spot_img
Thêm

    CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG

    BÀI ĐỌC I: Is 7, 10-14

    Ngày ấy, Chúa phán bảo vua Achaz rằng: “Hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi, một dấu ở dưới lòng đất hay ở trên trời cao!” Nhưng vua Achaz thưa: “Tôi sẽ không xin, vì tôi không dám thử thách Chúa”. Và Isaia nói: “Vậy hãy nghe đây, hỡi nhà Đavít, làm phiền lòng người ta chưa đủ ư, mà còn muốn làm phiền lòng Thiên Chúa nữa? Vì thế, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.

    BÀI ĐỌC II: Rm 1, 1-7

    Phaolô, tôi tớ Chúa Giêsu Kitô, đã được kêu gọi làm Tông đồ và đã được tuyển chọn để rao giảng tin mừng Thiên Chúa. Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Đavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần, đã sống lại từ cõi chết. Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Đức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu đã kêu gọi. Tôi chúc tất cả mọi người trong thành Rôma được Thiên Chúa yêu mến và kêu gọi nên thánh, được ân sủng và bình an của Thiên Chúa là Cha chúng ta, và của Đức Giêsu Kitô là Chúa chúng ta.

    PHÚC ÂM: Mt 1, 18-24

    Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse, bạn của bà, là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy thì thiên thần Chúa hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: “Hỡi Giuse, con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần: bà sẽ hạ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội”. Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng Tiên tri phán xưa rằng: “Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”. Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời thiên thần Chúa truyền: ông tiếp nhận bạn mình, nhưng không ăn ở với nhau cho đến khi Maria sinh con trai đầu lòng, thì Giuse đặt tên con trẻ là Giêsu.

    Suy Niệm 1: CHÚA LÀM NGƯỜI – THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

    “Này đây người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai”. Lời loan báo này chúng ta đã từng nghe không chỉ một lần trong những tuần qua. Hôm nay, Chúa nhật IV Mùa Vọng, lời này lại vang lên với một âm hưởng đặc biệt, bởi sự kiện ‘mang thai’ và ‘sinh hạ’ ấy đang đến thật gần – như hình ảnh các hang đá Giáng Sinh đã bắt đầu xuất hiện khắp nơi… Điều thiết yếu cần nhấn mạnh hôm nay, đó là: em bé được mang thai và sinh hạ ấy chính là ‘Emmanuel’, là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’! (x. Is 7,10-14).
    Thánh vịnh 23 (Đáp ca) đồng thanh với sự nhấn mạnh ấy, để xác nhận với chúng ta: “Chúa sẽ ngự đến, chính Người là Đức Vua vinh hiển”. Em bé trong hang đá là ‘Chúa ngự đến’, là ‘Đức Vua vinh hiển’! Chúng ta không chỉ mừng một em bé chào đời – cũng không chỉ mừng Thiên Chúa trên cõi cao xanh. Chúng ta mừng Thiên-Chúa-làm-người nơi em bé này, mừng vì quả thật nơi em bé này Thiên Chúa đến ở cùng chúng ta. Thiên Chúa trở thành một người giữa chúng ta!
    Đó chính là mầu nhiệm được thánh Phaolô tuyên bố rõ trong bản văn Thư Rôma hôm nay (Rm 1,1-7): “Xét như người phàm, Đức Giêsu Kitô xuất thân từ dòng dõi Đavit. Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng”… Đây là thực tại được chất chứa trong mầu nhiệm Nhập Thể. Và đây là nền tảng sâu xa và vững chắc nhất của phẩm giá con người. Thiên Chúa đã làm người, nên con người chúng ta, mọi con người không trừ ai, thật đáng quí đáng trọng biết bao! Do đó, trong bất luận hoàn cảnh nào, phẩm giá của mọi con người cụ thể phải được tôn trọng.
    Hãy xem cách Chúa đến làm người là câu chuyện bi tráng và cảm động như thế nào: Mọi sự bắt đầu nhờ việc Maria chấp nhận… Bào thai nhỏ bé ấy trở thành bối rối lớn cho Giuse… Chẳng biết tình hình sẽ thế nào cho hai mẹ con, nếu Giuse lặng lẽ trốn biệt thay vì đón về… Vẫn là bào thai bé bỏng, nhưng được đón nhận và trở nên niềm vui lớn lao cho bà Êlisabet… Tuy nhiên, đến lúc sắp chào đời, lại bị từ khước từ cửa quán này sang cửa quán khác khi đang lỡ đường ở thị trấn Bêlem… Cuối cùng, được mẹ sinh ra ngoài đồng, đặt trong một máng ăn của súc vật… Được những người chăn chiên và các đạo sĩ thăm viếng và diễn tả sự kính ngưỡng… Nhưng suýt bị đoạt mạng bởi tay Hêrôđê tàn ác… Đứa con bị truy sát, nên cha mẹ bị vạ lây, phải gấp rút chạy tránh qua nước khác, trở thành một gia đình di dân, tị nạn… Giêsu thì thoát chết, nhưng một số em bé vùng Bêlem đã phải liên luỵ, chết oan!…
    Chúa làm người như thế đó. Kịch tính ngay từ những khoảnh khắc đầu tiên! Chúa phụ thuộc vào cha mẹ và những người tử tế để sống còn. Chúa bị đe doạ và nhiều phen khốn đốn bởi những kẻ ác tâm. Chúa trải nghiệm tất cả, vì LÀM NGƯỜI mà, Chúa ở cùng chúng ta mà!

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………

    Suy Niệm 2: HÃY VỮNG TIN: THIÊN CHÚA SẼ THỰC HIỆN ĐIỀU NGÀI ĐÃ HỨA

    Lời Chúa trong hai tuần vừa qua tập trung vào hình ảnh của Thánh Gioan Tẩy Giả. Thánh nhân đứng trước chúng ta như là một người thách thức và sống động, đại diện cho một loại sứ mệnh mang tính đàn ông trong cuộc sống. Thánh nhân là một người kêu gọi rất nghiêm nghị đến với metanoia (sự thống hối): đến với một sự thay đổi lối suy nghĩ, hoặc sự trở lại (hối lỗi). Bất kỳ ai muốn là một người Kitô hữu thánh thiện phải liên tục thay đổi lối suy nghĩ và nhãn quan của mình, vì tự bản tính chúng ta luôn có khuynh hướng khẳng định chính mình, đưa ra cái này hoặc cái kia để làm cho chúng ta thành tâm điểm của sự chú ý. Nếu chúng ta muốn tìm thấy Thiên Chúa, chúng ta phải luôn luôn trải qua một sự trở lại của nội tâm, quay lại và di chuyển theo hướng ngược lại, và ngay cả chuyển hướng toàn bộ ý niệm về cuộc sống của chúng ta.

