spot_img
Thêm

    Chúa Nhật, Tuần XXII/TN

    Bài Ðọc I: Ðnl 4, 1-2. 6-8

    Môsê nói với dân chúng rằng: “Hỡi Israel, giờ đây hãy nghe các lề luật và huấn lệnh mà ta dạy bảo các ngươi phải thực hành, để được sống và được vào chiếm hữu phần đất mà Chúa là Thiên Chúa cha ông các ngươi sẽ ban cho các ngươi. Các ngươi chớ thêm bớt điều gì trong các điều ta đã truyền, nhưng hãy tuân giữ các giới răn của Chúa là Thiên Chúa các ngươi mà ta đã truyền dạy các ngươi. Các ngươi phải tuân giữ và thực hành, vì đó là sự khôn ngoan và sáng suốt của các ngươi trước mặt muôn dân, để khi nghe nói đến tất cả các lề luật ấy, họ nói: ‘Thật, dân tộc vĩ đại này là một dân khôn ngoan và sáng suốt’. Không một dân tộc nào được các thần ở bên cạnh mình, như Chúa là Thiên Chúa chúng ta, ở bên cạnh chúng ta, khi chúng ta kêu cầu Người. Có dân tộc thời danh nào khác có lễ nghi, huấn lệnh công chính, và bộ luật như ta trình bày trước mặt các ngươi hôm nay không?”

    “Vậy các ngươi hãy ý tứ và giữ mình. Trong suốt đời các ngươi đừng quên và đừng để lòng xao lãng những điều các ngươi đã thấy. Hãy dạy cho con cháu các ngươi biết các điều ấy”.

    Bài Ðọc II: Gc 1, 17-18. 21b-22. 27

    Anh em thân mến, mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do tự trời, bởi Cha sáng láng ban xuống, nơi Người không có thay đổi và cũng không có bóng dáng sự thay đổi. Người đã muốn sinh ra chúng ta bằng lời chân thật, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các tạo vật.

    Cho nên anh em hãy khử trừ mọi thứ nhơ bẩn và lòng đầy gian ác, anh em hãy ngoan ngoãn nhận lãnh lời đã gieo trong lòng anh em, lời có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy thực thi lời đã nghe, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình.

    Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là: thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế đời này.

    Phúc Âm: Mc 7, 1-8a. 14-15. 21-23

    Khi ấy, những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem tụ tập lại bên Chúa Giêsu, và họ thấy vài môn đệ Người dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch, nghĩa là không rửa trước. Vì theo đúng tập tục của tiền nhân, những người biệt phái và mọi người Do-thái không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng. Vậy những người biệt phái và luật sĩ hỏi Người: “Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch?” Người đáp: “Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: ‘Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người’. Vì các ngươi bỏ qua các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người”.

    Và Người lại gọi dân chúng mà bảo rằng: “Hết thảy hãy nghe và hiểu rõ lời Ta. Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu: ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng. Tất cả những sự xấu đó đều ở trong mà ra, và làm cho người ta ra ô uế”.

    Suy Niệm 1: LUÂN LÝ KITÔ GIÁO CỐT Ở ĐÂU?

