BÀI ĐỌC I: Xp 3, 14-18a
Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn! Chúa đã rút lại lời kết án ngươi và đã đẩy lui quân thù của ngươi. Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa. Trong ngày đó, ở Giêrusalem thiên hạ sẽ nói rằng: Hỡi Sion, đừng sợ, tay ngươi sẽ hết rã rời! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng. Những kẻ hư hỏng bỏ lề luật, Ta sẽ quy tụ họ lại, vì họ cũng là con cái ngươi.
BÀI ĐỌC II: Pl 4, 4-7
Anh em thân mến, anh em hãy vui luôn trong Chúa! Tôi nhắc lại một lần nữa: anh em hãy vui lên! Ðức ôn hoà của anh em phải sáng tỏ trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô.
PHÚC ÂM: Lc 3, 10-18
Khi ấy, dân chúng hỏi Gioan rằng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?” Ông trả lời: “Ai có hai áo, hãy cho người không có; ai có của ăn, cũng hãy làm như vậy”. Cả những người thu thuế cũng đến xin chịu phép rửa và thưa rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?” Gioan đáp: “Các ngươi đừng đòi gì quá mức đã ấn định cho các ngươi”. Các quân nhân cũng hỏi: “Còn chúng tôi, chúng tôi phải làm gì?” Ông đáp: “Ðừng ức hiếp ai, đừng cáo gian ai; các ngươi hãy bằng lòng với số lương của mình”. Vì dân chúng đang mong đợi và mọi người tự hỏi trong lòng về Gioan rằng: “Có phải chính ông là Ðức Kitô chăng?” Gioan trả lời cho mọi người rằng: “Tôi lấy nước mà rửa các ngươi, nhưng Ðấng quyền năng hơn tôi sẽ đến, – tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, – chính Người sẽ rửa các ngươi trong Chúa Thánh Thần và lửa. Người cầm nia trong tay mà sảy sân lúa của Người, rồi thu lúa vào kho, còn rơm thì đốt đi trong lửa không hề tắt!” Ông còn khuyên họ nhiều điều nữa khi rao giảng tin mừng cho dân chúng.
Suy Niệm 1: NIỀM VUI TIN MỪNG, NIỀM VUI CÓ CHÚA
Chúa nhật thứ 3 Mùa Vọng có một âm hưởng vui mừng hân hoan rất rõ, như chúng ta nghe từ hai Bài đọc I và II, cũng như Đáp ca. Đây không phải niềm vui ‘nhất thời’, kiểu như giờ ‘nghỉ giải lao’ hay khoảnh khắc ‘bồi dưỡng’ xen giữa một quá trình làm việc vất vả. Đúng hơn, âm hưởng niềm vui này muốn nhắc chúng ta về niềm vui nền tảng của đời sống đức tin, niềm vui ‘tứ thời’, bất luận hoàn cảnh nào trong đời sống, bởi đây là NIỀM VUI CÓ CHÚA và NIỀM VUI CỦA CHÚA!
Như trong sách Xô-phô-nia: “Hỡi thiếu nữ Sion, hãy cất tiếng ca! Hỡi Israel, hãy hoan hỉ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy hân hoan và nhảy mừng hết tâm hồn! … Vua Israel là Chúa ở giữa ngươi, ngươi không còn sợ khổ cực nữa”… “Hỡi Sion, đừng sợ, tay ngươi sẽ hết rã rời! Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng mạnh mẽ ở giữa ngươi, chính Người cứu thoát ngươi. Người hân hoan vui mừng vì ngươi. Người cảm động yêu thương ngươi, và vì ngươi, Người sung sướng reo mừng” (x. Xp 3,14-18a).
Đáp ca, trích từ sách Isaia, càng cô đọng ý nghĩa về ‘niềm vui có Chúa’: “Hãy nhảy mừng và ca ngợi, vì Ở GIỮA NGƯƠI CÓ Ðấng Thánh của Israel thật cao cả” (x. Is 12,2-3.4bcd.5-6).