    Trong Chúa Nhật hôm nay, Chúa Nhật cuối của Mùa Vọng, lời Chúa mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng một nhân vật khác, đó là Mẹ Maria, người tớ nữ tinh tuyền của Đức Chúa. Điểm đầu tiên chúng ta cần lưu ý khi nói về Mẹ Maria là sứ điệp của Mẹ: đây là một sứ điệp hoàn toàn khác với sứ điệp của Thánh Gioan Tẩy Giả: Mẹ là một gương mẫu, không phải của hoạt động của nam giới, nhưng của sự đón nhận của nữ giới.

    Thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay nói về Tin Mừng mà ngài loan báo, đây là Tin Mừng mà Thiên Chúa đã dùng các ngôn sứ mà hứa trong Kinh Thánh (x. R 1:2): Đó là Tin Mừng về Con của Người là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Xét như một người phàm, Đức Giêsu Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít. Nhưng xét như Đấng đã từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần, Người đã được đặt làm Con Thiên Chúa với tất cả quyền năng” (Rm 1:3-4). Trong những lời này, Thánh Phaolô một cách nào đó chứng minh cho chúng ta thấy Chúa Giêsu có ‘hai bản tính’ – con người và Thiên Chúa. Như thế, khi chúng ta tách nhân tính của Chúa Giêsu khỏi thần tính của Ngài hoặc ngược lại, thì Chúa Giêsu không còn là chính Ngài nữa. Cả hai bản tính ‘hợp nhất’ trong một ngôi vị, Ngôi Hai Thiên Chúa. Chi tiết này giúp chúng ta hiểu điều tác giả thư gởi tín hữu Do Thái nói Ngài nên giống chúng ta trong mọi sự [nhân tính], ngoại trừ tội lỗi [thần tính] (x. Dt 4:15).

    Điều Thánh Phaolô trình bày trong bài đọc 2 về Chúa Giêsu, đó là “xét như một người phàm, Đức Giêsu Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Đavít” (Rm 1:3-4). Điều này được Tin Mừng hôm nay làm sáng tỏ qua trình thuật về ‘truyền tin’ cho Thánh Giuse. Chúng ta có thể nói rằng đoạn Tin Mừng hôm nay và trình thuật về biến cố Truyền Tin cho Maria và sự thụ thai cách lạ thường của Con Thiên Chúa thường được đọc trong những thánh lễ tôn kính Mẹ Maria. Trong trình thuật của Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể rút ra những điểm sau để suy gẫm:

    Thứ nhất, việc thụ thai lạ thường của Mẹ Maria: “Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1:18). Những lời này nói về gốc tích của Chúa Giêsu, không phải đến từ con người, nhưng đến từ Thiên Chúa. Sự kiện được trình bày ở đây là Mẹ Maria đã đính hôn với Giuse. Theo phong tục người Do Thái thời đó, khi đã đính hôn thì hai người có quyền sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong những lời trên chúng ta được biết là việc Maria có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần xảy ra trước khi hai người về chung sống với nhau. Điều này ám chỉ việc ‘trinh nữ sẽ thụ thai’ như đã được tiên báo bởi Ngôn Sứ Isaia trong bài đọc 1: “Này đây người trinh nữ sẽ mang thai, sẽ sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuen” (Is 7:14). Chúng ta cũng có thể tự hỏi như Mẹ Maria: “Điều đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?” Nhưng rồi, Thiên Chúa phán qua sứ thần: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được.” Những lời này an ủi chúng ta thật nhiều trong cuộc sống, nhất là những lần chúng ta gặp những thách đố, những khó khăn, những đau khổ mà nhìn từ khía cạnh con người chúng ta không thể vượt qua hoặc chịu đựng được. Trong những giây phút đó, Thiên Chúa cũng nói với chúng ta như đã nói với Mẹ Maria: Hãy vững tin vì không có gì mà Thiên Chúa không làm được.

    Thứ hai, sự công chính của Thánh Giuse: “Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1:19). Sự công chính của Giuse hệ tại việc tuân phục Lề Luật, đó là tố cáo Maria (Đnl 22:20-21), nhưng điều này được làm cho cân bằng bởi chính lòng thương của thánh nhân. Chính tình yêu đã ngăn cản Giuse khỏi việc đòi có một bản án tương xứng cho Maria, đó là bị ném đá theo luật. Nói cách đơn giản hơn, Thánh Giuse đã vượt qua đức công bình [đòi lại cách chính xác những gì thuộc về mình theo luật] để đạt đến đức ái toàn hảo [tìm lợi ích cho người khác]. Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng đối xử với nhau theo kiểu “răng đền răng, mắt đền mắt.” Chúng ta thường tìm lợi ích cho chính mình mà chà đạp trên nhân phẩm và sự sống của anh chị em mình. Hạnh phúc trong cuộc sống không hệ tại việc người khác làm cho mình hạnh phúc, nhưng hệ tại việc chính mình phải làm gì để cho người khác [nhất là những người thân] được hạnh phúc. Làm sao chúng ta có thể an hưởng hạnh phúc khi anh chị em mình không được tôn trọng. Người Kitô hữu thánh thiện là người sống theo luật bác ái, chứ không chỉ sống theo sự công bình: Thiên Chúa yêu chúng ta ngay cả khi chúng ta còn là tội nhân. Là con của Ngài, chúng ta không thể yêu anh chị em mình khi họ làm chúng ta đau khổ sao?

    Thứ ba, lời Chúa hứa qua miệng các ngôn sứ sẽ được thực hiện: “Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Mt 1:22-23). Qua dòng lịch sử, chúng ta thấy Thiên Chúa luôn trung thành với lời hứa của mình. Ngài luôn thực hiện những gì Ngài đã hứa. Và chúng ta biết, Thiên Chúa chỉ hứa với chúng ta một điều, đó là ban cho chúng ta chính con một của Ngài để cứu độ chúng ta. Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình, nhất là những lời hứa của chúng ta với Chúa và với anh chị em mình. Người ta thường nói rằng: Trong cuộc sống, nếu cần phải hứa thì chỉ hứa những gì nằm trong khả năng của mình, hứa những gì mình có thể làm được với ơn Chúa giúp. Khi đã hứa, thì phải thực hiện điều mình đã hứa. Đừng làm cho người khác mất niềm tin về mình ví hứa mà không thực hiện.