    Một cách cổ điển để tóm kết toàn bộ đời sống Kitô hữu là bốn từ: “tin, xin, giữ, chịu” – ứng với (1) việc học hiểu giáo lý đức tin, (2) việc cầu nguyện, (3) việc tuân giữ các giới răn, và (4) việc chịu các bí tích. Lời Chúa trong Phụng vụ Chúa Nhật hôm nay tập chú vào khía cạnh thứ ba trên đây: GIỮ các giới răn, tức đời sống luân lý – đây là hàm nghĩa trước hết của hai tiếng ‘giữ đạo’.
    Bài đọc trích sách Đệ nhị luật (4,1-2.6-8) là lời Mô sê trực tiếp kêu gọi dân “phải tuân giữ và thực hành các giới răn của Chúa”, vì lý do rằng các giới răn ấy là “sự khôn ngoan và sáng suốt của các ngươi trước mặt muôn dân”. Lý do này rất xác đáng, như ta biết về thế giá vô song của Thập Giới (Decalogos) đã được nhìn nhận bởi các nhà nghiên cứu lịch sử tôn giáo thế giới cho đến ngày nay.
    Tác giả Thánh vịnh 14 (15) thay lời cho mọi người tuân giữ các giới răn của Chúa để nói lên cảm nghiệm “sống trong sự hiện diện của Chúa”, xét như hiệu quả của việc “sống thanh liêm và thực thi công chính”. Sống trong sự hiện diện của Chúa, hay ở trong nhà Chúa, đây không phải là điều tối hậu mà chúng ta tìm kiếm đó sao?
    Bài đọc trích Thư Gia cô bê (1,17-18.21b-22. 27) vẫn âm vọng giáo huấn luân lý cho các tín hữu: “Lòng đạo đức trong sạch và tinh tuyền đối với Thiên Chúa Cha là: thăm viếng cô nhi quả phụ trong cơn quẫn bách, và giữ mình khỏi mọi ô uế đời này”. Đặc biệt, đoạn thư này muốn tổng hợp các giáo huấn luân lý nơi ‘Lời cứu độ’ được Thiên Chúa ban cho trong lòng chúng ta: “Anh em hãy khử trừ mọi thứ nhơ bẩn và lòng đầy gian ác, anh em hãy ngoan ngoãn nhận lãnh lời đã gieo trong lòng anh em, lời có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy thực thi lời đã nghe, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình”. Nói cách khác, toàn bộ nền luân lý Kitô giáo cốt ở nghe Lời, và không chỉ nghe suông, mà thực thi Lời cách trân trọng nữa.
    Bài Tin Mừng theo thánh Mác cô (7,1-8a.14-15.21-23) cũng xoay quanh vấn đề tuân giữ các giáo huấn đạo đức, với sự ‘đụng độ’ cụ thể giữa Chúa Giêsu và một số kinh sư, biệt phái liên quan đến thực hành rửa tay trước bữa ăn… Đây là cơ hội tốt để Chúa Giêsu vạch rõ cái tệ trạng “bỏ các giới răn của Thiên Chúa mà chỉ tuân giữ các tập tục con người”. Đồng thời, Chúa Giêsu tuyên bố rõ tầm quan trọng quyết định của thái độ nội tâm, tức tấm lòng, trong chuyện giữ luật. “Dân này tôn kính Ta ngoài môi miệng, còn lòng chúng xa Ta!”…
    Như vậy, Lời Chúa hôm nay nhắc nhở:
    1) Cần tuân giữ giới răn của Chúa, với lòng thành, và điều này cốt ở nghe và thực thi lời Chúa;
    2) Cần ưu tiên trân trọng các giới răn của Chúa trên các tập tục thuộc truyền thống con người;
    3) Đừng vẽ vời quá nhiều những thứ bên ngoài đến mức không còn chỗ để bận tâm đến thái độ bên trong… Và đây đích thị là đạo đức giả!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………………………………………..

    Suy Niệm 2: THẾ GIỚI BÊN TRONG THÌ QUAN TRỌNG HƠN

    Bài đọc 1 hôm nay được đặt trong bối cảnh của giao ước trên núi Sinai giữa Thiên Chúa và dân Israel. Môsê đưa ra cho dân Israel những lợi ích mà họ sẽ được khi họ đem ra thực hành những thánh chỉ và quyết định của Thiên Chúa. Những gì Môsê truyền cho dân là mệnh lệnh của Đức Chúa. Họ không được thêm hoặc bớt điều gì, nhưng phải tuân giữ cách trung thành: “Anh em đừng thêm gì vào lời tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em” (Đnl 4:2). Một cách cụ thể, họ sẽ được: (1) “sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em (Đnl 4:1); (2) trở thành một “dân khôn ngoan và thông minh!’ (Đnl 4:6); (3) “thần minh ở gần, như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, ở gần chúng ta, mỗi khi chúng ta kêu cầu Người” (Đnl 4:7). Tuy nhiên, để được những điều ấy, họ phải “ý tứ và cẩn thận giữ mình đừng quên những điều mắt anh em đã thấy, và suốt đời, đừng để cho những điều ấy ra khỏi lòng anh em; trái lại, anh em hãy dạy cho con cháu anh em biết” (Đnl 4:9). Điều mắt họ đã thấy mà suốt đời phải giữ trong lòng và dạy cho con cháu là gì? Đó là những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện để đưa họ ra khỏi nộ lệ Ai Cập và ban cho họ đất hứa làm gia nghiệp. Chỉ khi họ thực hiện điều này, họ sẽ trở nên dân vĩ đại nhất và qua họ Thiên Chúa sẽ chúc lành cho mọi dân tộc trên mặt đất. Nhìn lại cuộc đời của mình, Thiên Chúa cũng đã thực hiện biết bao kỳ công. Liệu chúng ta có nhớ đến và sống tâm tình tạ ơn mỗi giây phút không?

