêu rõ như là phương tiện giúp họ trở về và tương quan mật thiết với Chúa. Chứ luật tự nó không phải là cứu cánh! Luật được đặt ra không phải để cho người ta nệ luật! Như ta nghe trong sách Đệ nhị luật hôm nay: “Hãy tuân giữ các giới răn và huấn thị của Người đã được ghi chép trong sách Luật này, hãy trở về cùng Chúa là Thiên Chúa các ngươi hết lòng và hết linh hồn các ngươi”… (x. Đnl 30,10-14).

    Sự hoán cải trong lòng và đi vào tương quan liên vị mật thiết với Chúa được âm vang trong lời Thánh vịnh 68 (Đáp ca): “Các bạn khiêm cung, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh”. Vâng, điều quan trọng là tìm kiếm Chúa, và ‘hồi sinh’ trong lòng!

    Bài Tin Mừng là một tổng hợp về lề luật theo nhãn giới Tân ước, trong ánh sáng của Chúa Giêsu, xác nhận rõ ràng định hướng tương quan liên vị mật thiết: Mến Chúa và yêu anh em là kết tinh của lề luật! Vâng, nhưng ai là anh em? Thay cho câu trả lời, Chúa Giêsu kể câu chuyện về Người Samari Tốt Lành (và về hai ông kia, tư tế và Lê vi, không tốt lành). Kể chuyện xong, Chúa đặt câu hỏi: Trong ba người ấy, ai là anh em với nạn nhân nằm bên đường? (x. Lc 10,25-37).

    Chúa không hỏi “nạn nhân ấy là anh em với ai?” – mà hỏi “ai là anh em với người ấy?” Điều này có nghĩa rằng chính tôi quyết định/ ấn định mình là anh em của ai, chứ không phải tuỳ vào một tiêu chuẩn nào ở bên ngoài tôi. Nếu tôi cảm nhận mình là anh em của mọi người, thì tôi sẽ cư xử như là anh em của mọi người (dù khác chủng tộc, tôn giáo, giải cấp xã hội, hay gì gì đi nữa). Thánh Phan xi cô Assisi và thánh Charles de Foucauld là những gương mẫu cho tinh thần và thái độ này. Cách chu toàn lề luật là đây, không có cách nào khác!

    Thánh Phaolô lưu ý rằng chính nhờ Chúa Giêsu Kitô mà tất cả được viên mãn, tất cả được giao hoà, trong đó người ta có thể nhận ra và đối xử như là anh em của nhau. Chúa Giêsu đã ‘mua’ được điều này bằng chính máu của Người đổ ra trên thập giá (x. Cl 1,15-20).

    Chính vì vậy, chúng ta mới nói: Yêu thương là chu toàn lề luật!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………………..

    Suy Niệm 2: SỐNG NHÂN HẬU VỚI HẾT MỌI NGƯỜI

    Vấn đề nghèo là đề tài muôn thuở. Chúa Giêsu đã từng nói với Giuđa [và các môn đệ]: “anh [chị] em luôn có người nghèo bên mình, còn Thầy anh [chị] em không luôn có đâu” (Mt 26:11). Những người nghèo hèn, họ làm gì? Thường chúng ta nghe người ta nói: “bần cùng sinh đạo tặc.” Thật vậy, khi rơi vào cảnh túng nghèo, có người đi cướp bóc, có người đi ăn xin, có người cố gắng làm việc. Thánh vịnh gia trong Thánh Vịnh Đáp Ca hôm nay cho biết chúng ta có được niềm vui khi rơi vào cảnh túng nghèo: “Hỡi những ai nghèo hèn, hãy kiếm tìm Thiên Chúa, là tâm hồn phấn khởi vui tươi” (Tv 68:33). Đây là thái độ cần có của người rơi vào cảnh túng nghèo. Còn những người nhìn thấy anh chị em của mình rơi vào cảnh túng thiếu thì sao? Họ sẽ làm gì? Chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời trong các bài đọc lời Chúa hôm nay.

    Trong bài đọc 1, Môsê nói cho dân Israel về mệnh lệnh Đức Chúa truyền dạy họ phải tuân giữ. Một điều Môsê khẳng định là mệnh lệnh Đức Chúa truyền “không vượt quá sức lực hay ngoài tầm tay anh em” (Đnl 30:11). Điều này nhắc nhở chúng ta về thái độ chúng ta có trước mệnh lệnh Thiên Chúa truyền. Nhiều người phàn nàn rằng luật Chúa ban khó quá, vượt quá sức mình. Hệ quả là nhiều người xem mệnh lệnh hay luật Chúa như gánh nặng không thể vác. Mệnh lệnh Chúa truyền “không ở trên trời, khiến anh em phải nói: ‘Ai sẽ lên trời lấy xuống cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?’ Mệnh lệnh đó cũng không ở bên kia biển, khiến anh em phải nói: ‘Ai sẽ sang bên kia biển lấy về cho chúng tôi và nói cho chúng tôi nghe, để chúng tôi đem ra thực hành?’ Thật vậy, lời đó ở rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành” (Đnl 30:12-14). Những lời này chỉ ra cho chúng ta rằng: những mệnh lệnh Đức Chúa truyền cho Israel được đặt trong “bản chất” [bản tính] con người của họ. Nói cách cụ thể, khi sống theo bản chất con người của mình [được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa] thì con người đang thực hành mệnh lệnh Đức Chúa truyền. Áp dụng vào trong việc quan tâm chăm sóc những người túng thiếu, chúng ta có thể khẳng định rằng mệnh lệnh quan tâm đến người nghèo, những người cần chúng ta giúp đỡ được ghi khắc trong con tim [đầy tình người] của chúng ta. Như vậy, khi thấy một anh chị em lâm cảnh túng nghèo cần đến sự giúp đỡ mà chúng ta quay mặt bước đi, hoặc tìm những lý do hợp lý để không giúp đỡ họ, chúng ta chưa thật sự sống đúng với “bản tính người” được tạo dựng theo hình ảnh và giống Chúa của mình.