    Cuối cùng, thái độ mau mắn thực hành thánh ý Thiên Chúa của Giuse: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà” (Mt 1:24). Trong những lời này, chúng ta thấy Thánh Giuse thực hiện hai điều quan trọng, đó là (1) làm như sứ thần Chúa dạy, và (2) đón vợ về nhà. Hành động thứ nhất nói lên việc “chuẩn xác” trong việc thực thi thánh ý Chúa. Điều này nhắc nhở chúng ta về khuynh hướng cắt nghĩa hoặc ‘lèo lái’ ý Chúa theo ý của mình để thực hiện. Thánh Giuse nêu gương cho chúng ta phải làm ‘như’ điều Chúa truyền qua sứ thần, chứ không làm ‘như’ điều mình muốn. Hành động thứ hai nói lên tình yêu trọn vẹn của Giuse dành cho Mẹ Maria. Hành động ‘đón vợ về nhà’ ám chỉ việc hoàn toàn chấp nhận. Thánh Giuse hoàn toàn chấp nhận Mẹ mà không còn suy tính hay lưỡng lự. Điều này mời gọi chúng ta đón nhận anh chị em mình với những gì họ là, với những ưu điểm và khuyết điểm của họ. Tình yêu đích thực là tình yêu vượt qua tổn thương để yêu người làm tổn thương mình và đón nhận họ vào trong con tim mình.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………………

    Suy Niệm 3: NGÀI LÀ ĐẤNG EMMANUEL


    A. DẪN NHẬP

    Chúng ta đang chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Giáng sinh là sự kiện trung tâm của lịch sử ơn cứu độ và của lịch sử nhân lọai. Giáng sinh là một mầu nhiệm. Muốn hiểu được phần nào mầu nhiệm Giáng sinh, chúng ta cần phải biết Đức Giêsu Kitô là ai ? Thiết tưởng không có định nghĩa nào hòan hảo hơn là định nghĩa  mà tiên tri Isaia đã xác quyết trong bài đọc 1 hôm nay : Ngài là Đấng Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

    Thánh Matthêu cho chúng ta thấy rằng lời loan báo của tiên tri Isaia đã được thực hiện nơi Đức Giêsu, mà theo một cách vĩ đại hơn rất nhiều, và có thể chính vị tiên tri này đã không thể tưởng tượng nổi. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần trong lòng trinh nữ Maria và được sinh ra. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là người thật. Với tư cách là con người thì Ngài thuộc dòng tộc vua Đavít vì có thánh Giuse là cha nuôi.  Ngài đến để chia sẻ thân phận con người của chúng ta và làm cho chúng ta vốn là người phàm, được thông phần thần tính của Người.

    Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài đã đến ở với lòai người qua việc tạo dựng, qua lời Ngài trong Kinh Thánh và trong con người của Đức Giêsu ở giữa chúng ta. Chúng ta hãy mừng lễ Giáng sinh trong tinh thần yêu thương và phục vụ, biết đem Chúa đến cho mọi người để mọi người biết thương yêu nhau và coi tha nhân như hiện thân của Đức Kitô ở giữa lòng đời.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Is 7,10-16

    Đây là một trong những đọan văn quan trọng nhất nói về niềm hy vọng Đấng Messia của Israel. Truyền thống Do thái không ngớt đọc đi đọc lại đọan văn này và khoác thêm cho nó những sắc thái mới. Sách Tin mừng thứ nhất sẽ đọc thấy trong đọan văn này sự hòan tất nơi việc Đức Maria sinh hạ Đức Giêsu (Mt 1,22-23).

    Vua Achaz bị chống đối ngay trong nước, bị đe dọa bởi ngọai bang, vua nghĩ đến việc cầu cứu những người Assyri. Tiên tri Isaia đã ngăn cản ông và khuyến khích ông hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa hơn là vào liên minh quân sự.  Nhà tiên tri đã cho ông một dấu hiệu từ trời cao : đó là cuộc sinh hạ của một người con trai, Đấng giải thóat dân, mang tên là Emmanuel : Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

    Không nghe lời khuyên nhủ khôn ngoan đó, Achaz sẽ bị phạt và vương quốc bị phá hủy. Dầu vậy, Thiên Chúa cũng còn thương mà ban cho vua một người con yêu quí là Ezechias, một ông vua hòan hảo. Ông không phải là Đấng Messia, nhưng chỉ là hình bóng Đấng Cứu Thế và mẹ ông là hình bóng của Đức Trinh nữ Maria.

    + Bài đọc 2 : Rm 1,1-7

    Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô tỏ ra được vinh dự vì được kêu gọi vào hàng môn đệ của Đức Kitô, với trách vụ tông đồ rao giảng Tin mừng cho dân ngọai. Trọng tâm Tin mừng ngài rao giảng là Đức Kitô. Theo đó, Đức Kitô là Con Thiên Chúa theo bản tính từ đời đời và đã trở thành con vua Đavít theo xác thể và là người thật.

    Từ ý thức đó, thánh Phaolô khuyên các tín hữu hãy sung sướng vì được thuộc về một Đấng cao sang như thế :”Đó chính là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”; đồng thời cũng hãy sung sướng với ơn gọi của mình :”Anh em là những người mà Đức Kitô đã kêu gọi”.

    + Bài Tin mừng : Mt 1,18-24

    Việc sinh hạ Đức Giêsu Ngôi Hai Thiên Chúa được diễn ra một cách đặc biệt. Ngài có cha có mẹ đàng hòang : Mẹ Ngài là một trinh nữ có tên là Maria và cha Ngài là bác thợ mộc tên là Giuse.

    Cuộc kết hôn giữa thánh Giuse và Đức Maria đã được Thiên Chúa sắp đặt, nhằm những mục đích thích hợp với chương trình cứu độ : Đức Giêsu đã được thụ thai bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Ngài đến trần gian là “để cứu dân mình khỏi tội”.