    Thánh Giacôbê trong bài đọc 2 hôm nay nhắc nhở chúng ta rằng: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng” (Gc 1:17). Những lời này khẳng định rằng mọi sự đến từ Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những người cộng tác, những người lãnh nhận những ơn lành Ngài ban. Bên cạnh đó, những lời trên cũng cho chúng ta biết Thiên Chúa luôn trung thành với lời Ngài đã hứa vì nơi Người không hề có sự thay đổi. Còn chúng ta thường không trung thành với lời hứa của chúng ta trong phép rửa tội [hay trong lời tuyên khấn các lời khuyên phúc âm] vì chúng ta thường hay thay đổi ý định và tình yêu của mình dành cho Chúa và dành cho nhau. Chúng ta chỉ có thể sống trung thành với lời hứa của mình khi chúng ta “khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em” (Gc 1:21b). Đón nhận không vẫn chưa đủ, nhưng chúng ta phải đem lời Chúa ra thực hành, như thế chúng ta mới không tự lừa dối chính mình (x. Gc 1:22).

    Bài Tin Mừng hôm nay được xem là bước chuẩn bị cho cuộc tranh luận về đề tài “ô uế và không ô uế.” Cao trào của cuộc tranh luận về đề tại này sẽ được tìm thấy trong chương 8 (11-21), khi những người Pharisêu đòi Chúa Giêsu cho họ xem dấu lạ để thử người về quyền bính Ngài có trong việc giảng dạy về đề tài này. Đoạn Tin Mừng hôm nay cũng nhằm mục đích chuẩn bị cho hành trình giảng dạy của Chúa Giêsu bên ngoài Galilê, trong những vùng đất mà người Do Thái xem là ô uế, những vùng đất của dân ngoại.

    Như thường lệ, Thánh Máccô trong bài Tin Mừng hôm nay sử dụng nghệ thuật tương phản trong thái độ để chuyển tải sứ điệp của mình. Cuối chương 6 (Mc 6:53-56), chúng ta thấy thái độ đón nhận Chúa Giêsu của dân chúng. Thái độ này hoàn toàn tương phản với thái độ từ chối của “những người Pharisêu và một số kinh sư.” Nếu chúng ta liên kết với đề tài tương phản giữa “giới răn Thiên Chúa” và “truyền thống của tiền nhân,” chúng ta nhận ra rằng: Trong ý định ban đầu của Thiên Chúa, Ngài muốn “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tim 2:4). Điều này được phản chiếu trong việc mọi người đón nhận Ngài; nhưng theo “truyền thống của những người Do Thái” chỉ những ai được tuyển chọn, là con cháu Abraham thì mới được hưởng ơn cứu độ. Điều này được phản chiếu trong thái độ của những người Pharisêu và một số kinh sư. Còn chúng ta: Chúng ta muốn mọi người được cứu độ, ngay cả những người chúng ta không thích, hay chúng ta chỉ muốn những người trong “nhóm” của chúng ta được cứu độ?

    Cấu trúc của bài Tin Mừng hôm nay gồm 2 phần. Phần 1 là thách thức của những người Pharisêu và một số kinh sư về việc các môn đệ Chúa Giêsu không rửa tay trước khi ăn theo truyền thống của tiền nhân (Mc 7:1-8); và phần 2 là việc Chúa Giêsu chỉ trích những người chống đối Ngài đã dùng truyền thống của con người để thay thế cho các giới răn của Thiên Chúa qua việc thực hành korban: “Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng: ‘Ngươi hãy thờ cha kính mẹ’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử!’ Còn các ông, các ông lại bảo: ‘Người nào nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là ‘coban’ nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa’ rồi, và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa (Mc 7:10-12). Theo Chúa Giêsu, họ dùng truyền thống con người để tránh bổn phận của mình trước mặt Thiên Chúa cũng như biện minh cho những lỗi phạm của mình về luật bác ái. Ở đây, Chúa Giêsu một cách gián tiếp tuyên bố rằng: Ngài là Đấng có quyền giải thích luật. Đây chính là một khẳng định mang tính Kitô học. Tuy nhiên, điều chúng ta cần học ở đây là: Đừng tìm cách biện minh cho những lỗi phạm của chúng ta về việc thực hành bác ái.