    Tư tưởng sống theo bản tính người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa được Thánh Phaolô trình bày cho tín hữu Côlôxê trong bài đọc 2 hôm nay. Thánh Phaolô nói về Chúa Giêsu là “hình ảnh Thiên Chúa vô hình.” Ngài là trưởng tử mà trong Ngài “muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình. Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1:16). Chi tiết này khẳng định rằng sống đúng bản chất “con người” là sống theo mẫu gương Chúa Giêsu, Đấng “cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu” (Cl 1:18). Sống theo mẫu gương Chúa Giêsu là trở nên người mang lại sự hoà giải, mang lại sự “bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1:19-20).

    Bài Tin Mừng hôm nay chỉ được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca và được gọi là Dụ Ngôn Người Samaria Nhân Hậu. Nội dung của bài Tin Mừng xoay quanh hai câu hỏi mà người thông luật hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Lc 10:25) và “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10:29). Đây là hai câu hỏi mà mỗi người chúng ta tìm cách trả lời hầu tìm cho mình một cuộc sống ý nghĩa.

    Câu hỏi thứ nhất liên quan đến sự sống đời đời và những việc chúng ta phải làm trong ngày. Cuộc đối thoại xảy ra như sau:

    Người thông luật: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”

    Chúa Giêsu: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”

    Người thông luật: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.”

    Chúa Giêsu: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.”

    Câu hỏi thứ hai xoay quanh tương quan của chúng ta với người khác. Chúng ta thấy ở đây điều đáng suy gẫm là chúng ta thường không có vấn đề gì lắm trong việc yêu Chúa, nhưng chúng ta thường thấy không dễ dàng để yêu người khác, ngay cả những người rất gần gũi, những người thân trong gia đình. Để trả lời câu hỏi về người thân cận, Chúa Giêsu kể cho người thông luật một dụ ngôn [câu chuyện]. Trong câu chuyện, chúng ta thấy có ba nhân vật và một người bị nạn. Người bị nạn được xem là yếu tố ngoại cảnh. Điều Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta là thái độ của ba người khi gặp người bị nạn [yếu tố ngoại cảnh]. Chúng ta xem mình thuộc loại người nào trong ba loại người Chúa Giêsu nêu ra.

    Trước khi phân tích thái độ của ba người gặp kẻ bị nạn, điểm đầu tiên đáng để chúng ta suy gẫm là “hành trình của một người kia.” Chúng ta thấy ở đây người bị nạn chỉ được đề cập đến như là “người kia,” không có tên. Chi tiết này ám chỉ đến việc người gặp nạn có thể bất kỳ người nào chúng ta gặp trong ngày sống của chúng ta. Họ có thể là người thân hoặc những kẻ xa lạ. Chi tiết kế đến là hình ảnh “hành trình.” Trong Tin Mừng Thánh Luca, “hành trình” rất quan trọng. Một cách cụ thể, trong Tin Mừng Thánh Luca, Chúa Giêsu thực hiện “hành trình” của Ngài từ bên ngoài [Galilê] lên Giêrusalem. Các môn đệ cũng đi cùng hành trình này với Chúa Giêsu. Chỉ sau khi Chúa Giêsu lên trời, các Tông Đồ thực hiện hành trình từ Giêrusalem đến tận cùng trái đất. Như vậy, theo Thánh Luca, Giêrusalem là trung tâm, vì nơi đó có Đền Thờ là nhà “Cha của Chúa Giêsu” (x. Lc 2:49). Cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu là một hành trình lên Giêrusalem, hay nói đúng hơn đi về nhà Cha. Chỉ có hành trình như thế mới mang lại bình an và ơn cứu độ. Người bị nạn trong bài Tin Mừng hôm nay “đi ngược” với hành trình mà Chúa Giêsu đang đi [Chúa Giêsu đi vào Giêrusalem – “người kia” đi ra khỏi Giêrusalem]: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.” Điều này khuyến cáo chúng ta rằng: Những ai đi ngược với hành trình mà Chúa Giêsu đi sẽ kết thúc trong nước mắt và đau thương. Hãy lắng đọng giây phút để xem mình đang đi cùng hành trình về nhà Cha với Chúa Giêsu hay chúng ta đang đi ngược với hành trình đó để rồi càng ngày càng xa Chúa.

    Chi tiết thứ hai để chúng ta suy gẫm trong bài Tin Mừng là thái độ của ba người gặp người bị nạn. Chúa Giêsu chọn ba người đại diện cho ba tầng lớp phổ biến trong thời gian đó. Như chúng ta đã trình bày ở trên, người bị nạn không phải là nhân vật chính. Người bị nạn được xem như một yếu tố ngoại cảnh, còn phản ứng của ba người gặp yếu tố ngoại cảnh khẳng định loại người họ là. Chúng ta cùng nhau phân tích phản ứng của họ.

    Người thứ nhất là thầy tư tế. Những chi tiết kế tiếp là (1) ông cũng đi xuống đường đó [đi ngược với hành trình Chúa Giêsu đi], trông thấy nạn nhân, tránh qua bên kia mà đi (x. Lc 10:31). Những chi tiết này cho thấy thầy tư tế quá bận tâm với “danh dự” và “vai trò” của mình. Thầy tư tế sợ đụng vào người “đẫm máu bên vệ đường” sẽ làm cho công ta bị ô uế và không thể thực hành vai trò tư tế của mình. Nói cách khác, ông đặt vai trò hay công việc lên trên nhân phẩm và sự sống của anh chị em mình. Thái độ này cũng là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Nhiều lần trong ngày sống, chúng ta vì công việc mà trở nên vô tình, vô cảm với anh chị em mình. Chúa Giêsu muốn chúng ta phải đặt lại giá trị trong cuộc sống: sự sống và nhân phẩm của anh chị em quan trọng hơn bất kỳ công việc và danh dự nào.