    Thánh Matthêu hiểu rằng việc này làm ứng nghiệm lời tiên tri của Isaia từ trước :”Đức Giêsu chính là Emmanuel”, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                              Thiên Chúa ở cùng chúng ta

     I. LỜI HỨA BAN ĐẤNG EMMANUEL

    Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ thực hiện những điều đã hứa khi thời gian tới hồi viên mãn. Lời hứa đó đã được thực hiện cách đấy 2000 năm. Đức Giêsu Kitô đã đến  không phải chỉ một lần trong lịch sử, nhưng Ngài vẫn đang đến, đang hiện diện với chúng ta hôm nay, và nhất là Ngài sẽ lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

    Ngược dòng lịch sử nhân lọai, sau khi Nguyên tổ sa ngã, quay lưng lại với Thiên Chúa đi vào chỗ diệt vong, Thiên Chúa đã hứa ban một Đấng Cứu Thế để nhờ Ngài mà con người chuộc lại được sự sống đã mất (x. St 3,15). Thế rồi qua dòng lịch sử, mặc cho sự phản bội liên tục của con người, Thiên Chúa vẫn trung thành mãi và Tình yêu của Ngài vẫn tiếp tục đeo đuổi lấy con người (x. 2Tm 2,13). Từng bước một, Thiên Chúa đã chọn Abraham làm tổ phụ một dân riêng, để từ dân đó, Con Ngài được sinh ra.  Và trong dân đó, Đấng Messia của Thiên Chúa đã được báo trước sẽ thuộc dòng tộc vua Đavít (x. 2Sm 7,12-16).

    Thế nhưng, mặc dù đã nhận được lời hứa, con cháu của vua Đavít vẫn không giữ được lòng trung thành. Khi đó vào khỏang thế kỷ thứ 8 trước CN, các vua phương bắc đang đem quân tiến đánh thành Giêrusalem. Vua Giuđa lúc bấy giờ là Achaz thay vì hóan cải đời sống và tin tưởng vào Thiên Chúa, ông lại đi cầu viện đế quốc Assyri. Và để làm đẹp lòng vua của Assyri, ông đã dẹp bỏ bàn thờ của Giavê Thiên Chúa, và thay vào đó là tế đàn của các thần dân ngọai. Thậm chí, ông còn theo thói tục của dân ngọai, thiêu sinh cả con ông làm của lễ tòan thiêu.

    Trong hòan cảnh đó, Thiên Chúa đã cho tiên tri Isaia đến để kêu gọi nhà vua quay trở lại với Thiên Chúa, và đặt trọn niềm tin nơi Ngài. Chính Ngài sẽ giải thóat dân Ngài khỏi mọi sự dữ. Và như để bảo đảm cho lời của mình, vị tiên tri bảo nhà vua “hãy xin Thiên Chúa, Chúa ngươi một dấu ở dưới lòng đất hay ở trời cao”.

    Nhưng nhà vua vẫn không chịu xin, vì sợ rằng khi nhận được dấu chỉ, điều đó sẽ chứng tỏ sự sai trái của nhà vua. Ông vẫn cố chấp và tiếp tục sống trong tội lỗi của mình. Nhưng cho dù vua không xin, thì đây, Thiên Chúa vẫn cho ông một dấu chỉ để chứng tỏ lòng trung thành của Ngài:”Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Chính Thiên Chúa sẽ đến ở với dân Ngài và giải thóat họ khỏi mọi đe dọa của quân thù.

    Dấu chỉ mà tiên tri Isaia loan báo đã được thực hiện. Ezechiel đã được sinh ra, và các vua phương Bắc đã lui quân. Vị vua này mặc dù rất trung thành với Giavê Thiên Chúa, nhưng vẫn chưa phải là Đấng Messia. Cuối cùng, vào năm 587, Giuđa cũng đã mất vào tay đế quốc Babylon. Như thế, lời tiên báo của tiên tri Isaia không dừng lại ở vua Ezechiel, nhưng còn đi xa hơn, hướng đến Đấng Cứu Thế .

    II. THỰC HIỆN LỜI HỨA BAN ĐẤNG EMMANUEL

    1. Nguồn gốc của Đức Giêsu

    Theo KinhThánh, chúng ta phải xác nhận là Đức Giêsu được sinh ra bởi Đức Maria :”Đức Kitô giáng sinh trong hòan cảnh sau đây : Mẹ Người là Maria đã đính hôn với Giuse”(Mt 1,18). Đức Giêsu đã có người Mẹ còn cha Ngài là ai ? Ngài thuộc dòng tộc nào ? Mẹ Ngài ra sao ?

    Chúng ta phải tìm hiểu phong tục cưới hỏi của người Do thái. Luật Do thái phân biệt rõ ràng trong hôn nhân : việc đính hôn và cưới xin. Tuy cũng có lễ hỏi và lễ cưới nhưng giá trị và ý nghĩa khác với Việt nam chúng ta.

    * Lễ đính hôn (cũng gọi là lễ hỏi) : Thời gian đính hôn kéo dài trong một năm. Trong năm đó đôi bạn được kể như vợ chồng dù họ không có những quyền của vợ và chồng.  Lễ hỏi Việt nam chưa làm vợ chồng, còn lễ hỏi Do thái coi như thành vợ chồng. Chứng cớ là theo luật :

    . Vị hôn thê bất trung sẽ bị ném đá như vợ chính thức.

    . Vị hôn phu có chết thì vị hôn thê trở thành quả phụ.

    . Vị hôn thê cũng giống như người vợ chính thức chỉ có thể bỏ nhau bằng tờ ly dị.

    . Đứa con cưu mang trong thời gian đính hôn được coi là con chính thức.

     Như thế luật cho hai người quyền ăn ở với nhau trong thời gian này.

    Giuse và Maria đang ở trong giai đọan này.

     

    * Lễ thành hôn : Hôn nhân chính thức được cử hành vào cuối năm hứa hôn. Nếu chúng ta hiểu biết phong tục cưới gả thông thường của người Do thái thì mối quan hệ trong khúc sách này hòan tòan là bình thường và rõ ràng.

    1. Giuse là người công chính 

    Kinh Thánh gọi Giuse là người công chính:”Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo”(Mt 1,19). Chữ “công chính” đã được hiểu khác nhau và vì hiểu khác nhau nên cũng cắt nghĩa khác nhau về thái độ của thánh Giuse.

