spot_img
Thêm
    Trang chủCầu Nguyện & Suy NiệmChúa Nhật & Lễ TrọngCHÚA NHẬT 34 TN: ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

    CHÚA NHẬT 34 TN: ĐỨC GIÊSU KITÔ VUA VŨ TRỤ

    BÀI ĐỌC I: 2 Sm 5, 1-3

    Trong những ngày ấy, toàn thể chi tộc Israel đến cùng Đavít tại Hebron mà nói rằng: “Đây chúng tôi là cốt nhục của ngài. Nhưng từ trước đến giờ, khi Saolê đang làm vua chúng tôi, thì chính ngài đã dẫn dắt Israel. Và Chúa đã nói với ngài rằng: ‘Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel dân Ta, và sẽ trở nên thủ lãnh Israel'”.

    Vậy tất cả các vị kỳ lão Israel đều đến tìm nhà vua tại Hebron, và tại đó, vua Đavít ký kết với họ một giao ước trước mặt Chúa. Họ liền xức dầu phong Đavít làm vua Israel.

    BÀI ĐỌC II: Cl 1, 12-20

    Anh em thân mến, chúng ta hãy cảm tạ Chúa Cha, Đấng đã làm cho anh em xứng đáng lãnh phần gia nghiệp các thánh trong ánh sáng. Chúa đã cứu chúng ta thoát khỏi quyền lực u tối, đem chúng ta về nước Con yêu dấu của Chúa, trong Người chúng ta được ơn cứu rỗi nhờ máu Người, và được ơn tha tội.

    Người là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử mọi tạo vật; vì trong Người, muôn loài trên trời dưới đất đã được tác thành, mọi vật hữu hình và vô hình, dù là các Bệ thần hay Quản thần, dù là Chủ thần hay Quyền thần: Mọi vật đã được tạo thành nhờ Người và trong Người. Và Người có trước mọi loài, và mọi loài tồn tại trong Người.

    Người là đầu thân thể tức là Hội thánh, là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài. Vì chưng Thiên Chúa đã muốn đặt tất cả viên mãn nơi Người, và Thiên Chúa đã giao hoà vạn vật nhờ Người và vì Người; nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa ban hoà bình trên trời dưới đất.

    PHÚC ÂM: Lc 23, 35-43

    Khi ấy, các thủ lãnh cùng với dân chúng cười nhạo Chúa Giêsu mà rằng: “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói: “Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi”. Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: “Người này là vua dân Do-thái”.

    Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”. Đối lại, tên kia mắng nó rằng: “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao? Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn ông này, ông có làm gì xấu đâu?” Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. Chúa Giêsu đáp: “Ta bảo thật ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

    Suy Niệm 1: MỪNG CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ

    Các kỳ lão Israel đến tìm Ðavít và xức dầu phong Ðavít làm vua Israel. Câu chuyện này trong sách 2Samuel (5,1-3) mở ra viễn ảnh Vương quyền vĩnh cửu của Đấng Mêsia là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể. Như lời thiên sứ sẽ nói với Đức Maria trong biến cố truyền tin: “Thiên Chúa sẽ trao cho Người ngai vàng Đavit, tổ tiên Người, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận”…

    Thánh vịnh 121 (Đáp ca) cũng nói về viễn tượng đó, với Giêrusalem là biểu tượng của trung tâm qui tụ dân Chúa: Ngai toà của Đavit đặt ở Giêrusalem, và dân hân hoan vui mừng tiến về đó. Không chỉ dân Israel, mà toàn thể chư dân!

    Nhưng viễn tượng nói trên vẫn còn mù mờ mức nào đó, bởi trong hình dung của đa số người ta, Vương quyền của Đấng Mêsia vẫn được hiểu đơn giản theo kinh nghiệm nhân loại, nghĩa là chinh phục, khải thắng và vinh quang như con đường của các vua chúa trần gian thiết lập triều đại của mình. Trong khi đó, con đường đi đến Vương quyền của Chúa Giêsu thì khác hẳn, thậm chí hoàn toàn ngược lại. Người dành cả ‘thanh xuân’, ồ không, dành cả đời để rao giảng về Vương quốc, về Triều đại của Thiên Chúa. Và Người dứt khoát thiết lập Vương quốc, Triều đại ấy bằng cách chịu đóng đinh trên Thập giá!

    “Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: ‘Người Này Là Vua Dân Do Thái’” (x. Lc 23,35-43). Người ta chế nhạo, sỉ nhục Người bằng tấm bảng ấy, nhưng không ngờ rằng tấm bảng ấy ẩn chứa sự thật vô cùng thiết yếu. Họ không ngờ, vì như Philatô, họ không hiểu tuyên bố của Chúa Giêsu: “Nước của tôi không thuộc về thế gian này!”…

    Biết bao người đã không ngờ… Chính chúng ta ngày nay nhiều khi cũng vẫn còn không ngờ rằng con đường làm Vua của Chúa Giêsu là như thế! Nhưng đó là sự thật. Chúng ta được cứu rỗi bằng chính con đường Thập giá, bằng vị Vua chịu đóng đinh và treo lên, chứ không bằng con đường nào khác hay nhờ ai khác. Thánh Phaolô nhắc chúng ta:

    “Chúa đã cứu chúng ta thoát khỏi quyền lực u tối, đem chúng ta về nước Con yêu dấu của Chúa, trong Người chúng ta được ơn cứu rỗi nhờ máu Người, và được ơn tha tội… Người là nguyên thuỷ và là trưởng tử giữa kẻ chết, để Người làm bá chủ mọi loài” (x. Cl 1,12-20).