    Người thứ hai là thầy Lêvi. Chúng ta không biết ông ta đi về hướng nào. Chúng ta chỉ biết ông ta “đi tới chỗ ấy” [cũng có thể ông đang trên đường lên Giêrusalem chăng?], trông thấy nạn nhân, cũng tránh qua bên kia mà đi (x. Lc 10:32). Cũng giống như thầy tư tế, thầy Lêvi cũng không muốn để cho mình bị ngăn trở và bị trở nên ô uế khi đụng vào xác chết. Ông đặt sự an toàn của chính mình và công việc lên trên nỗi thống khổ của anh chị em mình. Đây là hình ảnh của nhiều người trong chúng ta, những người tìm kiếm tư lợi cho chính mình dù thấy anh chị em mình đang phải đau khổ vật lộn với cuộc sống.

    Người thứ ba là một người Samaria. Cũng như thầy Lêvi, chúng ta không biết ông đi về hướng nào. Ông “đi tới chỗ nạn nhân,” trông thấy, động lòng thương (x. Lc 10:33). Điều khác biệt giữa ông và thầy tư tế cũng như thầy Lêvi là “ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu xức vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc” (Lc 10:33). Không chỉ “chăm sóc nhu cầu gần” của người bị nạn, ông ta còn chăm sóc cả “nhu cầu xa”: “Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác’” (Lc 10:35). Cử chỉ của người Samaria dạy chúng ta rằng lòng thương xót không chỉ dừng lại ở nhu cầu khẩn thiết của người thân cận, nhưng còn lo cho nhu cầu của người đó trong tương lai. Nói cách khác, tình yêu không hệ tại ở một vài hành động tốt, nhưng hệ tại ở động lực thúc đẩy chúng ta thực hiện những hành động tốt cho người khác, hay nói đúng hơn hệ tại ở thái độ sống đầy yêu thương mà chúng ta dành cho người khác.

    Nét đẹp trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và thầy thông luật nằm ở chỗ “hoán đổi vị trí.” Nói cách cụ thể, thay vì là người “chất vấn” Chúa Giêsu, thầy thông luật cuối cùng bị Chúa Giêsu “chất vấn”: “Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10:36). Chúa Giêsu muốn chính thầy thông luật trả lời cho câu hỏi của mình sau khi Ngài giảng dạy qua dụ ngôn lấy từ cuộc sống hằng ngày. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta rằng: trong cuộc sống chúng ta cũng gặp nhiều điều để chất vấn Chúa. Nhưng Chúa cũng muốn chúng ta tự tìm câu trả lời cho chính mình sau khi Ngài đã sử dụng người khác hoặc những sự kiện xảy ra trong ngày sống để giúp chúng ta tìm ra câu trả lời. Người thông luật đã tìm được câu trả lời của mình sau khi nghe Chúa Giêsu giải thích: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (Lc 10:37). Còn chúng ta thì sao, liệu chúng ta có tìm ra câu trả lời cho vấn nạn về người thân cận của chúng ta không?

    Điều làm chúng ta ngạc nhiên là Chúa Giêsu kết thúc hai lần trả lời với cùng một điều: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10:28,37). Qua những lời này, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của việc thực hành những gì chúng ta nghe, biết về lời dạy của Ngài. Nhiều người trong chúng ta nghe nhiều và cũng tự hào biết nhiều về Chúa, nhưng đời sống lại không đi đôi với nhũng gì chúng ta nghe và biết. Hãy bắt đầu từ ngày hôm nay! Hãy sống những gì chúng ta nghe và biết về Thiên Chúa.

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………….

    Suy Niệm 3: TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI


    A.
    DẪN NHẬP

    Ông Maisen, trước khi từ biệt dân Do thái để đi về đời sau, đã khuyên nhủ họ hãy quyết tâm theo Chúa bằng việc tuân giữ các giới răn của Ngài. Theo họ, luật Chúa ở bên ngoài họ và vượt trên sức họ, nhưng ông Maisen cho họ biết giới răn ấy không ở đâu xa mà ở ngay trong lòng họ (bài đọc 1). Đức Giêsu đã giản lược các giới răn ấy lại còn hai giới răn là “Mến Chúa và yêu người” (Tin mừng).

    Đối với luật sĩ và biệt phái thì luật mến Chúa là quá rõ, ai cũng biết vì nó có ở trong kinh Schema mà người Do thái đọc hằng ngày; nhưng còn luật yêu người thì họ còn mù mờ : “Thế nào là yêu người thân cận như chính mình ? Người thân cận là ai” ? Chính vì vậy mà một người thông luật đến chất vấn Đức Giêsu xem người thân cận là ai ? Đức Giêsu không trả lời bằng lý thuyết xuông có thể gây tranh luận, Ngài dùng dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu để nói cho người thông luật biết rằng : người thân cận không phải chỉ là người Do thái, mà là bất cứ ai không phân biệt giai cấp, mầu da, chủng tộc hoặc tín ngưỡng, đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.

    Một khi đã công nhận “Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể là anh em thì mọi người phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, phải thực hành bác ái bằng những việc làm cụ thể chứ không phải chỉ ở trên đầu môi chót lưỡi. Mọi việc làm phải có tính cách vô vị lợi, không tính toán, bởi vì những gì chúng ta làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa và Ngài sẽ trả công cho xứng đáng và còn dư dật nữa.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    +  Bài đọc 1 : Đnl 30,10-14.

    Lề Luật của Thiên Chúa được ghi trong Thánh Kinh. Lề Luật được truyền qua ông Maisen và Luật ấy không vượt quá sức con người, không cần tìm ở trên trời hay ngoài biển khơi mà ở sát bên con người, nơi miệng con người và ở ngay trong con người.