    Chúng ta biết, nơi người Do thái, không phân biệt rõ thời kỳ đính hôn và cưới hỏi. Mặc dù chưa cưới, hai người đã đính hôn cũng có thể ăn ở như vợ chồng mà không có lỗi gì đối với luật lệ. Do đó, khi người ta thấy vị hôn thê có thai, thì chỉ một mình vị hôn phu  có thể phán đóan trong việc đó là có tội hay không. Như vậy, thánh Giuse có thể hành động theo hai cách : Hoặc là tuyên bố theo sự hiểu biết tự nhiên của mình là Maria đã phạm tội ngọai tình, và như thế Maria bị mất thể diện hòan tòan; hoặc là để mặc cho người ta tin rằng ngài là cha của đứa bé sắp sinh. Giuse đã chọn giải pháp nào ?

    Thật khó nghĩ ! Một đàng ngài không muốn công khai bộc lộ ý tưởng của mình là Maria đã phạm tội, vì ngài không muốn gây tổn thương cho Maria, một thiếu nữ ngài rất yêu mến và không muốn cho cô phải đau khổ. Nhưng đàng khác, giả sử Maria đã phạm tội thật mà nhận cô làm vợ thì không được. Bởi đó buộc phải thực hành luật Maisen chăng ? Cho phép bỏ vợ khi có lý do chính đáng quan trọng.

    Đang phân vân lo nghĩ không biết xử trí ra sao thì Thiên Chúa báo mộng cho ông :”Hỡi Giuse con vua Đavít, đừng ngại nhận Maria về làm vợ mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Ông Giuse được báo mộng. Việc này thường xẩy ra trong Cựu ước khi Thiên Chúa muốn truyền cho ai một điều gì.  Vậy hôm nay, việc báo mộng cho Giuse là cách thức Thiên Chúa dùng để tỏ ra thánh ý của Ngài về việc thụ thai đồng trinh của Đức Maria.

    Sau khi được Thiên Chúa báo mộng, Giuse không còn thụ động nữa, ông tỉnh giấc và tuân hành lời thiên thần truyền. Giuse mau mắn thi hành mọi mệnh lệnh của Thiên Chúa liên quan đến Con Thiên Chúa xuống thế làm người, qua việc ngài làm bạn với Đức Maria và cha nuôi Chúa Giêsu, không ăn ở với nhau cho đến khi sinh con.

    1. Giuse, cha nuôi Đức Giêsu

    * Đưa nhập vào dòng dõi Đavít

    Khi thức dậy, Giuse đã thực hiện điều Thiên Chúa truyền”(Mt1,25). Với sự mau mắn của người công chính, hòan tòan sẵn sàng trước sự mới lạ của Thiên Chúa, Giuse đón nhận về nhà mình mầu nhiệm của Giao ước mới :”Ông rước vợ về nhà mình”, như thế, cho phép các lời tiên tri được thực hiện trọn vẹn :”Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai sinh hạ một con trai, người sẽ đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Nhờ Giuse, Đấng Cứu Thế, thụ thai trong lòng Đức Maria, bởi Thánh Thần của sự sáng tạo mới, được đưa nhập vào dòng dõi vua Đavít.

    Từ đây với người cha là thánh Giuse, Đức Giêsu thực sự thuộc hòang tộc Đavít, đúng như lời Thiên Chúa đã hứa từ muôn thuở. Đây đúng là một tin vui, một tin mừng vĩ đại không chỉ cho dân Chúa mà là cho tòan thể nhân lọai.

    Cảm nghiệm điều đó, ngay trong những lời mở đầu thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô đã tuyên bố:”Tôi đã được kêu gọi làm tông đồ và đã được tuyển chọn  để rao giảng Tin mừng Thiên Chúa. Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Đavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần… Đó là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

    * Việc đặt tên

    Khi sai sứ thần đến trấn an và báo tin vui cho thánh Giuse, Thiên Chúa còn muốn cho chúng ta biết sứ mạng của Đức Giêsu. Thực vậy, lời sứ thần giải thích tên gọi của Đức Giêsu chính là lời công bố sứ mạng của Ngài. Trong Sách Thánh, những tên gọi đều có ý nghĩa riêng như chúng ta thường nói : tên là người.  Vậy tên Giêsu, do từ Do thái Yehoshua có nghĩa là “Chúa Cứu Độ”, “Chính Ngài sẽ cứu dân mình khỏi tội”. 

    Giuse được ủy nhiệm một sứ mạng “đặt tên cho con trẻ” dành riêng cho ngài. Mà, theo H. Vulliez giải thích :”Theo luật Do thái lúc bấy giờ, đứa bé hiện hữu hợp pháp bằng tên mà người ta gọi nó, và nó thuộc dòng dõi người cha, dù đó là người cha (sinh vật học) ruột thịt hay không”.

    Theo ngôn ngữ Sêmít trong Thánh Kinh, việc đặt tên có nghĩa là “nhận lấy quyền làm cha pháp lý” của đứa trẻ. Chính qua dòng họ Giuse  mà Đức Giêsu mới trở nên “con vua Đavít, để hòan tất mọi lời hứa của Thiên Chúa”(x. Mt 1,1-17). Như vậy, tư cách con vua Đavít thực sự của hài nhi  và sự thực hiện trọn vẹn các lời tiên tri cứu thế tùy thuộc ở sự vâng lời của thánh Giuse.

    * Vai trò của thánh Giuse đối với Đức Giêsu 

    Vai trò của thánh Giuse không phải là tầm thường. Khoa tâm lý hiện đại đã tỏ cho chúng ta biết tầm quan trọng của hình ảnh người cha đối với việc tạo thành nhân cách của hài nhi. Chính nhờ gần gũi với Giuse mà Đức Giêsu sẽ học biết người cha là gi. Chính nơi ông, mà Ngài sẽ nhìn thấy  phản ánh nhân lọai tình phụ tử của Thiên Chúa. Biết nói với chúng ta rõ ràng về Cha của Ngài, phải chăng khi đã nhìn thấy Giuse  mà Ngài đã có kinh nghiệm  về sự âu yếm của người cha :”Ai trong các anh, nếu đứa con xin bánh mà lại cho một hòn đá ư ? Hay, nếu nó xin một con cá, mà lại cho nó một con rắn(Mt 7,9-10)? Ngài đã học biết rằng, các người cha dưới đất biết cho con cái mình những sự tốt lành. Ngài đã học biết điều đó nơi thánh Giuse.