    Mừng Chúa Giêsu Kitô Vua vũ trụ, chúng ta ý thức lại: Nước Thiên Chúa và Triều đại Thiên Chúa là tất cả sứ mạng của chúng ta, của Giáo hội. Vâng, mục đích của hiện hữu chúng ta, hiện hữu của Giáo hội, là Sứ Mạng. Và mục đích của Sứ Mạng là Nước và Triều đại Thiên Chúa.

    “Lạy Chúa Giêsu Kitô, là Vua cai trị mọi loài; xin Chúa làm Vua cai trị lòng con suốt đời”.

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    ………………………..

    Suy Niệm 2: CHÚA GIÊSU: VUA CỦA TÌNH YÊU CỨU THẾ

    Ngày nay, chúng ta xem quan niệm về vua chúa như là một cái gì của quá khứ. Không mấy quốc gia trên thế giới còn giữ chế độ này. Nếu có thì cũng để như tượng trưng, mang tính chất truyền thống đáng lưu giữ chứ không có quyền hạn trực tiếp trên việc quản trị đất nước. Hôm nay, chúng ta cùng với Giáo Hội kính trọng thể lễ Chúa Kitô Vua. Dẫu biết rằng con người ngày hôm nay khó liên tưởng đến tư tưởng vua chúa. Nói cách cụ thể hơn, nhiều Kitô hữu cảm thấy khó để tìm thấy sự liên kết lễ này với đời sống thường ngày của mình. Chúng ta cùng dựa trên lời Chúa hôm nay để tìm ra ý nghĩa và tính hợp thời của lễ Chúa Kitô Vua cho ngày hôm nay.

    Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta câu chuyện về các chi tộc Israel đến xin Đavít làm vua của họ. Như chúng ta biết, Đavít làm vua nhà Giuđa trong 7 năm. Sau đó thì các chi tộc của nhà Israel đến gặp vua Đavít tại Khéprôn và xin vua cai trị họ (x. 2 Sam 5:1-2) và vua đã cai trị cả nhà Giuđa và nhà Israel 33 năm. Tổng cộng Đavít làm vua 40 năm. Tuy nhiên, điều đáng để chúng ta lưu ý là lời của Đức Chúa cho Đavít: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Israel, dân Ta, chính ngươi sẽ là người lãnh đạo Israel” (2 Sam 5:2). Chúng thấy toàn thể kỳ mục Israel đến gặp Đavít và tấn phong Đavít làm vua Israel. Nhưng chính Thiên Chúa là người “chỉ định” và trao quyền lãnh đạo cho vua Đavít. Chi tiết này cho thấy, quyền cai trị của vua Đavít không phải là do công trạng của mình, mà đến từ Thiên Chúa. Chi tiết này nhắc nhở về quyền lực hoặc đặc ân chúng ta có không phải là do công trạng của mình, nhưng do lòng thương của Thiên Chúa. Chỉ những người nhận ra điều này mới hiểu được ý nghĩa của thánh lễ hôm nay.

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô trình bày cho các tín hữu Côlôxê về Chúa Giêsu, Đấng mà nhờ Ngài họ “trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng” (Cl 1:12). Ngài là vị vua đến để giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, được ơn cứu chuộc và được thứ tha tội lỗi (x. Cl 1:13-14). Thánh Phaolô gọi vị vua này là Thánh Tử chí ái, Đấng có những đặc tính sau: (1) là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo (Cl 1:15); (2) Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh (Cl 1:18); (3) Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu (Cl 1:18). Ba đặc tính này cho thấy vua Giêsu là Chúa, Đấng “sáng lập” Hội Thánh và đã sống lại từ cõi chết. Ngài thống trị dân bằng cách giải thoát họ khỏi tội lỗi. Là con dân của Ngài, chúng ta có để cho Ngài giải thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi hay không?

    Chúng ta thường đọc hoặc thấy những người làm vua luôn được dân chúng tôn vinh và ca tụng. Có thể nói họ là những người “ăn trên ngồi trốc.” Tuy nhiên, trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu được trình bày như một vị vua hoàn toàn trái ngược: Ngài là một vị vua bị treo trên thập giá. Đứng trước vị vua này, có hai phản ứng hoàn toàn trái ngược nhau: đón nhận hoặc từ chối. Đây chính là trọng tâm của phụng vụ hôm nay. Trong cuộc sống, chúng ta muốn có một vị vua có thể mang lại cho chúng ta cơm lành canh ngọt hoặc nệm ấm chăn êm. Chúng ta thường trách Chúa vì không nghe tiếng chúng ta kêu khi cần đến Ngài. Nhưng chúng ta thường không để ý rằng Ngài là một vị vua đã chết cho chúng ta. Ngài đã mang lấy khổ nhục của chúng ta và mang lên cây thập giá. Ngài không chỉ mang lại cho chúng ta hạnh phúc đời này, Ngài là vị vua mang lại cho chúng ta hạnh phúc trường cửu.