    Luật Maisen là phương tiện giúp dân Israel xây dựng một tình huynh đệ chân thành. Luật ấy không dựa trên những nguyên tắc trừu tượng, nhưng được khắc ghi trong lòng con người đến nỗi ai cũng biết, nên mọi người phải ra sức thi hành với lòng yêu mến.

    +  Bài đọc 2 : Cl 1,15-20.

    Tín hữu Côlôssê tuy đã tin vào Đức Giêsu Kitô, nhưng còn làm những việc trái với lòng tin đó. Vì thế, thánh Phaolô đã khẳng định sự ưu việt của Đức Giêsu Kitô. Trước hết trong trật tự tự nhiên : Ngài siêu việt hơn các tạo vật, vì chính Ngài là đầu hết và chung cuộc của công trình sáng tạo.

    Còn trong trật tự cứu độ : Ngài là khởi nguyên mọi ơn cứu độ, vì Ngài giao hoà tạo vật với Thiên Chúa. Như vậy, địa vị của Đức Kitô là địa vị trung tâm, là Đấng trung gian duy nhất.

    Bởi vậy, muốn được cứu độ thì chỉ cần tin vào một mình Đức Giêsu Kitô, không cần nhờ bất cứ một tôn giáo hay thần thánh nào khác.

    +  Bài Tin mừng : Lc 10,25-37. 

    Sách Luật gồm có 613 khoản. Người ta chưa đồng ý với nhau về câu hỏi : điều khoản nào trọng nhất. Vì thế, một thầy thông luật đã đặt ra cho Đức Giêsu một câu hỏi hết sức căn bản :”Điều răn nào trọng nhất” ? Đức Giêsu hỏi lại, và ông đã đáp trúng, đó là mến Chúa yêu người (Đnl 6,5; Lv 19,18). Nhưng vấn đề ông đặt ra là  “Tha nhân hay nguời thân cận là ai” ? Phải chăng, người thân cận chỉ là những đồng bào Do thái của mình ?

    Đức Giêsu trả lời bằng một dụ ngôn về một người Samaritanô nhân hậu đối với một người bị nạn, để Ngài có ý nói rằng người thân cận là bất cứ ai, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, quan điểm…

    Thay vì tìm hiểu ai là người thân cận, tốt hơn nên tỏ mình ra là người thân cận đối với những người đang cần mình giúp đỡ (câu 36).

     C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA 

    Người thân cận của tôi là ai ?

    I. GIỚI LUẬT YÊU THƯƠNG

    1. Một câu hỏi

    Những người luật sĩ và biệt phái có ác cảm với Đức Giêsu, họ lợi dụng mọi dịp để bắt bẻ Ngài, cốt làm giảm uy tín. Dựa vào sự hiểu biết Kinh Thánh của mình, một luật sĩ đến chất vấn Ngài trong câu hỏi :”Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời”? Chắc ông tưởng rằng Ngài sẽ kể ra một lô những nghi lễ, những qui tắc mới lạ và sẽ làm giảm giá trị của Luật pháp. Nhưng ông ta giật mình nghe Ngài hỏi ngược lại :”Trong Luật đã viết gì ? Ông đọc thế nào” ? Câu trả lời dưới hình thức hỏi lại đã tước mất khí giới của đối tượng. Tuy ông ta cũng khôn khéo trả lời rằng Luật pháp gồm tóm trong đòi hỏi kính Chúa yêu người. Ngài bảo :”Ông trả lời đúng. Cứ làm như vậy là sẽ được sự sống đời đời”.

    1. Một lời đáp

    Người luật sĩ này đã quá hiểu về luật mến Chúa trên hết mọi sự vì đã có trong kinh Schema, trích ra từ Đệ nhị luật 6,5 mà người Do thái đọc mỗi ngày hai lần. Còn câu “hãy yêu thương thân cận như chính mình” thì không có trong kinh Schema, nhưng lấy ở sách Lêvi (10,18). Theo câu trả lời này, chứng tỏ luật sĩ này đã nhiều lần nghe Đức Giêsu giảng dạy về tính cách bác ái huynh đệ, nên khi trả lời  Ngài về luật yêu thương, ông đã tạm thời theo quan niệm của Ngài.

    Tuy thế, ông muốn gây lúng túng cho Đức Giêsu khi đặt cho Ngài câu hỏi :”Thân cận là ai” ? Bởi vì đối với mọi người Do thái “Thân cận hay tha nhân” được hiểu là người đồng hương con cháu Abraham, còn những người khác mà mình tiếp xúc với người ta phải nghĩ thế nào ? Thay vì trả lời một cách lý thuyết hay gây tranh luận, Đức Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn để đưa đến một kết luận dễ dàng.

    Một người đi từ Giêrusalem đến Giêricô, một lữ khách không biết rõ quốc tịch bị cướp bóc lột và đánh nhừ tử nằm bên vệ đường. Tình cờ một tư tế đi qua trông thấy, ông tránh né và đi tiếp. Sau đó lại một thầy Lêvi đi qua trông thấy cũng tránh né. Sau cùng có một người dân ngoại Samaritanô đi qua trông thấy, dừng lại, băng bó, xức thuốc thơm và trao nạn nhân cho người chủ quán săn sóc, hết bao nhiêu tiền người ấy sẽ trả.

    Đến đây, Đức Giêsu hỏi người luật sĩ :”Theo ông nghĩ ai trong ba người là thân cận của người bị gặp tai nạn” ? Luật sĩ đã trả lời ngay :”Kẻ đã tỏ lòng thương xót đối với người ấy”. Luật sĩ đã có nhận thức đúng về bác ái và ông cho rằng người Samaritanô là người duy nhất đã cảm thông và tỏ ra  mình là người thân cận của kẻ xấu số.