Thánh Phaolô nhắc đi, rồi nhắc lại với các tín hữu Philip rằng hãy VUI LUÔN trong Chúa. Và dường như Phaolô đồng hoá niềm vui căn bản này với ‘đức hiền hoà’ và cảm nghiệm ‘bình an’: “Đức hiền hoà của anh em phải sáng tỏ trước mặt mọi người, vì Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì hết, nhưng trong khi cầu nguyện, anh em hãy trình bày những ước vọng lên cùng Chúa, bằng kinh nguyện và lời cầu xin đi đôi với lời cảm tạ. Và bình an của Thiên Chúa vượt mọi trí hiểu, sẽ giữ gìn lòng trí anh em trong Chúa Giêsu Kitô” (x. Pl 4,4-7).
Niềm vui tràn ngập như thế – từ các trang Thánh Kinh Cựu Ước sang đỉnh điểm của nó ở Tân Ước, với sự có mặt bằng xương bằng thịt của Con Thiên Chúa, là Chúa Giêsu – được Đức thánh cha Phanxicô xác nhận cách nhấn mạnh là NIỀM VUI TIN MỪNG (x. Evangelii Gaudium, các số 1-8). Chính vị giáo hoàng cũng nêu ‘niềm vui’ như một dấu hiệu của sự thánh thiện trong thời đại của chúng ta (x. Gaudete et exsultate, chương 4).
Nói cách khác, Kitô giáo là đạo của niềm vui. Đi đạo là vui. Ngay cả dù ở giữa buồn phiền và đẫm nước mắt, người Kitô hữu vẫn vui và bình an tận thâm sâu. Bởi niềm vui ở đây là tâm thế nền tảng, chứ không phải chỉ là ‘cảm giác trên bề mặt’ vốn dễ thay đổi rất nhanh theo tâm trạng và thậm chí tuỳ theo thời tiết và những gì xảy ra xung quanh bên ngoài…
Niềm vui có Chúa, vì thế, giả thiết và thách đố mỗi chúng ta cảm nghiệm sâu xa rằng ‘CÓ CHÚA’ là niềm vui. Biết Chúa, gặp Chúa, theo Chúa… là niềm vui! Nó khác với loại tâm thế trong đó người ta đi đạo, giữ đạo một cách nhăn nhó, ‘cực chẳng đã’, như một cái giá phải gắng trả để ‘mua’ thiên đàng đời sau! “Ồ, cái ông ấy sướng thật, được ăn chơi hưởng thụ cả đời, đến lúc gần chết mới theo đạo, và đi thẳng lên thiên đàng – ông ta được sướng cả đời này lẫn đời sau!” Đó là tâm thế của người có đạo, có Chúa mà… không vui!
Vậy thì chúng ta đâu có tin MỪNG mà loan báo? Làm sao đạo của mình có thể hấp dẫn những người chưa tin?… Đó là lý do tại sao ngay từ khi bắt đầu sứ vụ Phêrô, Đức Phanxicô đã chuyển tải cương lĩnh cho một cuộc canh tân Giáo hội trong Tông huấn đầu tay của ngài mang tựa đề ‘Niềm Vui Tin Mừng’. Trao Tin Mừng cho người khác, mà mình không vui cách thâm sâu, thì làm sao người ta tin?
Bài Tin Mừng hôm nay (x. Lc 3,10-18) không trực tiếp đề cập niềm vui, mà nêu câu trả lời của Gioan Tẩy giả cho câu hỏi của đám đông: “Chúng tôi phải làm gì?” Gioan không đề nghị bất cứ việc gì lớn lao, to tát. Gioan chỉ kêu gọi mỗi người làm các bổn phận hằng ngày của mình một cách tử tế. Soi chiếu ‘niềm vui Tin Mừng’ nói trên kia vào đây, chúng ta sẽ nhận được sứ điệp mà tuần thứ ba Mùa Vọng mời gọi mình: Không cần làm gì to tát cả, mỗi người chỉ cần VUI TƯƠI kiên nhẫn chu toàn các bổn phận đời thường của mình!