    Bài Tin Mừng đưa ra hai phản ứng khác nhau trước vị vua thật khiêm nhường. Phản ứng đầu tiên là phản ứng mang tính tiêu cực, đó là thái độ bàng quan và chế nhạo: (1) “Dân chúng thì đứng nhìn, còn các thủ lãnh thì buông lời cười nhạo” (Lc 23:35); (2) “lính tráng cũng chế giễu người” (Lc 23:36); (3) một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá cũng nhục mạ Người (Lc 23:39). Một điệp khúc được những người có phản ứng tiêu cực ca lên là: “Hãy tự cứu lấy mình đi” (Lc 35, 37, 39). Nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng có phản ứng tiêu cực như trên. Chúng ta cũng kêu trách Chúa khi cuộc đời không như chúng ta mong ước. Nhiều khi chúng ta còn chế giễu Chúa hoặc nhục mà Ngài khi chúng ta chế giễu và nhục mạ anh chị em của chúng ta. Mầu nhiệm thập giá luôn là cớ vấp phạm cho nhiều người. Chỉ những ai tập trung vào Đấng chịu treo trên thập giá mới hiểu được giá trị và ý nghĩa của thập giá. Nói cách khác, tự bản chất, thập giá không có gì đáng yêu. Nhưng cái đáng yêu của thập giá đến từ tình yêu của Đấng chịu treo trên thập giá. Chính Đấng chịu treo trên thập giá biến thập giá trở thành ngai vàng của Ngài, để trên đó Ngài thống trị dân Ngài bằng tình yêu và tha thứ.

    Bện cạnh phản ứng tiêu cực của các thành phần khác nhau là lời đáp trả đầy yêu thương của người cùng bản án với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:43). Trước lời đáp này, Chúa Giêsu cho anh được chia sẻ trong vương quốc của Ngài như người đầy tớ khôn ngoan đợi chủ về: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43). Điều đáng làm chúng ta lưu ý trong thái độ của người trộm biết ăn năn là anh ta nhận ra lỗi lầm của mình và cần được tha thứ: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ! Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!” (Lc 23:40-41). Anh không chỉ nhận ra tội của mình, anh còn nhận ra sự vô tội của Chúa Giêsu. Có thể nói, anh nhận ra Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh và xoá tội trần gian nên anh đã tin tưởng nài xin Ngài và anh đã nhận được điều anh xin. Mỗi ngày, chúng ta xin Chúa cho chúng ta biết nhận ra thân phận yếu hèn của mình và nhận ra Chúa Giêsu, Đấng đến để mang lại cho chúng ta tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa Cha.

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………..

    Suy Niệm 3:  ĐỨC GIÊSU LÀ VUA VŨ TRỤ

    A. DẪN NHẬP

    Hôm nay, Chúa nhật cuối năm Phụng vụ, Giáo hội dành để biệt kính Đức Giêsu Kitô, Vua vũ trụ. Như vậy, năm Phụng vụ được mở đầu bằng 4 Chúa nhật Mùa Vọng, chuẩn bị đón nhận Con Chúa giáng trần; và Chúa nhật 34 thì tôn kính Đức Giêsu là vua cao cả của vũ hoàn. Nhưng danh hiệu và vương quyền của Ngài như thế nào ? Dù Kinh Thánh kể rằng Ngài là “dòng dõi” vua Đavít, nhưng phải chăng Ngài cũng chỉ tương tự như Đavít ?

    Trong bài Tin mừng hôm nay, thánh Luca mô tả cảnh Đức Giêsu bị treo trên cây thập giá giữa hai tên trộm cướp và bị mọi người nhạo báng. Hình ảnh này tạo cho ta một cảm tưởng rằng Ngài dường như bị thất thế, bị kết án như một tên tử tội, bị lăng mạ bởi chính các “thần dân” của mình. Nhưng với con mắt đức tin chúng ta thấy chính lúc ấy là lúc thành công, chính trong lúc ấy Ngài được Chúa Cha phong vương cho Ngài và Ngài đã làm lễ đăng quang trên chính thập giá đó. Ngài đã thành công ở chỗ hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc loài người, đã hòa giải nhân loại với Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa Cha phong vương cho Ngài và đặt mọi sự dưới chân Ngài để Ngài làm bá chủ muôn loài. Ngài thực sự là vua và còn là vị Vua Cao Cả, độc nhất vô nhị, mãi mãi vượt trên mọi vua chúa ở trần gian và triều đại Ngài sẽ vô cùng cô tận.

    Khi sinh thời, Đức Giêsu đã phán :Ta là đường, là sự thật và là sự sống”, ai theo Ngài thì không sợ bị lạc lối. Vì thế, chúng ta hãy công nhận vương quyền của Ngài, tin theo Ngài và góp phần xây dựng vương quốc Ngài bằng đời sống tin yêu và phục vụ. Con đường về Nước Trời chính là nỗ lực chu toàn bổn phận đối với bản thân, gia đình và xã hội. Không có bổn phận nào là đơn giản và dễ dãi. Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn thấu hiểu và phù trợ ta qua lời chuyển cầu của Đức Maria và các thánh. Đức Kitô đã rộng mở cánh cửa tình yêu bằng hy sinh trọn vẹn của Ngài cho chúng ta.


    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : 2Sm 5,1-3.

    Đoạn này thuật lại cuộc phong vương lần thứ hai cho Đavít. Sau khi vua Saulê chết, tiên tri Samuel đã nhân danh Thiên Chúa xức dầu cho Đavít để ông làm vua các chi tộc ở Giuđêa. Sau một thời gian, vì mộ mến tài đức của Đavít, các chi tộc miền Bắc  vốn trung thành với dòng tộc vua Saulê cũng phong Đavít làm vua nữa. Từng bước một Đavít đã trở nên vua của 12 chi tộc Israel. Nhờ bản lĩnh hiếm có, ông đã giữ cho Israel được thống nhất.

    Đức Kitô là Đavít mới nhờ thập giá  sẽ kiện toàn sự thống nhất hoàn hảo và mãi mãi của dân Thiên Chúa.