    Đức Giêsu đã kết thúc cuộc đối thoại ấy bằng một câu vắn tắt :”Ông hãy đi và làm như vậy”. Đức Giêsu muốn nói rằng khi giúp đỡ một kẻ vô danh như vậy, người Samaritanô đã trở thành kiểu mẫu  của tình bác ái đích thực. và vì vậy, Ngài đã khuyên nhủ luật sĩ  hãy thực thi tinh thần bác ái theo kiểu mẫu đó thì sẽ được sự sống đời đời.

    II. AI LÀ THÂN CẬN CỦA TÔI ?

    1. Tương giao giữa người Do thái và người Samaria 

    Người Samaria cũng là người gốc Do thái, nhưng chia lìa từ năm 935 vì lý do nam bắc (do vua Omri). Họ sống chung với dân ngoại và bị lây nhiễm. Khi Nehemias dẫn họ về quê hương thì dân Do thái cựu đã khinh bỉ và không cho phép họ  góp phần xây dựng Đền thờ. Họ tức giận bèn xây đền thờ tại Garisim. Người Samaria cũng thờ một Thiên Chúa, và tin Ngũ Kinh mà thôi. Giữa người Do thái và Samaria luôn có sự kỳ thị và kình chống nhau.

    Và một sự kiện xẩy ra, cách đấy 20 năm, giữa mùa Lễ Chiên, một nhóm người Samaria này đã cả dám xông vào đền thờ Giêrusalem, đem xương người vung vẫy làm ô uế nơi thánh. Từ đó, hai dân tộc trở nên thù ghét xung khắc nhau như nước và lửa.

    Và hôm nay, Đức Giêsu lại đem người Samaria ra làm ví dụ đối đầu với hai vị Tư tế và Lêvi Do thái. Ngài đến phá vỡ những vòng vây bao quanh đạo giáo, tập quán xã hội làm quên lãng giá trị con người và tình nhân loại.

    1. Thái độ thầy Tư tế và Lêvi 

    “Tình cờ có thầy Tư tế thấy nạn nhân đã tránh né và thầy Lêvi đi qua trông thấy cũng tránh đi”. Phải chăng hai vị này còn nhớ đến đoạn Kinh thánh :”Nếu ngươi thấy anh em có con lừa  hay thấy con bò nằm té ở dọc đường, ngươi đừng đi qua, ngươi hãy lo giúp cho nó đứng dậy”(Đnl 22,4). Huống chi con người ?  Tại sao họ lại bỏ đi qua ?

    Chúng ta phải cho rằng vị Tư tế thánh thiện và thầy Lêvi nhiệt thành là những người có trách nhiệm phục vụ để Thiên Chúa được tôn vinh và phụng thờ trên hết mọi sự. Hai người tôi tớ trung thành ấy có lý do chính đáng để giữ sự trong sạch theo luật định, bơi vì “ai chạm vào xác chết (…), hoặc một người bị ám sát, một người chết (…) sẽ mắc dơ trong 7 ngày”(Ds 19,11-13.16). Trong trường hợp đó vị Tư tế hoặc thầy Lêvi  không được làm việc phụng tự.

    Những người giữ luật như vậy lầm rồi. Vì khi giữ luật, họ lại phản bội luật. Khi tưởng rằng họ đang tôn kính Thiên Chúa, họ lại xúc phạm đến Ngài. Thiên Chúa ở đó kìa, Ngài ẩn mình dưới dạng một người bị thương nửa sống nửa chết trong cái hố bên đường. Hai vị này chắc chắn không phải là người không biết tới luật yêu người (Đnl 6,5t), nhưng họ đã viện dẫn lý do để không thực hành (Fiches dominicales).

    1. Thái độ của người Samaritanô

    “Người Samaritanô thấy vậy… thì chạnh lòng thương”(Lc 10,33).

    Thấy nạn nhân nằm bên vệ đường, thầy Tư tế và Lêvi dửng dưng bỏ đi qua. Trái lại, người Samaritanô không thể bỏ qua trước cảnh tượng thương tâm này. Người này đã đến gần nạn nhân, trông thấy và chạnh lòng thương”. “Đến gần” tức là đi vào trong hoàn cảnh của người bị nạn. Chữ “Chạnh lòng thương” do tiếng La tinh là Compassio, ghép bởi hai chữ cum = cùng với, passio = đau khổ. Như vậy, “chạnh lòng thương” có nghĩa là cùng chịu đau khổ với, chia sẻ đau khổ với người khác.

    Theo thần học gia Gustavo Gutierrez , chữ “Chạnh lòng thương” trong tiếng Hy lạp có thể được dịch là “vì con tim của ông ta đã chảy ra”. Bằng việc tiến đến gần người lâm nạn, người Samaritanô đã trở nên người hàng xóm, người thân cận của người ấy. Trong quan điểm này, Gutierrez đã nói :”Người hàng xóm không phải là một người tôi tìm thấy trên đường đi của tôi, nhưng là một người  mà tôi tự đặt mình vào trong đường đi của người ấy, là người mà tôi đến gần và tích cực tìm kiếm” .

    Trong dụ ngôn này, Đức Giêsu đã muốn biến người Samaritanô thành vị anh hùng của lòng nhân ái. Ngài muốn dạy cho người Do thái một tình yêu không biên giới, một tình yêu tìm đến mọi kẻ đang gặp khó khăn, tình yêu không bỏ đi, không dửng dưng, mà là dừng lại  để giúp đỡ, để “dây dưa” vào kẻ đang gặp khốn khó, bất kể đó là ai.

    Truyện : Đi tìm chén thánh.