    Đi sâu hơn vào trong vấn đề tranh luận, chúng ta thấy cuộc tranh luận này bắt đầu với việc rửa tay, một hành vì mang tính cách bên ngoài và những người Pharisêu và một số kinh sư chỉ dừng lại ở đó. Nhưng Chúa Giêsu hướng những người chống đối Ngài vào yếu tố bên trong. Ngài trích lời của ngôn sứ Isaia để nói về điều này: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân” (Mc 7:6-7). Trong câu này, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn chúng ta phải trở về với ý định của Thiên Chúa khi thờ phượng Ngài. Ngài muốn chúng ta thờ phượng Ngài với cả con người của mình: trọn linh hồn và thân xác. Tóm lại, điều Thiên Chúa muốn chúng ta là không chỉ tôn thờ Ngài bằng môi bằng miệng, nhưng với trọn con tim. Nói cách khác, hãy đến với Chúa như là một “con người thống nhất – hồn và xác” chứ không phải chỉ thân xác như một “thây ma” hoặc chỉ linh hồn như một “bóng ma.”

    Phần 2 của bài Tin Mừng hôm nay là phần kết của cuộc tranh luận với những người Pharisêu và biệt phái về việc giữ các truyền thống tiền nhân về thực phẩm [ăn uống] mà chúng ta nghe ngày hôm qua. Nội dung chính của phần này là lời công bố và giải thích của Chúa Giêsu về tính không hợp lý [hợp pháp] của luật Do Thái về thực phẩm [việc ăn uống]. Trong Mc 7:14-16 – Chúa Giêsu dạy và cống bố cho đám đông về tính không hợp lý của luật Do Thái về thực phẩm [việc ăn uống]; và trong Mc 7:17-23 – Chúa Giêsu giải thích riêng cho các môn đệ về tính không hợp lý của luật Do Thái về thực phẩm [việc ăn uống]. Chúng ta thấy ở đây có hai cấp độ: Nghe và hiểu. Có nhiều người chỉ nghe nhưng không hiểu. Điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh ở đây là tầm quan trọng của thế giới bên trong. Thật vậy, thay đổi bên ngoài dễ hơn thay đổi bên trong: Thay đổi kiểu tóc dễ dàng hơn thay đổi thái độ ghen tỵ. Chúa Giêsu xác quyết rằng: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế (Mc 7:14-15). Vẻ đẹp của con người không hệ tại ở vẻ bề ngoài, nơi thân xác, nhưng nằm bên trong linh hồn, trong con tim tràn đầy yêu thương. Như chúng ta đã trình bày trong những bài chia sẻ trước, khi Chúa Giêsu dùng câu: “Ai có tai nghe thì nghe!” (Mc 7:16), Ngài muốn nhấn mạnh rằng: Hãy để ý! Đây là điều rất quan trọng. Chúng ta thường để ý đến những thay đổi ở bên ngoài để “hấp dẫn” người khác, để gây chú ý hoặc gây ấn tượng cho người khác. Nhiều khi chúng ta thay đổi bề ngoài của mình để làm vui lòng người khác, nhưng bên trong chúng ta lại không có gì thay đổi hoặc chứa đựng những đắng cay và ghen ghét. Hãy làm mình nên đẹp trước mặt Thiên Chúa và người khác với đời sống nhân đức hơn là những thay đổi bên ngoài.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………………………………………………

    Suy Niệm 3: THÈM LÒNG CHỨ AI THÈM THỊT

    Người đời thường nói:”Thèm lòng chứ ai thèm thịt” hoặc “Vị tình vị nghĩa, không ai vị đĩa xôi đầy”, có nghĩa là người ta đến giỗ tết hiếu hỉ, thăm nom vì quan hệ tình cảm, vì cái lòng tốt đối với nhau chứ không phải cốt để ăn uống hoặc là thèm muốn miếng thịt đem biếu nhau.  Trong quan hệ hằng ngày người ta cần cái lòng tốt chứ không cần hình thức bề ngoài. Câu tục ngữ này cũng giúp chúng ta hiểu rằng khi đến với Chúa, ta không cần phải chú trọng quá vào hình thức mà cần tấm lòng của chúng ta đối với Chúa, đó là yêu Chúa và tha nhân.