    + Bài đọc 2 : Cl 1,12-20. 

    Thánh Phaolô trích dẫn một bài thánh thi trình bầy địa vị của Đức Giêsu Kitô. Theo đoạn thư này, tư tưởng được trình bầy cho tín hữu Côlôssê như sau :
    – Phải cảm tạ Thiên Chúa Cha, Đấng đã qui tụ họ về Vương quốc của Con Người.
    – Địa vị tối thượng của Đức Kitô : Ngài vượt trên vũ trụ vì Ngài là Đấng sinh thành ra vũ trụ và cùng đích của muôn loài.
    – Đức Giêsu là nguồn mạch cứu độ vì Ngài đã làm hòa vũ trụ với Thiên Chúa.
    Như vậy Ngài đóng vai trò trung tâm và là Đấng trung gian duy nhất thâu tóm mọi kế hoạch của Thiên Chúa Cha.

    + Bài Tin mừng : Lc 23,35-43.

    Trong bài trình thuật này, thánh Luca mô tả Đức Giêsu chịu treo trên thập giá với đám khán giả hỗn độn.
    Phía dưới chân thập giá có những khán giả :
    – Dân chúng nhìn một cách bàng quan như không liên quan gì đến mình.
    – Các thủ lãnh Do thái chế nhạo :”Hắn đã cứu người khác thì hãy cứu lấy mình đi, nếu hắn là Đức Kitô”.
    – Lính canh cũng chế diễu :”Nếu ông là vua dân Do thái thì hãy cứu lấy mình đi”.
    Trên đầu Ngài có bảng chữ : Đây là vua dân Do thái (INRI).
    Bên cạnh Ngài là hai tên trộm : một tên hùa theo đám đông chế nhạo Ngài, tên kia thì công nhận Ngài là vua.
    Hình ảnh nói lên hai tên trộm lành và dữ này cho ta thấy rằng  ơn cứu độ đến từ Đấng bị đóng đinh. Việc Đức Kitô nhận người trộm lành vào vương quốc Ngài, là dấu chỉ tất cả các tín hữu tin vào Chúa sẽ được vào Nước Trời.
    Qua cái chết của Đức Kitô,”Vua người Do thái”, Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô trở nên nguồn suối ơn cứu chuộc cho cả và loài người ta.

    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

                                           Đức Giêsu là Vua chúng ta

    I. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA

    1. Kinh Thánh hé mở cho chúng ta

    Trong chu kỳ năm Phụng vụ, đã có ba ngày Giáo hội long trọng nhắc đến tước hiệu “Vua” của Đức Kitô, tuy không rõ ràng tôn vinh tước hiệu ấy..

    – Lần thứ nhất, trong ngày lễ Hiển linh :”Khi Đức Giêsu sinh ra tại Belem, thời vua Hêrôđê trì vì, có mấy nhà đạo sĩ từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi :”Đức vua dân Do thái mới sinh ra hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Người”(Mt 2,1-2).

    – Lần thứ hai trong Tuần Thánh, với việc Đức Giêsu long trọng vào thành Giêrusalem (Mc 11,1tt). Rồi trước tòa án Philatô, ông cho Đức Giêsu ngồi ở Gabata, ghế dành riêng cho quan tòa. Như vậy, vô tình Philatô công nhận Ngài là vua. Chính Ngài cũng khẳng định :”Tôi là vua dân Do thái”(Ga 18,37). Philatô cũng truyền cho người ta  viết tấm bảng trên đầu thập giá với hàng chữ :”Giêsu Nazareth Vua dân Do thái”(Ga 19,19). 

    – Lần thứ ba, trong ngày Đức Giêsu lên trời, Hội thánh tôn vinh vua oai phong đi vào vinh quang và chờ đợi ngày Người lại đến (Mc 16,19) để phán xét kẻ sống và kẻ chết trong ngày cánh chung.

    1. Nhiều người công nhận Ngài là vua

    Trong đoạn Tin mừng ta thấy người ta vô tình hay hữu ý nhận Đức Giêsu là vua : Dân chúng nói Ngài là vua – Kỳ mục nói Ngài là vua – Philatô viết Ngài là vua – Kẻ trộm lành cũng tuyên xưng Ngài là vua – cùng cả và trời đất cũng nói lên Ngài là vua, thì chắc chắn Ngài là vua và Ngài phải là vua nữa.

    Chúng ta có thể trích ra vài câu Kinh Thánh để làm chứng :
    – Câu 37 : “Nếu ông là vua dân Do thái, ông hãy cứu mình đi”.
    – Câu 38 : Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy lạp, La tinh và Do thái như sau :”Người này là vua dân Do thái”.
    – Câu 42 : “Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”.
    Các câu này nói lên vương quyền của Đức Kitô, Luca nhắc đi nhắc lại để nêu cao vương quyền đó.

    1. Ngày đăng quang của Đức Giêsu

    Nghi thức phong vương thường là thầy thượng phẩm nhân danh Thiên Chúa xức dầu tấn phong ai làm vua trước mặt đông đảo dân chúng chứng kiến và nhiệt liệt tung hô (Bài đọc 1).
    Nhưng, nghịch lý thay, Đức Giêsu được phong vương trên thập giá với bản án trên đầu :”Đây là vua dân Do thái”.
    Ngai vàng là cây thập giá. Từ trên cao, Chúa nhìn xuống thần dân, giang hai tay ra  để ôm lấy dân Ngài.
    Vương miện là vòng gai cuốn trên đầu.
    Áo cẩm bào là thân hình trần trụi ô nhục.
    Những người tham dự : kẻ thù, Mẹ và một số môn đệ.
    Tiếng tung hô là những tiếng đả đảo :”đóng đinh nói đi”, và những tiếng khóc nức nở của người thân.
    Cảnh trí : núi Sọ và bầu trời u ám.
    Diễn từ nhận chức: “Lạy Cha xin hãy tha cho họ” và sau cùng :”Mọi sự đã hoàn tất”. 

