J.B. Lê Ngọc Dũng
Tự sắc Competentias quasdam decernere phân bổ năng quyền
Đáng kể nhất là điều 265, thêm khả năng nhập tịch của giáo sĩ vào một Hiệp hội công các giáo sĩ (Associazione pubblica clericale).
Liên quan đến các tu hội đời sống thánh hiến và tu đoàn đời sống tông đồ có ba điều đáng chú ý:
Vị Điều hành tổng quyền (Supremus Moderator, quen gọi là Bề trên tổng quyền) có quyền:
– Ban đặc ân sống ngoài nội vi tới năm năm cho một tu sĩ đã khấn trọn đời (đ. 686);
– Ban đặc ân hồi tục, với sự chấp thuận của ban cố vấn cho tu sĩ đang có lời khấn tạm (đ. 688§2);
– Quyết định, với sự ưng thuận của ban cố vấn, sa thải một một nữ tu đang giữ lời khấn trong những đan viện tự quản (sui iuris) được nói đến ở điều 615 (đ. 699§2).
Dưới đây là những điều luật được tu sửa theo tự sắc Competentias quasdam decernere.
Đ. 237
Điều 237§2 mới thay chữ “phê chuẩn” (approvazione) bằng chữ “xác nhận” (conferma). Khi thay như vậy, luật mới tăng thêm quyền cho Hội đồng Giám mục trong việc thành lập một chủng viện liên Giáo phận. Việc “xác nhận” thường bao gồm việc xem xét lại và chấp thuận nếu thấy công việc cấp dưới không có gì trái với Giáo luật hay những quy định riêng.
Đ. 242
Điều 242§1 mới thay chữ “phê chuẩn” (approvazione) bằng chữ “xác nhận” (conferma), ban quyền nhiều hơn cho Hội đồng Giám mục trong việc thiết lập chương trình đào tạo các linh mục trong các đại chủng viện.
Đ. 265
Điều 265 mới thêm khả năng nhập tịch của giáo sĩ vào một Hiệp hội công các giáo sĩ (Associazione pubblica clericale). Một hiệp hội, được Giáo luật định nghĩa như là, gồm “hoặc giáo sĩ hoặc giáo dân, hoặc cả giáo sĩ lẫn giáo dân cùng chung sức hoạt động nhằm phát triển một đời sống hoàn thiện hơn, hoặc cổ vũ việc phụng tự công hay học thuyết Kitô giáo, hoặc thực hiện các việc tông đồ khác, như truyền bá Phúc âm, thi hành các việc đạo đức hoặc bác ái, và đem tinh thần Kitô giáo vào lĩnh vực trần thế (đ. 298).
Một hiệp hội là công (public) và có tư cách pháp nhân công khi được nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo hội thiết lập: Tòa Thánh, Hội đồng Giám mục Giám mục giáo phận (đ. 312; đ. 313).
Đ. 604
Điều 604 triệt 1 và 2 nói đến bậc các trinh nữ. Họ cũng thuộc bậc đời sống thánh hiến nhưng không thuộc các tu hội hay tu đòn đời sống tông đồ. Họ là những trinh nữ có quyết tâm lành thánh theo sát Đức Kitô, được Giám mục giáo phận thánh hiến cho Thiên Chúa theo nghi thức phụng vụ được phê chuẩn. Các trinh nữ này có thể liên kết với nhau thành hiệp hội để giúp nhau chu toàn việc phục vụ Giáo hội thích hợp với bậc mình. Với triệt ba được thêm vào trong luật mới, các hiệp hội của các trinh nữ có thể được thành lập bởi Giám Mục giáo phận hay HĐGM. Nếu được thành lập như vậy thì hiệp hội đó là hiệp hội công và có tư cách pháp nhân công.
Đ. 686
Điều 686§1 mới gia tăng quyền của vị Điều hành tổng quyền, có thể cho phép tu sĩ sống ngoại vi tới mức năm năm, thay vì ba năm như luật cũ.
Đ. 688§2
Điều 688§2 mới ban quyền cho các vị Điều hành tổng quyền ban đặc ân hội tục cho tu sĩ đang khấn tạm mà không cần sự xác nhận của Giám mục giáo phận như trước, trừ trường hợp của đan viện được nói đến ở điều 615.