    Có một câu chuyện huyền thoại về “một người Samaritanô tốt lành” có tên là Sir Launfal, một hiệp sĩ trẻ hào hùng. Một ngày nọ chàng hiệp sĩ lên đường đi truy tìm chiếc chén thánh  mà Chúa Giêsu đã sử dụng trong bữa Tiệc ly. Khi chàng bắt đầu rời khỏi thành phố ra đi thì gặp ngay một người cùi đang ngồi ăn xin bên vệ đường. Chạnh lòng thương, chàng đã giúp cho người cùi một đồng, rồi ra đi. Chàng tìm mãi chẳng thấy chén thánh đâu ! Thất bại,  chàng hiệp sĩ bèn lên ngựa quay trở về nhà.  Lúc này chàng đã già hơn xưa sau cuộc hành trình tìm kiếm thật gian khổ. Còn người cùi vẫn ngồi ăn xin ở chỗ cũ. Chàng hiệp sĩ chẳng còn tiền bạc gì nữa để cho,  anh chia sẻ với người cùi mảnh bánh vụn còn lại trong cuộc đời. Ăn xong, họ chẳng có gì để uống. Chàng hiệp sĩ bèn lấy cái tô của người cùi đi tìm nước cho người cùi uống. Khi chàng bưng tô nước  quay trở lại đưa cho người cùi thì người cùi đã biến thành Chúa Giêsu và tô nước hoá nên chén thánh mà chàng đang đi tìm kiếm.

    1. Mọi người là thân cận

    Ngày nay chúng ta hay nói :”Tứ hải giai huynh đệ” : bốn bể là anh em, nhưng người Do thái không chấp nhận quan niệm này. Luật của người Do thái đã giới hạn sự giao tiếp giữa người Do thái  với những người không phải là Do thái. Theo luật của họ, người thân cận được định nghĩa là “những người con trai của riêng xứ sở bạn”. Do đấy, chỉ có những người Do thái mới là hàng xóm, là thân cận của mình.

    Đức Giêsu chủ trương ngược lại : người anh em của tôi, người thân cận của tôi là bất cứ ai tôi chọn để trở nên người anh em, người thân cận. Như vậy, không biết ai là người anh em của mình nữa, mà điều quan trọng là  tìm cách để trở nên người anh em, người gần gũi với bất cứ ai đang cần giúp đỡ.
    Cousin giải thích : “Hỏi ai là người anh em của mình, vị luật sĩ tự đặt mình làm trung tâm thế giới, và nhìn mọi người như những vệ tinh quay chung quanh mình.. Đức Giêsu đảo ngược vấn đề : người anh em là người thực thi lòng thương xót, chứ không phải người hưởng thụ lòng thương xót”.

    III. YÊU THƯƠNG NGƯỜI THÂN CẬN 

    1. Luật bác ái và phụng tự

    Thầy Tư tế và thầy Lêvi là những chuyên viên lo việc phụng tự trong Đền thờ. Họ phải tỉ mỉ giữ đúng các lễ nghi, các luật lệ, đó là một điều tốt. Nhưng Thiên Chúa muốn gắn cho sự “thực hành” bác ái và phục vụ tha nhân trong đời sống hằng ngày bằng một tầm quan trọng to lớn hơn  việc thực hành phụng tự và cầu nguyện của chúng ta. Việc đạo đức và lòng sùng kính  chỉ là những phương tiện non yếu và tạm thời,  phải nhường cho đức bác ái là cái tuyệt đối nhất định. Đức ái được bầy tỏ ra  trong tình yêu thương người thân cận là bằng chứng cụ thể  tình yêu chân thành của ta đối với Chúa.

    Hiểu Luật theo cách của Đức Giêsu, không cần phải tìm ai là người thân cận, nhưng đúng là làm thế nào  để “trở nên thân cận của ai đó”, là biết “chạnh lòng thương”, biết gạt bỏ mọi thành kiến  về giai cấp và chủng tộc, về địa vị và tôn giáo…

    1. Yêu thương trong việc làm

    Mọi người chúng ta đã học thuộc lòng luật mến Chúa yêu người. Nhưng yêu có năm bảy đường yêu, yêu trong lý thuyết và trong thực hành. Nhưng thế nào là yêu, là tình yêu ?

    Ông Robert Ingerson định nghĩa Tình yêu như sau : “Tình yêu là Ngôi Sao Mai, Sao Hôm. Nó chiếu rọi trên vành nôi em bé, và toả ánh huy hoàng trên ngôi mộ vắng. Đó là nghệ thuật làm mẹ, bài thơ của thi sĩ. Nó bao trùm không gian với tiếng nhạc, vì nhạc là âm thanh của Tình yêu. Tình yêu là người diễn viên văn nghệ biến đổi những điều buồn tẻ trở thành niềm vui. Đó là hương thơm của trái tim – một loài hoa tuyệt vời – và nếu không có sự say mê thiêng liêng đó, chúng ta thua kém cả loài vật; nhưng với nó, trần gian là Thiên đàng”.

    Định nghĩa Tình yêu như thế thì thật là hoa mỹ và bay bướm. Nếu chỉ nghe biết hay nói rất hay về tình yêu thì chưa đủ, mà điều quan trọng là phải làm, phải thực hiện, phải hành động trong yêu thương, bởi vì như thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Khi nói đến bác ái yêu thương, không phải chỉ nói bi bô ngoài miệng, viết những bài kêu gọi rất xôm, rồi không làm gì cả. Mà bác ái là miệng nói tay làm, là giúp đỡ người ta thật sự theo sức mình. Nếu không thì người ta nói mỉa mai :

                                          Thương miệng thương môi
                                          Thương miếng xôi miếng thịt. 

    Đọc bài dụ ngôn hôm nay, ta nhận thấy thầy Tư  tế và Lêvi là những con người vị ngã, lấy mình làm trung tâm. Khi có sự cố xẩy ra, họ đặt họ lên trước. Trái lại, Người Samaritanô là một người vị tha, ông đặt người khác lên trước.

    Thực ra, thầy Tư tế và Lêvi không phạm tội một cách tích cực nhưng đã phạm một tội không mấy người để ý đến, đó là tội thiếu sót :”Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót”(Kinh Cáo mình). Tội thiếu sót có lẽ là tội xấu nhất của chúng ta, tuy nhiên chúng ta nghĩ rằng mình chưa làm hại ai là mình tốt rồi. Nhưng phải chăng chúng ta đã từng thấy có người bị làm cho tổn thương mà vẫn không can thiệp để giúp đỡ người ấy ? Có người vẫn giữ mình sạch sẽ bằng cách đứng xa một người gặp cảnh không may.