    Trước đây Đức Giêsu đã từng tuyên bố :”Khi nào Ta bị treo lên, Ta sẽ kéo mọi người lên với Ta”(Ga 12,32). Trên thập giá, kẻ trộm lành đã nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu thế, là Vua vũ trụ, anh đã nhận ra tội lỗi của mình, tỏ lòng sám hối và đã thưa với Đức Giêsu :”Lạy Ngài, khi nào về Nước Ngài, xin nhớ đến tôi”(Lc 23,42) và như vậy anh muốn thuộc về vương quốc Thiên Chúa. Và Đức Giêsu hứa với  anh:”Ta bảo thật ngươi :”Ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”(Lc 23,43).


    II. THẾ NÀO LÀ VUA ?
     

    Theo quan niệm Nho giáo, người cầm quyền chính trị là vua. Vua được gọi là Con Trời hay Thiên tử. 

    Chữ VƯƠNG (Vua) gồm có 3 nét ngang và một nét dọc, Ba nét ngang là chữ Tam hay quẻ Càn, tượng trưng cho Tam tài hay ba đạo : Thiên đạo, Địa đạo và Nhân đạo. Sổ dọc đứng giữa ngụ ý Vua là kẻ thụ mệnh Trời, đứng ra dung hòa ba đạo : Trời, Đất và người. Dung hòa ba đạo ấy  thành một duy nhất. Khổng Tử nói :”Nhất quán tam vi vương” là thế.

    Du khách đến Huế không thể quên được đàn Nam giao, cũng như đến Bắc kinh  không thể bỏ qua Điện Trời. Chính nơi đây, nhà vua thay mặt toàn dân tế Trời.

    Tại Huế, đàn Nam giao, cửa Ngọ môn và Điện Thái hòa cùng nằm ngay trên một đường thẳng.
    Điện Thái hòa là nơi vua cùng triều đình lo việc phục vụ dân chúng.

    Cửa Ngọ môn xây hướng về nam, nơi mặt trời lên cực điểm, vào giờ Ngọ, tức là 12 giờ trưa, giờ mặt trời “đứng bóng”, giờ mà hình và bóng nên một.

    Từ điện Thái Hòa, qua Ngọ môn, vua sẽ tiến thẳng về phía nam để đến đàn Nam giao, thay dân tế trời. Sau khi ăn chay nằm đất, vua sẽ tiến lên lễ đàn.  Trước tiên vua sẽ lên đàn hình vuông tượng trưng đất, sau đó mới lên đàn hình tròn, tượng trưng Trời để dâng lễ tế.

    Đức Kitô Vua vũ trụ, Vua của chúng ta, là chính Mặt Trời đúng ngọ, là Mặt Trời lên cực điểm, và Ngài cũng muốn chúng ta nên một với Ngài, như hình và bóng nên một vào giờ chính ngọ.  Đức Kitô, Vua vũ trụ, Vua chúng ta đã thay chúng ta  dâng lễ cho Chúa Trời, và nay, bên cạnh Chúa Cha, vẫn hằng cầu thay nguyện giúp cho chúng ta :”Đức Giêsu, chính vì Người hằng sống muôn đời, nên phẩm vị tư tế của Người tồn tại mãi mãi. Do đó, Người có thể đem ơn cứu độ vĩnh viễn cho những ai nhờ Người mà tiến lại gần Thiên Chúa. Thật vậy, Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta”(Dt 7,24-25).

    Người Việt nam chúng ta rất kính trọng vua. Người dân mình kính vua vì vua là “Thiên Tử”, là Con Trời, là người có “thiên mệnh”, là “Dân chi phụ mẫu” – cha mẹ của dân. Một vị vua sẽ được kính tôn là minh quân và thiên tử  nếu vị ấy thực sự thương dân như cha mẹ thương con, xả thân lo cho dân cho nước như cha mẹ hy sinh cho con cái, đôi khi còn dám nghĩ “hay để trẫm nộp mình cho giặc để cứu muôn dân” , như xưa kia vua Trần Nhân Tông đã làm !

    Vua Kitô của chúng ta không những là “Thiên tử” trong tước hiệu, mà còn là “Con Trời” trong bản tính.  Mừng kính, tôn vinh Chúa Giêsu là vua vũ trụ, chúng ta cũng được mời gọi làm vua như Ngài. Chúng ta là Alter Christus (Chúa Kitô khác), là Đức Kitô toàn thể, là nhiệm thể Đức Kitô. Chúng ta có nhiệm vụ hầu hạ mọi người, dấn thân phục vụ đồng loại.