    I. LỀ LUẬT VÀ TRUYỀN THỐNG

     Trong Cựu ước, bộ luật có tới 613 khoản, nhưng những khoản luật đó chỉ nói trên nguyên tắc, còn trong áp dụng thực hành thì người ta còn thêm vào những lời cắt nghĩa mà ta gọi là truyền thống hay truyền khẩu. Như vậy có hai thứ luật:

    1. Luật thành văn

    Trong hai thứ luật này có cái cổ hơn và quan trọng hơn là Lề luật thành văn. Lề luật này căn cứ trên sách Torah (Ngũ Kinh), nghĩa là 5 cuốn sách đầu tiên của Cựu ước, đôi khi còn gọi là luật Maisen. Thật ra, Ngũ kinh hàm chứa một ít qui tắc và chỉ dẫn chi tiết, nhưng về các vấn đề đạo đức, những gì được nêu lên chỉ là một loạt nguyên tắc mà người ta phải tự giải nghĩa và ứng dụng cho riêng mình. Trong một thời gian dài, dân Do thái bằng lòng với những “kiểu mẫu” này. Họ áp dụng vào đời sống vì thấy chúng thích hợp.

    1. Luật truyền khẩu hay truyền thống

     Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, có một nhóm chuyên nghiên cứu Lề luật, dưới biệt hiệu là Luật sĩ (Kinh sư). Nhóm người này thấy những điều luật tổng quát trong bộ luật ấy quá mơ hồ, thiếu tính rõ ràng, cần phải được soạn thảo lại cho rõ ràng hơn, với nhiều chi tiết hơn. Do đó, họ muốn triển khai, phóng đại, phân tích các nguyên tắc lớn ấy biến chúng thành hàng ngàn lề luật, qui tắc nhỏ nhặt, để điều khiển từng hành động, từng hoàn cảnh của đời sống.

    Các luật lệ và qui tắc ấy không hề được viết ra cho đến sau thời Chúa Giêsu một thời gian dài. Chúng vẫn được gọi là Luật truyền khẩu, đây chính là cái gọi là tương truyền của người xưa.

    II. TRUYỀN THỐNG TRONG NGHI THỨC RỬA TAY

    1. Tập tục rửa tay

    Trong khoảng thời gian này, trong dân chúng Do thái, có rất nhiều người muốn bắt chước các tư tế của họ về sự thánh thiện bề ngoài có tính cách nghi thức. Chẳng hạn theo lề luật thành văn, mọi tư tế đều phải rửa tay khi vào nơi thánh trong đền thờ. Mục đích của luật này là tẩy rửa đi tất cả những gì là ô uế về mặt tôn giáo để các tư tế xứng đáng thờ phượng Chúa hơn. Dần dần, dân chúng bắt chước các tư tế rửa tay trước khi cầu nguyện. Và bằng những suy nghĩ tương tự như thế, họ cũng rửa tay trước khi dùng bữa.

    Có nhiều luật lệ rõ ràng và nghiêm nhặt về việc rửa tay. Trước khi dùng bữa và giữa hai món ăn, người ta phải rửa tay, và phải rửa theo một nghi thức nhất định. Để bắt đầu, phải làm cho đôi bàn tay không còn dính đất cát vôi vữa sỏi sạn vụn hay các vật tương tự. Nước rửa tay phải được đựng trong những choé đá lớn, hay bình bằng đồng, để chính chúng cũng thanh sạch theo ý nghĩa lễ nghi, và để được chắc chắn là chúng không được dùng vào việc gì khác và chẳng có vật gì rơi rớt hay lẫn lộn, pha trộn vào đó.