    Tính cách làm cha của Giuse đối với Đức Giêsu quan trọng hơn ta vẫn thường nghĩ. Để gọi tên Đấng mà tất cả mọi người xưng là Thiên Chúa, để chỉ sự hiện diện rất gần gũi mà từ đó Ngài lãnh nhận tất cả mọi sự, hữu thể mà Ngài luôn luôn ý thức chỉ là một với Ngài. Đức Giêsu tự động dùng lại danh xưng mà Ngài âu yếm gọi Giuse :”Cha, Ba, Bố”.  Và khi phải giải thích sự thật gây kinh ngạc này với Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa mà Ngài đòi tiếp tục công trình sáng tạo, Đức Giêsu lại dùng những từ ngữ đơn giản nhất khi còn tập tành ở Nazareth, trong xưởng của bác thợ mộc Giuse :”Cho đến bây giờ vẫn làm việc, và Ta cũng vậy, Ta cũng làm việc… Điều mà Cha làm, thì Con cũng làm giống như vậy. Chính Cha yêu mến Con, và chỉ cho Con tất cả những gì Ngài làm”(Ga 5,17-20).

    Chính nơi những từ ngữ thường ngày, những từ ngữ mà Ngài dùng để diễn tả cuộc đời Ngài, những mối liên hệ của Ngài, những tình cảm của Ngài, mà Đức Giêsu muốn nói đối với Ngài, Thiên Chúa là ai. Làm sao không tìm thấy trong tình cảm của cha mẹ Ngài những từ ngữ đúng đắn nhất để nói cho chúng ta biết  mối liên hệ tuyệt đối duy nhất vốn vẫn hiện diện trong con tim Ngài:”Cha và Ta, Chúng Ta là một”(Ga 10,30) (Trích Fiches dominicales A, tr 28-29).

    III. ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ EMMANUEL 

    1. Đức Giêsu sinh ra bởi Đức Mẹ đồng trinh 

    Chủ ý của bài Tin mừng hôm nay không nhằm vào sự công chính của Giuse cho bằng sự thụ thai kỳ diệu của Đức Giêsu trong cung lòng đồng trinh của Maria do quyền năng Chúa Thánh Thần. Thông thường, nói tới sự đồng trinh của Đức Maria, người ta nghĩ tới sự đồng trinh thể chất, ít ai để ý đến sự đồng trinh về mặt tinh thần của Ngài. Cả hai mặt của sự đồng trinh ấy đều quan trọng và cần thiết. Nhưng nếu chỉ đồng trinh về mặt thể chất mà không có mặt tinh thần thì đồng trinh ấy chẳng còn ý nghĩa. Sự đồng trinh về tinh thần nơi Đức Maria quan trọng hơn rất nhiều.

    Trước mặt Thiên Chúa, đồng trinh về mặt tinh thần có nghĩa là có tâm hồn trọn vẹn hướng về Ngài, hòan tòan dâng hiến bản thân cho Ngài để hòan tòan thuộc về Ngài, không còn thuộc về chính mình nữa. Trong chiều hướng đó, Đức Maria đã sống tinh thần “tự hủy”, để hòan tòan sống cho Thiên Chúa  và tha nhân. Biểu hiện quan trọng và rõ rệt nhất là không còn coi ý riêng mình là quan trọng, thậm chí không còn ý riêng nữa,  để chỉ biết có thánh ý Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, Đức Maria cũng có thể nói như Đức Giêsu:”Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi”(Ga 5,30), hay như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,20). Trọn cuộc đời của Ngài đã chứng tỏ sự đồng trinh tinh thần ấy, được biểu hiện qua mọi hành vi của Ngài, cụ thể nhất qua hai chữ “Xin vâng” khi sứ thần truyền tin cho Ngài (JKN).

    1. Đức Giêsu là Chúa và là người thật 

    Trong bài tụng ca, thánh Phaolô đã viết:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ nhất quyết phải duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hòan trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,6-7). Ngài là Thiên Chúa mặc lấy xác phàm hèn, trở nên con người như chúng ta. Ngài cũng sống trong gia đình, có cha có mẹ, có anh em, trong xã hội có vua quan, có phép tắc, luật lệ, y trang như mọi người chúng ta. Ngài đã hòan tòan “trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”(Pl 2,7), cũng “sinh làm con của một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật”(Gl 4,4) như chúng ta, cũng “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”(Dt 5,8-9). Vì thế, Ngài “không phải là Đấng  không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội”(Dt 4,15-16). Chắc chắn Ngài có thể nói như một triết gia nào đó :”Không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với tôi”.

    Những điều của con người mà Ngài cảm nghiệm được nhiều nhất chính là đau khổ và sự chết. Dường như mọi hình thức của đau khổ Ngài đều đã cảm nghiệm : phản bội, oan ức, bị đàn áp, bóc lột, mất mát, roi vọt, nhục nhã.., Điều này làm cho chúng ta rất đuợc an ủi khi gặp đau khổ. Chúng ta nhận ra Ngài đã dùng đau khổ của chính mình để xoa dịu những đau khổ của chúng ta. Ngài đã dùng thương tích của chính Ngài để chữa lành những vết thương của chúng ta (x. 1Pr 2,2b). Nghĩ như thế, chúng ta không cảm thấy cô đơn trong đau khổ, vì chúng ta cảm thấy như Ngài đang đau khổ với chúng ta, để biến những đau khổ của chúng ta  thành một giá trị cao cả.

                                          Truyện : Đức Giêsu là người thật.

    Tiến sĩ John Coleman là Hiệu trưởng trường Đại học Haverford ở bang Pensylvania. Ông cũng là thành viên của Ban Giám đốc ngân hàng liên bang. Mới đây, ông đã dần dần từ bỏ những địa vị đặc biệt này. Vì muốn có kinh nghiệm về sự làm việc tay chân, ông đã cố gắng đào những đường mương, làm việc trên cánh đồng, thu quét rác rưởi, rửa chén đĩa. Ông đã học những gì phải làm với mồ hôi trán hơn là trí óc. Ông đã làm những công việc khó khăn và mệt nhọc, nhưng vì không có khả năng chuyên môn, lại làm việc giữa những người xa lạ, nên ông bị thải hồi làm người rửa chén đĩa. Ông đã bị thất nghiệp một thời gian, nhưng nhờ những kinh nghiệm hiện thực đó, ông đã khám phá ra  những gì mà nhiều người đang trải qua.