    III. ĐỨC GIÊSU LÀ VUA CHÚNG TA 

    1. Tại sao lại gọi Đức Giêsu là vua ? 

    Chúng ta thường nghe người ta nói : Sư tử là vua vì nó là con vật mạnh mẽ nhất trong muôn loài thú. Ta cũng thấy người ta gọi ông vua dầu lửa, vua thép, vua nhạc rock… Đó là những nhân vật tài giỏi nhất, làm bá chủ về một lãnh vực nào đó. Tương tự như thế, Đức Giêsu được gọi là “vua”, vì Ngài là một con người hoàn hảo nhất, cao thượng nhất, tài giỏi và quyền năng nhất. Nhờ đã hạ mình vâng lời chịu chết, một cái chết thập giá, mà Ngài đã được Thiên Chúa siêu tôn và ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu là :”Đức Giêsu Kitô là Chúa”(x. Pl 2,8-9).

    1. Vương quyền của Đức Kitô 

    Thiên Chúa đã đặt Đức Giêsu làm vua vũ trụ, đặt mọi sự dưới quyền điều khiển của Ngài. Ngài là vua vĩnh cửu và truyệt đối, vương quyền Ngài không có giới hạn. Chúng ta vẫn tuyên xưng trong kinh Tin kính:”Người lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, Nước Người sẽ không bao giờ cùng”! Vương quốc của Ngài không bị giới hạn bởi không gian và thời gian như các vua chúa ở trần gian này, nước Ngài là nước thiêng liêng và vĩnh cửu.

                                          Truyện : Vua Cảnh Công nước Tề.

    Vua Cảnh Công nước Tề, một hôm lên chơi núi Ngưu Sơn. Nghĩ rằng có ngày sẽ phải chết và giang sơn gấm vóc lại lọt vào tay kẻ khác, vua liền trào nước mắt thương tiếc. Đoàn tùy tùng thấy vua khóc cũng khóc theo. Duy chỉ có Án Tử là chúm miệng cười. Vua chau mày hỏi :

    – Tại sao ai cũng khóc cả, mà nhà ngươi lại cười ?
    Án Tử trả lời :
    – Nếu các đời vua trước mà còn sống, thì vua ngày nay hẳn còn phải mặc áo tơi nón lá. Nhờ thế sự thăng trầm mà nay đến lượt vua được mặc áo gấm, đội mũ ngọc. Thế mà vua lại khóc. Thấy Đấng làm vua bất nhân, bầy tôi siểm nịnh, tôi không cười sao được ?

    1. Đức Giêsu là vua thế nào ? 

    Cứ nhìn vào lịch sử nhân loại sẽ thấy vua Trụ và vua Kiệt là những hôn quân. Một Tần Thủy Hoàng bạo ngược đến độ đốt sách, giết các nhà trí thức, học trò giỏi trên 2000 mạng để dễ bề cai trị.

    Một Néron hung tàn vì thỏa mãn lòng kiêu căng  đã đốt sạch đế đô La mã để có cớ xây lại huy hoàng hơn.

    Một Napoléon tham vọng đã đẩy hàng triệu người vào cái chết và gần đây .

    Một Hitler hiếu chiến hiếu sát đã lôi kéo cả thế giới vào một cơn lốc chém giết, tàn phá nhau kinh khủng.

    Và biết bao vua chúa quan quyền khác đã cai trị thần dân bằng cách bắt họ lụy phục mình hơn là phục vụ họ.

    Vương quyền dầu lớn lao, tuyệt đối,  nhưng Đức Giêsu trước sau chỉ có một đường duy nhất là yêu thương và phục vụ mà thôi. Chính vì tình yêu vời vợi như thế, Đức Kitô đã chấp nhận  chết cho thần dân của mình. Ngài hiến thân hy sinh cho cả Hội thánh. Như vậy, qua cuộc hiến tế của Ngài, chúng ta nhận ra, vua Kitô không chỉ là Vua hiền lành, nhân từ, Ngài còn là vị vua hạ mình đến tận cùng. Đến nỗi khi nhìn ngắm  sự hạ mình của Ngài trong cuộc hiến tế thương đau, ta chỉ còn biết lặng người đi, chiêm ngắm, thờ lạy, cảm tạ, chúc tụng, nguyện một lòng mang ơn Ngài và trung thành theo Ngài đến trọn cuộc đời.

                                          Truyện : Chiếc nhẫn.

    Cách đây không lâu, những người thợ lặn đã phát hiện ra một con tầu  bị chìm cách đây 400 năm ngoài biển khơi ở vùng phía bắc Ireland. Một trong những kho tàng họ đã tìm thấy trên tầu là một chiếc nhẫn cưới của một người đàn ông. Khi họ đánh bóng, họ thấy trên mặt chiếc nhẫn khắc hình một bàn tay  đang nắm giữ một trái tim. Phía dưới có khắc hàng chữ như sau :”Em không còn gì hơn để cho anh”(I have nothing more to give you). Trong tất cả những kho tàng đã tìm thấy trên con tầu, không có sự gì làm cảm động những người thợ lặn cho bằng chiếc nhẫn và những lời cao đẹp của tình yêu đó.

    Hàng chữ được khắc trên chiếc nhẫn –“Ta không còn gì để cho con” – có thể được đặt trên thập giá của Đức Giêsu. Vì từ trên thập giá đó, Ngài đã cho chúng ta tất cả những gì Ngài có. Ngài cho chúng ta tình yêu và mạng sống. Ngài cho chúng ta tất cả những gì một người có thể trao ban cho người mình yêu :”Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu”(Ga Ga 15,13). Chúa Giêsu Kitô là Vua Tình yêu.