    Nghi thức rửa tay phải như thế này : trước hết bàn tay được xoè ra, các đầu ngón tay chỉ lên trên, nước phải được đổ phía trên và chảy xuống ít nhất đến cổ tay. Lượng nước tối thiểu phải dùng là một phần tư log, tương đương với số nước đựng đầy một vỏ quả trứng rưỡi. Trong lúc bàn tay vẫn còn ướt phải rửa bàn tay này bằng mu bàn tay kia. Đây là cách giải nghĩa cách thức rửa tay bằng mu bàn tay kia : mu bàn tay này phải kỳ cọ vào lòng bàn tay kia và toàn thể bề mặt của bàn tay kia. Như thế có nghĩa là trong giai đoạn này, hai bàn tay đã ướt nước, nhưng bây giờ nước đó đã bị dơ vì đã tiếp xúc với hai bàn tay dơ rồi. Một lần nữa phải chụp các ngón tay lại, chúc xuống dưới rồi đổ nước lên, sao cho nước từ cổ tay  chảy xuống khắp các đầu ngón tay. Sau khi đã làm đúng như thế, thì đôi tay mới được sạch.

    1. Rửa tay là việc quan trọng

    Đây là vấn đề không phải chỉ là vệ sinh mà là tập tục tôn giáo về “sạch” và “dơ”, được ghi thành luật của Maisen trong sách Lêvi, được thêm vào nhiều chi tiết và qui định rõ ràng qua truyền thống.

    Vào thời Đức Giêsu, dân Do thái tuân giữ những lệnh truyền khẩu này cũng tỉ mỉ và thành tín chẳng khác nào lề luật thành văn của Ngũ Kinh. Ý tưởng hàm chứa đàng sau việc tuân giữ này quả thực cao đẹp, bởi vì nó nhằm mục đích làm cho tôn giáo thấm nhập vào mỗi hành vi của cuộc sống, nhưng trong quá trình thực thi luật lệ này, một điều bi đát đã xẩy ra  vì tôn giáo đã dần dần thoái hoá thành một hoạt động chỉ đơn thuần là chu toàn những nghi thức bên ngoài : tuân giữ những nghi thức này thì được kể là làm đẹp lòng Thiên Chúa, còn không giữ chúng đồng nghĩa với phạm tội.

     Nói tóm lại, tuân giữ những nghi thức bên ngoài này được đồng hóa, được đánh giá là đạo đức, là biết phụng sự Chúa.

    Truyện : Nhịn uống để rửa tay.

    Có một thầy tiến sĩ luật Do thái bị đi tù ở Rôma. Ông chỉ được ăn uống tối thiểu, nhằm mục đích kéo dài cuộc sống cho qua ngày. Thời gian trôi qua, thầy luật sĩ yếu dần. Cuối cùng, người ta phải mời một y sĩ đến khám. Y sĩ bảo rằng cơ thể ông bị thiếu nước.

    Các sĩ quan cai ngục không hiểu nổi tại sao ông ta lại có thể thiếu nước. Bởi vì khẩu phần nước mỗi ngày tuy là tối thiểu, nhưng vẫn tương đối đủ cho một cơ thể. Thế là đám lính gác liền chú ý quan sát thầy luật sĩ một cách kỹ lưỡng hơn, xem ông ta làm gì với số nước ấy. Cuối cùng, người ta khám phá ra bí mật. Thầy luật sĩ ấy  đã sử dụng phần lớn số nước để rửa tay theo nghi thức tôn giáo trước khi cầu nguyện và ăn uống. Như thế ông ta chỉ còn lại rất ít nước để uống.

    1. Ý nghĩa việc rửa tay

    Ngày nay, có một sự quan tâm to lớn đối với việc làm sạch sẽ thân thể. Vì thế mới có mọi thứ quảng cáo về xà bông và nước hoa. Và cũng có sự quan tâm về môi trường – với chất lượng của nước uống, thực phẩm và không khí. Điều đó không phải là quan trọng. Chỉ có một điều là có một môi trường khác còn quan trọng hơn : môi trường đạo đức. Điều xấu là ô nhiễm tồi tệ nhất trong mọi thứ ô nhiễm (Flor McCarthy).

    Thực ra, việc rửa tay không phải chỉ nhằm việc vệ sinh thân thể nhưng là việc vệ sinh tâm hồn. Rửa tay là có ý rửa cho linh hồn mình được sạch  mọi vết nhơ tội lỗi. Trong thánh lễ, khi chủ tế rửa tay với chút nước thì đọc :”Lạy Chúa, xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tôi con phạm xin Ngài thanh tẩy”.  Nhưng tiếc thay, nhiều người Do thái chỉ chú trọng rửa tay là rửa tay theo truyền thống mà không để ý đến việc thanh tẩy tâm hồn mình.