    Có một Vị vô cùng nổi tiếng và có ảnh hưởng hơn tiến sĩ Coleman. Tên Ngài là Giêsu Kitô, Ngài là Thiên Chúa thượng trí và tòan năng, nhưng đã chấp nhận thân phận làm người, sinh ra dưới hình hài con trẻ cách đây đã 2000 năm, mà chỉ ít ngày nữa, chúng ta sẽ hân hoan cử hành Sinh nhật của Đấng Thiên Chúa làm người đó.  Để chuẩn bị biến cố vui mừng này, chúng ta cần suy nghĩ về Đấng là Thiên Chúa thật đã trở nên con người thật (GM Arthur Tonne, Bài giảng TMCN năm A, tr 14).

    1. Muốn được Thiên Chúa ở cùng 

    Qua cách khởi đầu và kết thúc Tin mừng mình với chủ đề :”Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, thánh Matthêu, muốn nêu bật một chủ điểm quan trọng đó là : qua việc Đức Giêsu Giáng sinh, Thiên Chúa trở nên hiện diện với dân Người một cách mới mẻ đặc biệt. Để đánh giá được tính cách hiện diện mới mẻ này, chúng ta cần nhắc lại ba cách Chúa dùng để hiện diện với chúng ta.
    a) Trước hết, Chúa hiện diện với chúng ta qua việc sáng tạo, đặc biệt qua quyền năng nâng đỡ của Ngài. Chúa không chỉ tạo dựng mọi sự mà còn gìn giữ cho nó được hiện hữu nữa. Sự hiện diện của Ngài trong việc tạo dựng có thể ví như một máy chiếu xinê phóng ảnh lên trên màn hình. Máy chiếu này làm hình ảnh hiện ra trên bức màn, và hình ảnh sẽ tồn tại bao lâu máy chiếu vẫn còn lưu giữ hình ảnh đó. Trong trường hợp của Chúa cũng vậy, Ngài làm cho tạo vật được hiện hữu và tạo vật sẽ tồn tại bao lâu Chúa còn bảo tồn nó.

    b) Thứ đến, Chúa hiện diện qua lời Ngài trong Kinh Thánh. Có người mô tả Kinh Thánh như là thư tình ông bố gửi đến các con mình. Giống như một người bố trần gian biểu lộ ý nghĩ, tư tưởng mình cho con cái trong một lá thư thế nào thì Chúa cũng mạc khải tư tưởng Ngài cho chúng ta trong Kinh Thánh như vậy. Vì thế, nói thật chính xác, Kinh Thánh làm cho tâm trí Thiên Chúa trở thành hiện diện cụ thể rõ ràng, sống động đối với chúng ta.

    c) Cuối cùng, Chúa hiện diện với chúng ta qua Đức Giêsu, Con Ngài. Cùng với việc chào đời của Đức Giêsu, Thiên Chúa đã bước thêm một bước khổng lồ để tiến đến cư ngụ giữa chúng ta. Như thế, Chúa đã hiện diện với chúng ta không chỉ qua việc tạo dựng, qua lời Ngài mà còn bằng đích thân Ngài nữa (M.Link, Giảng lễ Chúa nhật A, tr 29-30).

    Chúng ta đang ở vào những ngày chót của Mùa Vọng để đón chờ lễ Giáng Sinh. Chúng ta hãy bắt chuớc thánh Giuse  mà cộng tác vào công trình cứu độ  của Chúa. Thánh Giuse đã đón nhận mầu nhiệm này với lòng tin. Thiên Chúa cần đến Ngài để Ngài đứng ra chấp nhận làm cha Chúa Giêsu trước pháp luật. Ngài đã thuận theo thánh ý Chúa để mọi công cuộc của Chúa được diễn tiến theo đúng chương trình Ngài đã ấn định.

    Chúng ta cũng phải cộng tác với Chúa để mọi công việc của Chúa được diễn tiến trong trần gian và trong từng người chúng ta theo đúng kế họach của Ngài. Chúng ta hãy làm cho mọi người cảm nhận được rằng Đấng Emmanuel đang hiện diện giữa lòai người. Ngài hiện diện nơi từng người, trong những người hèn mọn nhất trong chúng ta, để rồi chúng ta phải xác nhận rằng “Tha nhân chính là Chúa”.

                                          Truyện : Chúa đến nơi tha nhân.

    Một tác giả kể câu chuyện ngụ ngôn sau đây : Vào buổi sáng nọ, người thợ giầy thức dậy rất sớm. Anh quyết định chuẩn bị chiếc xưởng nhỏ của anh cho tươm tất rồi vào phòng khách chờ đợi cho bằng được người khách quí. Và người khách đó không ai khác hơn là chính Chúa, bởi vì tối qua trong giấc mơ, Ngài đã hiện ra và báo cho anh biết Ngài sẽ đến thăm anh trong ngày hôm sau.

    Người thợ giầy ngồi chờ đợi, tâm hồn tràn ngập hân hoan. Khi những tia nắng sớm vừa rọi qua khung cửa, anh đã nghe được tiếng gõ cửa. Lòng anh hồi hộp, sung sướng, hẳn là Chúa đến. Anh ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đang đứng trước mặt anh không phải là Chúa, mà là người phát thư.

    Sáng hôm đó là một ngày cuối đông, cái lạnh đã khiến mặt mũi , tay chân người phát thư đỏ như gấc. Người thợ giầy không nỡ  để nhân viên bưu điện  phải run lẩy bẩy ngòai cửa. Anh mời ông ta vào nhà và pha trà mời khách. Sau khi đã được sưởi ấm, người phát thư đứng dậy cám ơn và tiếp tục công việc.

    Người thợ giầy lại vào phòng khách chờ Chúa. Nhìn qua cửa sổ, anh thấy một em bé đang khóc sướt mướt trước cửa nhà. Anh gọi nó lại, hỏi cớ sự. Nó mếu máo cho biết đã lạc mất mẹ và không biết đường về nhà. Người thợ giầy lấy bút viết vài chữ để lại trên bàn báo cho người khách quí biết mình phải đi ra ngòai.

    Nhưng tìm đường dẫn đứa bé về nhà đâu phải là chuyện đơn giản và nhanh chóng. Mãi chiều tối anh mới tìm ra nhà đứa bé, và khi anh về lại nhà thì phố xá đã lên đèn.

    Vừa bước vào nhà, anh đã thấy có người đang đợi anh, nhưng đó không phải là Chúa, mà là một người đàn bà với dáng vẻ tiều tụy. Bà cho biết đứa con của bà đang ốm nặng và bà đã không thể chợp mắt suốt đêm qua. Nghe thế, người thợ giầy lại hối hả đến săn sóc đứa bé. Nửa đêm anh mới về đến nhà, anh để nguyên quần áo và lên giường ngủ.