    Truyện : Đã đến giờ rồi đấy.

    Một ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái làng chơi đến cám dỗ. Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi ngờ về sự bất bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo :

              – Thầy không biết yêu sao ?
    Vị ẩn sĩ trả lời :
    – Chưa đến giờ đó thôi.

    Câu chuyện bỏ lửng tại đó. Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành phát hiện  người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề đường. Ông bèn dừng chân lại săn sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa cô về thành phố điều trị.Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân  mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói :
    – Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót !

    Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samaritanô nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”. Yêu không phải chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi tay không làm gì, mà yêu chính là “miệng nói tay làm”, làm thực sự với hết khả năng của mình.

    1. Tình yêu không tính toán 

    Hành động bác ái không được xây dựng trên sự tính toán, mà phải do lòng quảng đại tự phát. Tình trạng cao nhất mà chúng ta có thể đạt đến là khi lòng nhân từ trở thành một dòng nước ân sủng một cách dễ dàng, tự nhiên và không tính toán.

    Trường hợp người Samaritanô cũng thế. Rõ ràng lòng nhân từ của người Samaritanô trở thành thói quen, tự phát, một bản tính thứ hai. Điều tốt đẹp mà người ấy làm cho người khác thì người ấy không coi là một việc gì đặc biệt. Đối với một số người, lòng quảng đại nằm trong những hành động lác đác, lẻ loi; đối với những người khác, đó là một cách sống (McCarthy).

    Làm thế nào để có lòng tốt tự phát như người Samaritanô ? Việc này không phải muốn là được, không phải chỉ cố gắng tập một lần mà có, mà là kết quả của việc thực thi những việc tốt nho nhỏ cách đều đặn và kiên trì. Một hành động tốt cao cả là thành quả của nhiều hành động nho nhỏ đã quen làm trước đó. Phần thưởng đích thực của một hành động tốt là nó giúp ta  có thể làm thêm những hành động khác một cách dễ dàng hơn.

    Khi đọc kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi với câu “Vì chính khi hiến thân là lúc được nhận lãnh”. Lúc mới nghe câu này thì có người cho là không hợp lý, không bình thường, nhưng nếu xét cho kỹ, không những trong đời sống thiêng liêng, mà ngay trong cuộc sống hằng ngày, chân lý đó vẫn còn đứng vững : Cho đi là lãnh nhận ! Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu đã nói :”Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”(Mt 5,7). Muốn được Thiên Chúa xót thương thì chúng ta phải thương xót người khác đã, vì chúng ta đong cho người khác bằng đấu nào thì Thiên Chúa cũng đong lại cho ta bằng đấu ấy, mà còn dư dật nữa.

    Truyện : Lòng tốt được đền đáp.

    Chuyện xẩy ra tại một làng đánh cá ven bờ biển. Phía sau làng là dẫy núi cao. Cách đây 20 năm, nơi này có một cụ già xa lạ đến cư ngụ và đã bỏ tiền ra làm một ngôi nhà lớn bằng gỗ quí. Dân làng thấy cụ già đơn độc thường lên thăm và đều nhận xét cụ già rất tự hào và quí căn nhà lắm, xem nó như một vật cần thiết trên đời. Thế rồi, một bữa kia biển động mạnh dữ dội. Bỗng đang đêm, dân làng đều thức dậy vì thấy đám cháy lớn trên sườn núi, ngay căn nhà quí của cụ già. Vừa tò mò vừa thương cụ già đơn chiếc, toàn dân làng già trẻ, trai gái rủ nhau mỗi người mang một thau nước, gắng sức trèo lên dốc chữa cháy. Xẩy ra là khi mọi người đã lên núi khá cao, thình lình một cơn sóng thần vĩ đại tràn lên bờ và cuốn trôi mọi thứ trong làng.  Vì bận chữa cháy nên rất ít người bị sóng thần cuốn đi.

    Ban đầu ai cũng tưởng rằng họ bỏ công leo lên núi để cứu giúp cụ già, nhưng thực tế cụ già đã cứu giúp họ. Bởi vì, một phần nhờ kinh nghiệm và phần khác ở trên cao nên cụ già thấy trước ngọn sóng thần từ xa đang tiến vào bờ, song đang đêm khuya không biết làm sao  báo tin để cứu dân làng cả. Chỉ còn một cách : hy sinh đốt căn nhà yêu quí nhất mới mong dân làng thấy mà chạy lên chữa cháy chăng.

    Có lẽ do quá chủ quan hay quá hẹp hòi nông cạn nên nhiều khi phần đông chúng ta  cứ tưởng mình bố thí ít tiền bạc, đồ vật, hy sinh chút công sức, thời giờ để giúp đỡ kẻ khác là chuyện nhưng không, hoàn toàn vô vị lợi, song thực ra, khi mình hy sinh cho đi như thế không những giúp kẻ khác, mà còn làm lợi cho chính bản thân mình nữa. Ngay cả những việc đạo đức mà chúng ta cố gắng thực hiện như nhẫn nhục chịu khổ, trung thành tuân thủ các giới răn, hãm mình ép xác, siêng năng xưng tội rước lễ, lần hạt… chúng ta cứ tưởng là làm cho Chúa vui lòng, nhưng kỳ thực là làm lợi cho chính chúng ta, vì khi sống ngay lành, thánh thiện sẽ là một bảo đảm cho phần rỗi đời đời của mình (Quê Ngọc).

              TÂM NGUYỆN :

                                 Người Samaritanô nhân hậu
                                 Cúi xuống
                                 Ôm lấy nỗi đau của anh em mình,
                                 Ôi tấm lòng nhân ái bao dung… 

                                 Nhân loại hôm nay
                                 Vẫn còn đầy đau thương và nước mắt
                                 Cay đắng cơ hàn
                                 Đói lương thực, đói tinh thần và đói cả tình thương ! 