Đ. 699§2
Điều 699§2 mới ấn định quyền sa thải thuộc Bề trên của đan viện được nói đến ở điều 615. Trước đây việc ra sắc lệnh sa thải thuộc về Giám mục Giáo phận và Bề trên phải trình lên Giám mục các văn bản đã được ban cố vấn của mình xác minh.
Đ. 700
Điều 700 mới không còn đòi sự chuẩn y của Tòa Thánh nếu tu hội thuộc luật giáo hoàng hoặc chuẩn y của Giám mục giáo phận nếu tu hội thuộc luật giáo phận, đối với lệnh sa thải một người đang giữ lời khấn trong một tu hội.
Cũng đủ để lệnh sa thải hữu hiệu: “Vị điều hành tổng quyền cùng với ban cố vấn phải gồm ít nhất là bốn thành viên mới thành sự, cùng tiến hành cách hiệp đoàn để cân nhắc cẩn thận các bằng chứng, các lý luận và các lời biện hộ; nếu việc sa thải đã được quyết định sau một cuộc bỏ phiếu kín, thì vị điều hành tổng quyền phải ban hành sắc lệnh sa thải, và để được hữu hiệu, sắc lệnh phải trình bày ít là cách sơ lược các lý do theo luật và theo sự kiện” (đ. 699§1).
Đ. 775
Điều 775§2 mới thay chữ “phê chuẩn” (approvazione) bằng chữ “xác nhận” (conferma), ban thêm quyền cho Hội đồng Giám mục trong việc xuất bản các sách giáo lý cho riêng lãnh thổ của mình.
Đ. 1308
Điều 1308§1 mới trao cho Giám mục giáo phận và vị Điều hành tổng quyền của một tu hội đời sống thánh hiến hoặc tu đoàn đời sống tông đồ giáo sĩ quyền cho giảm bớt các nghĩa vụ dâng Thánh Lễ, mà trước đây được quy định là thuộc quyền Tòa Thánh.
Điều 1310
Điều 1310 mới trao quyền cho Đấng Bản quyền nhiều hơn, không đòi sự nhượng quyền của người lập thiện quỹ về giảm thiểu, điều hành… cho Giám mục như trước đây.
Ghi chú:
Vị “Điều hành tổng quyền” trong Bộ Giáo luật Việt ngữ hiện hành, được dịch từ chữ Supremus Moderator (Moderatore supremo, Supreme Moderator).
Supremus Moderator có nghĩa là người cai quản, điều hành cao nhất.
Đối với hội dòng có nhiều tỉnh dòng thì vị có quyền cao nhất là vị Điều hành tổng quyền (Moderatore supremo). Vị này có quyền trên các Bề trên tỉnh dòng (Superiore provinciale).
Đối với hội dòng không có tỉnh dòng, Bề trên cai quản cả dòng cũng được coi là vị Điều hành tổng quyền (Moderatore supremo), nghĩa là, vị có quyền điều hành cao nhất.
Đối với tu hội đời và tu đoàn đời sống tông đồ, Giáo luật cũng đã dùng chữ vị Điều hành tổng quyền (Moderatore supremo) để chỉ vị lãnh đạo cao nhất.
Nên lưu ý:
Trong Bộ Giáo luật chữ Bề trên (Superiore) hầu như dùng để chỉ vị lãnh đạo trong hội dòng và đan viện, nơi mà địa vị của một Bề trên cần được xác định để tuân giữ lời khấn vâng phục. Vì vậy, từ ngữ “Bề trên”, “Bề trên cả”, “Bề trên tổng quyền” của Giáo luật, mà trước đây khoảng 20 năm vẫn đã thường được dùng nên được sử dụng trở lại. Ngoài ra, còn có lý do khác nữa là: Từ ngữ “Bề trên” (Superiore) đã được Giáo Luật ấn định cho lời khấn dòng “công” phân biệt với lời khấn “tư”.
Điều 1192
Những từ ngữ “Phụ trách”, “Tổng phụ trách” này chỉ nên dùng cho tu hội đời, vốn không có lời khấn công (public), chỉ có lời khấn tư (private) và tu đoàn đời sống tông đồ, vốn không hoặc chỉ có lời khấn tư.
Nguồn: giaoluatconggiao.com/