    1. Ai là vị vua xứng đáng nhất ? 

    Trong bài đọc 2, thánh Phaolô trích dẫn một bài thánh thư trình bầy địa vị của Đức Giêsu Kitô : Đức Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu mà muôn vật được tạo thành và nhờ cái chết của Ngài trên thập giá mà mọi người được giao hòa lại với Thiên Chúa :

    Thiên Chúa đã làm cho Đức Kitô chỗi dậy từ cõi chết và đặt bên hữu Ngài trên trời. Như vậy, Ngài đã tôn Đức Kitô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội thánh; mà Hội thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn”(Ep 1,20-23). 

    Như thế, Đức Giêsu là vua tối cao trên toàn thể vũ trụ, Ngài là người xứng đáng nhất để nhận lấy cái vinh dự đó.

                                          Truyện : Người xứng đáng nhất.

    Vào thời thập tự viễn chinh, nhằm bảo vệ thánh địa và đảm bảo an ninh cho khách hành hương, vua Philipphê của nước Pháp đã làm một cử chỉ lạ thường. Trước mỗi lần lên đường, ông tháo gỡ triều thiên đang đội trên đầu, rồi đặt nó lên một chiếc bàn và ghi dòng chữ như sau :”Dành cho người nào xứng đáng nhất”.

    Sau đó, ông qui tụ tất cả tướng lãnh, các hiệp sĩ, những người hầu cận lại trước mặt ông và yêu cầu họ hãy quên ông là vua và là người chỉ huy của họ. Ông nói với mọi người rằng chiếc vương miện được dành cho người nào tỏ ra xứng đáng nhất trong cuộc chiến đấu.

    Cuộc viễn chinh đã hoàn tất cách vẻ vang, mọi người hát khúc khải hoàn trở về quê hương. Họ tụ tập chung quanh vương triều và một tướng lãnh tiến lại cầm lấy triều thiên  đội lên đầu của Philpphê và nói :”Tâu bệ hạ, bệ hạ là người xứng đáng nhất”.

    Chỉ có một người xứng đáng nhất được tuyên xưng tước hiệu là vua, đó là Đức Giêsu Kitô. Chỉ có mình Ngài là vua đích thực, bởi vì duy mình Ngài mới có thể mang lại sự sống cho con người, duy mình Ngài là chủ của lịch sử nhân lọai, duy mình Ngài là Đấng xứng đáng đội triều thiên vương giả. Ngài là vua duy nhất và đúng nghĩa nhất. Ngài là vua, không những vì Ngài là Đấng trao ban sự sống, mà còn vì Ngài đã thể hiện vương quyền một cách đúng nghĩa nhất.


    IV. HÃY TIN THEO ĐỨC KITÔ VUA

    1. Chấp nhận vương quyền của Chúa 

    Hôm nay mỗi người cần tự hỏi mình có chấp nhận vương quyền của Chúa không ? Ta có để cho Chúa làm chủ tâm hồn và đời sống chưa ? Ta tuyên xưng và loan truyền vương quốc của Chúa thế nào ? Nhận Chúa là vua vũ trụ xem ra là một việc dễ dàng, còn để Chúa làm chủ tâm hồn và đời sống xem ra không phải là một việc dễ dàng đâu.

    Đức Giêsu đã được Thiên Chúa Cha phong làm vua vũ trụ và dĩ nhiên cũng là vua lòng mọi người. Chúng ta chỉ có hai thủ lãnh để theo : một là Chúa Giêsu, hai là ma qủi. Chúng ta phải chọn một trong hai, hoặc là vị này hoặc là vị kia, là Chúa hay là ma qủi. Trong vấn đề này chúng ta không thể trung lập để “bắt cá hai tay”, bởi vì người ta thường nói :

                                          Một nhà hai chủ không hòa,
                                       Hai vua một nước, ắt là không yên. 

    Vậy chúng ta phải theo vị thủ lãnh nào ? Chắc chắn chúng ta chọn Đức Giêsu là vua bởi vì tất cả chúng ta  đã được chịu phép rửa tội. Qua phép Rửa tội, mỗi người chúng ta được thông phần cái chết và sự sống của Chúa Giêsu, được tham dự vào chức năng làm vua của Chúa Kitô. Đúng là : “Con vua thì lại làm vua, con bác sãi chùa thì quét lá đa (tục ngữ).

     

    1. Làm cho vương quốc Ngài phát triển 

    Ngày xưa, tiên tri Giêrêmia cũng nhắc đến những yêu tố làm cho vương quyền Thiên Chúa phát triển qua sự nhân nghĩa, công bình và chính trực (Gr 9,23). Ngày nay, Giáo hội cũng thúc giục chúng ta  phải làm cho vương quốc Ngài được phát triển nơi mọi người, mọi dân tộc:”Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến”. Vì thế, trong hiến chế Lumen gentium, công đồng Vatican II dạy :

    Vì thế, với ân huệ của Đấng sáng lập, và trong khi trung thành tuân giữ các giới răn bác ái, khiêm nhường và từ bỏ, Giáo hội đã lãnh nhận sứ mạng truyền giáo và thiết lập Nước Chúa Kitô và Nước Thiên Chúa trong mọi dân tộc; Giáo hội là mầm mống và khai nguyên Nước ấy trên trần gian. Đang lúc từ từ phát triển, Giáo hội vẫn khát mong Nước ấy hoàn tất  và thiết tha hy vọng, mong ước kết hợp với vua mình trong vinh quang”(L.G. đ 5).

    Sách Khải huyền đã ca ngợi :”Lạy Đức Kitô, Vua vũ trụ, chỉ có Ngài mới xứng đáng nhận vương quyền, vinh quang và vinh dự, vì “Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào cứu chuộc muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước, mọi dân”(Kh 5,9). 