                                 Lạy Chúa
                                 Xin cho con noi bước Ngài xưa
                                 Như người Samaritanô nhân ái
                                 Yêu kính những thương đau
                                 Vì đó là chính Ngài, Lạy Chúa.
                                      (Trích Lời hằng sống)

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm Gp. Đà Lạt

    ………………………………….

    Suy Niệm 4: Mến Chúa yêu người


    Để duy trì trật tự trong xã hội con người cần đến nhiều nguyên tắc và luật lệ. Trong mọi lãnh vực của cuộc sống ở nước văn minh chắc chắn chứa nhiều luật lệ hơn ở những nước nghèo. Trong Kinh Thánh chúng ta cũng thấy có rất nhiều điều răn, quy tắc và cấm kỵ. Dĩ nhiên có nhiều luật lệ quan trọng và cần thiết buộc mọi người phải tuân giữ và chấp hành. Là người Kitô hữu có lẽ ai cũng thuộc lòng 10 giới răn. Tất cả được gồm tóm trong hai giới răn là mến Chúa yêu người. Mến Chúa hết lòng hết dạ, yêu tha nhân như chính mình quả là một thách đố vượt sức tưởng tượng, ai có thể làm được. Điều bất ngờ đối với chúng ta chính là: Ngay từ thuả ban đầu ông Môsê đã quả quyết, mệnh lệnh và thánh chỉ của Chúa ở rất gần anh em, ở ngay  trong  miệng  và trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành. Như thế có nghĩa là để chu toàn luật Chúa tuy chúng ta phải bỏ ra một chút công sức nhưng tất cả không vượt ra ngoài tầm kiểm soát và sức lực của chúng ta.

    Tại sao chúng ta gặp nhiều khó khăn trắc trở khi thực thi hai giới răn này? Mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với nhau mang dấu ấn trong đời sống đức tin và tình yêu không phải là một sự việc chỉ thuộc về lý trí mà là đặc biệt thuộc về con tim. Sở dĩ trong đời sống của người Kitô hữu có nhiều giới răn và luật lệ là vì tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Ngài không muốn để cho tạo vật của mình bị tổn thương hay sụp đổ. Ngài muốn con người sống hạnh phúc và sung mãn.  Mặt  khác  Thiên Chúa cũng biết rõ con người yếu đuối dễ sa chước cám dỗ hoặc bị vướng mắc vào những cạm bẫy. Thiên Chúa ban hành lề luật để bảo vệ tự do của dân Ngài, giúp họ sống đức tin và giới luật yêu thương. Ngài chắc chắn không muốn họ sống một cuộc sống nô lệ cho luật lệ bởi vì luật lệ không phải là cùng đích. Luật lệ chỉ là một khuôn khổ. Ai để mọi sinh hoạt của mình xảy ra trong khuôn khổ này, kẻ đó có tự do vì không bị lương tâm cắn rứt hay áp lực tâm lý đè nặng trên vai. Khi nghĩ Thiên Chúa đã ban tặng cho mình cuộc sống với muôn ân huệ, chúng ta sẽ thoải mái hơn mỗi khi đến nhà thờ hoặc đọc kinh cầu nguyện. Chúng ta chỉ dùng một ít thời giờ để ca tụng và cảm tạ Thiên Chúa thì có là gì so với những gì mình lãnh nhận.

    Trong đoạn Phúc âm hôm nay Đức Giêsu cũng nói về giới răn yêu thương. Cuộc sống chung cũng có nhiều va chạm, có những lúc thăng trầm, năm chìm bảy nổi, phải chăng chúng ta không biết yêu thương bản thân mình đúng nghĩa? Đức Giêsu đã nói rõ ràng và minh bạch trong Bài Giảng Trên Núi: “Những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em hãy làm cho người ta.” Hôm nay thay vì trực tiếp trả lời cho câu hỏi “ai là người thân cận của tôi?” Đức Giêsu kể một dụ ngôn mà các linh mục tu sĩ nam nữ không mấy ai thích nghe, dụ ngôn người Samari tốt lành. Giáo dân thường tỏ lòng kính trọng và có phần thần thánh hoá các linh mục tu sĩ vì nghĩ rằng họ là người của Chúa. Nếu họ sống đúng với ơn gọi của họ thì không nói làm gì. Trong thực tế có không ít linh mục tu sĩ sang chảnh. Họ khấn khó nghèo nhưng lòng tham vô đáy. Khấn khó nghèo nhưng khó mà nghèo! Lạm dụng tính dục trẻ em do linh mục tu sĩ cũng là vết nhơ ghê tởm trong Giáo hội. Lý do chính là do lạm dụng quyền lực và toà giảng, nhất là tính khiêu căng khi nghĩ mình tài giỏi được quyền có tất cả những gì họ muốn. Linh mục tu sĩ cũng chỉ là những con người yếu đuối như mọi người. Nhưng Môsê và thánh Phaolô đều nhấn mạnh rằng, chúng ta ai cũng có đủ khả năng sống vâng theo ý Chúa và chu toàn giới răn yêu thương. Dụ ngôn người Samari tốt lành làm cho tôi nhớ đến một người khi qua đời ra trước toà Chúa. Anh ta nói với Chúa rằng: Suốt đời con luôn tuân giữ các giới răn và không bao giờ làm gì đáng phải xấu hổ. Ngài xem, bàn tay con trong sạch. Chúa đáp: Đúng, bàn tay con trong sạch, nhưng nó trống rỗng! Lạy Chúa, con đứng trước mặt Chúa với đôi tay trắng! Chỉ có ai ý thức mình là ai mới có đủ khả năng mến Chúa hết dạ hết lòng và yêu tha nhân như chính mình.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

                                                                                

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com