     Vì thế, nhà thần học William Barclay nói:”Người ta có thể căm thù tha nhân tận xương tủy mà không một chút áy náy  vì họ đã tuân giữ một cách chặt chẽ các nghi thức rửa tay và các nghi thức thanh tẩy khác”.

     

    III. SAI LẦM TRONG VIỆC GIỮ TRUYỀN THỐNG

    1. Họ chỉ biết giữ lấy truyền thống

    Đọc bốn sách Tin mừng, ta phải nể phục sự nghiêm túc  giữ luật của các luật sĩ Do thái : họ giữ luật Maisen cẩn thận từng chi tiết, cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Ngoài những điều khoản của Lề luật, họ còn giữ cả những chi tiết nhỏ mọn trong truyền  thống Do thái giáo.

    Nhưng Đức Giêsu đã cho họ thấy rằng sự thánh thiện không hệ tại việc giữ một cách chi tiết như thế, hay giữ theo hình thức bên ngoài, mà hệ tại một cái gì đó sâu xa hơn nhiều. Cái đó ở trong nội tâm chứ không phải ở bên ngoài.

    Điều đáng tiếc là những người đặt nặng những chi tiết hay những hình thức bên ngoài của lề luật, thì lại thường coi nhẹ cái cốt tủy của lề luật. Đức Giêsu đã tố giác điều ấy :”Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái giả hình ! Các ngươi nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng (= tức những điều phụ thuộc), mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công lý, lòng nhân và sự thành thật. Các điều này vẫn cứ phải làm, mà các điều kia thì không được bỏ”(Mt 23,23).

    Như vậy, theo Đức Giêsu, ba điều quan trọng nhất trong lề luật, tinh thần của lề luật, cũng là cốt tủy của sự thánh thiện, chính là chân lý, công lý và tình thương.

    Đối với lòng nhiệt thành giả tạo có vẻ quá hình thức này, Đức Giêsu nghĩ thế nào về họ  ? Ngài trách cứ họ hai điều : một là giả hình, hai là làm đảo lộn giá trị.

    1. Họ là những người giả hình

    Họ giả hình vì cũng như thời tiên tri Isaia, người ta không nghĩ đến sự hối cải trong các tâm hồn, mà chỉ bận tâm đến việc thực hiện mấy việc bên ngoài :”Dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người”(Is 29,13).

    Thiên Chúa là chân lý tuyệt đối, có nghĩa là sự gian dối không có chỗ nơi Ngài, không được Ngài ưa thích và ủng hộ. Trái lại, Thiên Chúa lên án cách sống giả hình, sai lạc với sự thật. Thiên Chúa không khinh chê người yếu đuối, tội lỗi, nhưng khinh chê những người đạo đức giả. Thiên Chúa yêu thương, tha thứ cho những yếu đuối, tội lỗi, nhưng Thiên Chúa không thể chấp nhận kẻ sống giả hình.

    Nếu chỉ có những hành động bên ngoài mà không có tinh thần cốt tủy bên trong, thì việc giữ luật đó sẽ ít giá trị trước mặt Chúa. Còn những người luật Chúa thì không giữ, lại chỉ lo giữ những tập tục tôn giáo truyền thống, chẳng hạn một số thói quen  mà ta gọi là “việc đạo đức”, những hình thức do con người sáng tạo…thì việc giữ những tập tục ấy lại càng ít giá trị hơn.

    Những người giả hình này đáng người ta tặng cho cái nhãn hiệu “Tốt mã dẻ cùi”. Chim dẻ cùi là một giống chim đẹp, mỏ đỏ, đuôi dài, lông mã, lông đuôi sặc sỡ ngũ sắc, coi giống chim phượng. Người ta đã gọi là phượng hoàng Nam (phượng hoàng của nước Nam) hay phượng hoàng đất.  Nhưng chim dẻ cùi phải cái tật hay ăn cứt chó, cứt lợn. Người ta đã có câu :

                                          Dẻ cùi tốt mã dài đuôi,
                                   Hay ăn cứt chó , ai nuôi dẻ cùi.

    Dẻ cùi tiếng hót lại không hay, vì vậy dẻ cùi tuy đẹp mã thật, song người ta không qúi mà lại khinh. Người ta thường dùng câu “Tốt mã dẻ cùi” để chế riễu người bề ngoài đẹp đẽ sáng sủa, ăn bận diêm dúa mà bụng dạ bẩn thỉu không tốt mà lại vô tài (Văn Hoè, Tục ngữ lược giải, 1957, tr 198).