    Giáo hội đặt lễ Chúa Kitô Vua vào cuối năm phụng vụ như một lời tuyên xưng rằng Chúa là một Vương tướng mà chúng ta hết thảy quân đội dưới bóng cờ Ngài, và Ngài hướng dẫn tất cả về cùng Chúa Cha. Ngài đã chịu đau khổ nhưng Ngài đã toàn thắng trong vinh quang.

    Ngày xưa, trên đầu cây thánh giá có một tấm bảng ghi :”Đây là vua dân Do thái”, khiến người ta qua lại mỉm cười khinh chê. Ngày nay cả Giáo hội tôn vinh, giữa công trường thánh Phêrô, có một cột đá khổng lồ cao 25 mét, ngày xưa ở một đền bụt thần được đưa về đây để tượng trưng cho sự toàn thắng của Chúa Cứu thế, dưới cây thánh giá có khắc ba hàng chữ bằng tiếng La tinh :

    CHRISTUS VINCIT: Chúa Kitô toàn thắng.
    CHRISTUS REGNAT : Chúa Kitô quản suất.
    CHRISTUS IMPERAT : Chúa Kitô thống trị.
    Đó là những lời tung hô của Giáo hội trong ngày lễ hôm nay.

    Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

    ………………………

    Suy Niệm 4: Đức Giêsu Vua tình yêu

    Chúng ta thường nghe những thành ngữ như: “Chuyện đó trước giờ vẫn vậy; Chuyện đó không thể nào khác được” hay là: “Chuyện đó hoàn toàn bình thường mà”. Có lẽ đây là một chiếc đèn đỏ luôn chiếu sáng báo động giới hạn vì đó thường là những lý lẽ bất di bất dịch. Chúng tạo nên một sức ảnh hưởng rộng lớn mặc dù không được kiểm chứng rõ ràng. Thực tế có những lý lẽ chúng ta cảm thấy nực cười nhưng đôi lúc hậu quả không thể lường trước được.

    Dân Do thái trước giờ luôn quả quyết Thiên Chúa là vua duy nhất của họ. Nhưng rồi với thời gian họ lại cần một ông vua giống như những dân tộc khác. Sau một thời gian ai cũng phải nhìn nhận, dân Do thái có vua cũng là chuyện bình thường. Trải qua những thăng trầm của các triều đại vua chúa họ lại khao khát một nhà vua chân chính giúp muôn dân an cư lạc nghiệp và mở mang bờ cõi. Vị vua mà người Do thái mong đợi chính là Đấng Cứu Thế. Họ luôn khắc khoải chờ đợi sự xuất hiện của Ngài. Một ngày kia khi Đức Giêsu công khai rao giảng, họ đã nhiều lần tự hỏi, phải chăng đây chính là Đấng họ mong đợi. Họ muốn tôn phong Đức Giêsu làm vua nhưng khi họ nhận biết Ngài không giống như lòng mong ước, họ liền trở mặt và la ó: “Đóng đinh nó vào thập giá”. Danh hiệu “Đây là Vua người Do thái” mà quan Philatô ra lệnh gắn vào thập giá là sự giễu cợt và một nỗi nhục dành cho người Do thái. Đấng chịu chết trên thập giá hoàn toàn khác với Đấng Cứu Thế mà quan quyền đạo cũng đời đã loan báo. Lời chế nhạo của binh lính: “Nếu ông là vua dân Do thái thì hãy cứu mình đi” hay lời nhục mạ của tên gian phi đều xác minh rằng: Vua người Do thái chỉ là một ý tưởng bị chốt, một định kiến  không thể thay đổi được.

    Đức Giêsu sống trong niềm xác tin Thiên Chúa là vua duy nhất đầy quyền năng. Đây không phải là lời tuyên xưng trên môi miệng mà là một sự thật hiển nhiên. Nhưng Ngài hoàn toàn khác với những vị vua khác. Ngài là vị vua thống trị dựa trên nền tảng của tình yêu. Ngài mang những tố chất của một vị mục tử, sẵn sàng hiến thân vì đoàn chiên. Đoàn chiên nhận biết Ngài và đi theo Ngài. Nếu như có con nào lạc lối, Ngài sẵn sàng để lại 99 con khác nơi hoang địa đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm thấy nó. Ngài là cửa duy nhất của chuồng chiên. Chỉ có ai đi qua Ngài mà vào thì mới được cứu độ. Mỗi một con chiên của Ngài đều biết rõ: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (Tv 23,1). Thật không kinh ngạc khi người ta xác nhận, hình ảnh cũ kỹ nhất của Đức Kitô chính là hình ảnh Chúa Chiên Lành. Những thế hệ Kitô hữu đầu tiên đã đổ máu đào để minh chứng.

    Ngày lễ Đức Giêsu Kitô Vua Vũ Trụ năm nay là ngày mừng sinh nhật 100 tuổi. Đức giáo hoàng Piô 11. đã chọn ngày chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ và ban hành cho giáo hội hoàn vũ lọng trọng mừng lễ này. Ngày tận thế cũng là ngày Đức Giêsu như một nhà vua xuất hiện và như vị thẩm phán tối cao xét xử kẻ sống cũng như kẻ chết. Ngài là Đấng hoàn tất mọi sự. Những ai tới công trường thánh Phêrô ở Roma đều đọc được hàng chữ: “Christus vincit – Đức Kitô chiến thắng”. Chúng ta hãy phục Đức Giêsu trong tình yêu để có thể lắng nghe lời Ngài nói: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

                                                                      

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com