    Thế là một ngày đã qua mà Chúa chưa đến thăm anh. Nhưng đột nhiên trong giấc ngủ, người thợ giầy nghe thấy tiếng Chúa nói với anh :”Cảm ơn con đã dọn trà nóng cho Ta uống. Cám ơn con đã dẫn đường cho Ta về nhà. Cám ơn con đã săn sóc ủi an Ta. Cám ơn con đã tiếp đón Ta ngày hôm nay”.

     

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

                                                                      

    …………………..

    An cư lạc nghiệp

    An cư lạc nghiệp là khát vọng muôn thuở của con người. Không ai muốn sống trong cảnh phập phồng lo sợ. Không ai muốn bản thân và gia đình phải đối diện với cảnh màn trời chiếu đất, phải trực tiếp đương đầu với những thảm hoạ do chiến tranh và thiên tai gây nên. Không ai muốn sống hôm nay nhưng không biết ngày mai sẽ ra sao? Bởi vậy con người dốc toàn lực và dùng đủ mọi phương tiện để duy trì và bảo vệ nền an ninh cho bản thân và gia đình. Động cơ thúc đẩy có lẽ rất khác biệt nơi mỗi người, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cá nhân cũng như xã hội, nhưng an ninh đóng vai trò quan trọng, mang tính chất sống còn trong cuộc sống con người.

    Kinh nghiệm này giúp chúng ta hiểu biết rõ ràng hơn hai nhân vật tiêu biểu được tiên tri Isaia và thánh Mátthêu nói đến. Vương quốc của vua Akhát rơi vào tình trạng chính trị rối ren đen tối nên ông phải củng cố thế lực của mình. Ông tìm đủ mọi cách bảo vệ cơ nghiệp của tổ tiên trước áp lực tấn công của quân thù. Tiên tri Isaia khuyên ông hãy đặt tin tưởng vào Thiên Chúa, không nên chỉ đặt tin tưởng vào khả năng lãnh đạo và sức lực của riêng mình. Nhưng Akhát chứng nào tật nấy, ông chủ trương: Ai nói gì thì nói, mình thì “bụng cứ rốn”! Phản ứng của ông không xa lạ với phản ứng của con người ngày nay, coi mình là rốn vũ trụ. Nếu như tôi là Akhát, tôi sẽ phản ứng giống y chang như vậy!

    Thánh Giuse là một nhân vật hoàn toàn trái ngược. Ngay từ giây phút đầu tiên ngài đã chiếm được cảm tình của chúng ta. Ngài giống như mỗi người trong chúng ta. Ngài không ôm mộng tưởng, không mơ ước giầu sang phú quý. Ngài chỉ mong muốn một cuộc sống khiêm tốn đạm bạc, một mái ấm gia đình, … Ngài là người có lòng đạo, cố gắng tuân giữ giới răn của Chúa và tổ chức đời sống theo khả năng Chúa ban. Nhưng một sự việc bất ngờ xẩy ra làm đảo lộn tất cả! Đức Maria mang thai và ngài biết rõ đó không phải là con của mình. Sự thật phũ phàng trước mắt thật khó chấp nhận. Thoạt tiên ngài suy nghĩ và phản ứng giống như chúng ta. Ngài biết rõ, sự hiểu biết và sức lực của mình có giới hạn nên ngài chấp nhận bỏ cuộc và tìm đường rút lui! Nhưng Chúa không muốn để cho ngài chọn một con đường dễ dãi. Chính lúc đến bước đường cùng thì ánh sáng của niềm tin chiếu rọi, soi sáng ngài dần dần khám phá và hiểu biết ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa. Ngài nhận biết ngoài con đường mà ngài muốn lựa chọn còn có nhiều con đường khác. Ngài được tăng cường và có đủ can đảm tiến bước bởi vì ngài xác tín rằng, có Thiên Chúa cùng đồng hành.

    Thánh Giuse là người công chính. Ngài đứng trong hàng ngũ của những người đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa, hoàn toàn đối lập với vua Akhát và nhiều người thời đó cũng như ngày nay. Các ngài đã học hỏi và nhận biết rằng: “Nhân định không bằng thiên định”. Con người dự định, toán tính, nhưng chính Thiên Chúa là Đấng lèo lái tất cả! Đôi lúc Ngài dẫn đưa dân của Ngài và mỗi người qua những nẻo đường quanh co, khó hiểu. Thoạt tiên ai cũng nghĩ đó là những bước đường cùng nhưng sự thực lại chứng minh đó là đường dẫn đến sự sống. Sau những giây phút bàng hoàng và thất vọng thánh Giuse đã trở nên sáng suốt. Tất cả đều chứng minh ngài có một đời sống nội tâm sâu xa, rất nhạy cảm và sẵn sàng lắng nghe tiếng Chúa. Con đường của Thiên Chúa thật vô phương dò thấu nhưng lòng tin giúp ngài thâm tín rằng, tất cả không phải là phí công vô ích. Mặc dầu ngài không thể thấu hiểu tất cả nhưng ngài đã sẵn sàng mạo hiểm, đáp lại lời mời gọi làm cha nuôi của Đức Giêsu. Ngài xứng đáng để chúng ta noi gương.

    Thiên Chúa không hề muốn thay thế chúng ta dự liệu, trù tính tất cả. Mỗi người trong chúng ta được Chúa ban sự tự do, có khả năng lựa chọn  tổ chức đời sống, phải tự dùng khả năng và sức lực Chúa ban để tạo cho bản thân và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Nhưng đôi lúc Ngài mời gọi chúng ta từ bỏ ý định riêng tư, đôi khi phải chấp nhận mất mát hoặc cơ hội tiến thân để có thể rảnh rang lo việc nhà Chúa. Quá lao tâm duy trì bảo vệ an ninh, quá lo toan tính toán nhiều khi làm cho cuộc sống chúng ta không còn chổ để thở. Ngược lại, Thiên Chúa muốn con người sống sung mãn. “Tên con trẻ là Emmanuel, có nghĩa là Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Ta”. Mái ấm chỉ vững bền khi có Thiên Chúa hiện diện. Con đường dẫn đến sự sống luôn luôn là con đường có Thiên Chúa cùng đồng hành.

    Lm Phêrô Trần Minh Đức

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com