    Truyện : Sư máy.

    Tuần báo Newsweek số ra ngày 10/08/1993 đã ghi lại một sáng kiến mới lạ ở Nhật, đó là “Sư máy”. Vị sư máy này, mới nhìn qua, không khác gì vị tu hành thực thụ : đầu cúi xuống, mắt khép lại, môi và các cơ bắp trên gương mặt cử động theo nhịp cầu kinh ghi sẵn, một tay cầm chuỗi giơ lên, một tay thì gõ mõ, và có thể thuộc toàn bộ kinh kệ của mười giáo phái Phật giáo khác nhau tại Nhật.

     Sáng kiến này đưa ra nhằm đáp ứng cho ơn gọi sư sãi ngày càng khan hiếm trong các Giáo hội Phật giáo tại Nhật. Tuy nhiên, như tác giả bài báo ghi nhận : những cái máy làm được mọi sự, duy chỉ một điều chúng không thể làm được, đó là chúng không biết yêu thương (Mỗi ngày một tin vui).

    1. Họ làm đảo lộn giá trị

    Họ chỉ giữ tập tục của tiền nhân là những tập tục của con người đặt ra. Các tiền nhân của người Do thái đặt ra nhiều tập tục tỉ mỉ mà các biệt phái và luật sĩ tuân giữ rất nhiệm nhặt. Biệt phái là những người Do thái rất sùng đạo, nhưng sùng đạo cách giả hình, vụ hình thức, vì họ chỉ chú trọng đến những hình thức bên ngoài như nhiệm nhặt gìn giữ các tục lệ của tiền nhân, chuộng hình thức bên ngoài mà không có tinh thần bên trong.

    Chúa khiển trách họ:”Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người, vì các ngươi bỏ qua các giới răn của Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người”. Chúa khiển trách họ là người làm đảo lộn giá trị vì họ chỉ chú ý đến việc tuân giữ các tập tục của tiền nhân mà lại bỏ qua những giới răn căn bản của Chúa. Họ coi trọng việc thuộc về con người hơn việc thuộc về Thiên Chúa.

    IV. ĐIỀU CHÚA MUỐN DẠY TA

    Nhân dịp các luật sĩ chê trách các Tông đồ không rửa tay khi dùng bữa, Đức Giêsu muốn dạy cho họ một bài học : cái xấu xa không phải từ ngoài mà vào, mà ở trong mà ra.  Ngài nói:”Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu : tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình… Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế”. Do đó, chính cõi lòng mới là nguồn gốc của việc lành hay việc dữ.

    Theo lời Chúa dạy, chúng ta thấy yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bề ngoài. Chính ý hướng ở bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài  có giá trị hay không.  Nhiều người có những hành động rất tốt nhưng lại làm vì những động lực ích kỷ hay gian ác, thì hành động ấy trở nên xấu.

    Chẳng hạn những hành động giả nhân giả nghĩa nhằm được một lợi lộc nào đó, như bố thí thật nhiều để được khen, để có tiếng là đạo đức hầu lừa đảo người khác, hay làm việc tích cực chỉ nhằm để được lên chức, để nắm quyền hành nhằm thao túng lũng đoạn tập thể.  Ngược lại, có những người “tình ngay mà lý gian”, hành động thì có vẻ như xấu, bị kết án, nhưng lại được Thiên Chúa chúc lành.

    Vậy điều quan trọng là phải đổi mới trái tim. Đổi được trái tim là đổi được tất cả. Điều cốt lõi trong đạo không phải là chúng ta làm việc này việc nọ, mà chính là lý do thúc đẩy chúng ta làm những việc ấy.

    Chúng ta cần lưu ý rằng luân lý của Đức Giêsu là một thứ luân lý phổ quát biết bao ! Ngài biết rõ lòng người. Đó là luân lý căn bản tự nhiên mà Ngài đặt lại thành giá trị  vượt lên trên những tập tục riêng của một nền văn minh. Không có một tục lệ quốc gia nào, một tập tục tổ tiên nào có thể đi ngược lại những luật căn bản này, mà mọi người đều phải công nhận trong thâm tâm của mình.

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

                                                                       

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com