Đó là cách thuyết phục nhất để nói với mọi người rằng chúng ta có Chúa.
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
……………………………….
Suy Niệm 2: TÔI PHẢI LÀM GÌ?
Hôm nay, chúng ta cử hành Chủ Nhật III Mùa Vọng, hay còn gọi là Chủ Nhật Gaudete (“Chủ Nhật của niềm vui”). Trong năm phụng vụ, chúng ta thấy có hai Chủ Nhật mà bàn thờ được trang trí với khăn màu hồng và lễ phục của chủ tế cũng màu hồng. Hai Chủ Nhật đó là: Chủ Nhật III Mùa Vọng và Chủ Nhật IV Mùa Chay. Thêm vào đó chúng ta thấy thông thường, chủ tế cũng mặc áo hồng vào những dịp lễ cưới là nơi luôn thấm đượm tình yêu và niềm vui. Điều giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của hai Chủ Nhật III Mùa Vọng và IV mùa chay là những ngày mang trong đó lời Chúa vang vọng tiếng mời gọi hãy vui lên và sống yêu thương vì Chúa đang gần kề. Tuy nhiên, chúng ta tự hỏi: chúng ta có thể vui mừng khi có quá nhiều điều không may mắn đang xảy ra trong cuộc đời của chính mình, trong gia đình, trong giáo xứ, trong Giáo Hội và xã hội không?
Một cách cụ thể hơn, chúng ta có vui khi đến với Chúa mỗi ngày hay mỗi Chủ Nhật không? Người Kitô Hữu là những người của niềm vui vì họ là những người “sống và mang tin mừng.” Những người nghe, sống và mang tin mừng thì không thể buồn sầu! Điều này không có nghĩa là chúng ta không buồn khi những điều không may hoặc mất mát xảy ra cho chúng ta hoặc những người thân của chúng ta. Theo lẽ tự nhiên, chúng ta cũng sẽ buồn như bao nhiêu người khác. Tuy nhiên, đối với những người Kitô giáo, trong cái không may và mất mát đó, chúng ta khám phá ra sự hiện diện đầy an ủi và yêu thương của Thiên Chúa. Chính điều đó sẽ biến “nỗi buồn của anh chị em trở thành niềm vui” (Ga 16:20).
Lời Chúa của Chủ Nhật hôm nay mời gọi chúng ta đặt lại câu hỏi về nền tảng và lý do của niềm vui chúng ta có trong đời sống thường ngày: Điều gì làm chúng ta vui? Đâu là lý do của niềm vui của chúng ta?
Trong bài đọc hai, Thánh Phaolô kêu gọi chúng ta hãy “vui lên” (gaudete); Ngài kêu gọi chúng ta hãy vui lên không phải vì bất kỳ lý do gì khác, ngoài việc “vui lên trong Chúa,” Đấng đang ở gần kề. Ngài còn nói thêm rằng chúng ta chỉ phải để một thứ chiếm trọn con tim và tâm trí chúng ta, đó là, “sự bình an của Chúa.” Điều này chúng ta cũng tìm thấy trong bài đọc 1 khi Ngôn Sứ Zephaniah nói chúng ta “vui mừng với trọn con tim,” “không sợ hãi,” và “không thất vọng” vì “Đức Chúa đang ở giữa ngươi” và “Ngài sẽ vui mừng vì ngươi và canh tân ngươi trong tình yêu của Ngài.” Thiên Chúa vui mừng vì chúng ta! Nói cách khác, chúng ta sẽ trở thành niềm vui của Chúa. Nhưng làm thế nào để chúng ta trở thành niềm vui của Thiên Chúa? Thánh Phaolô trả lời rằng: sự tốt lành của chúng ta là niềm vui của Thiên Chúa. Thật vậy, trong bài đọc 2 Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng: chúng ta cần phải để cho mọi người biết chúng ta không phải về những gì mang tính vật chất, nhưng là “sự tốt lành của chúng ta.” Trong đời sống thường ngày, chúng ta thường muốn người khác biết đến với những gì chúng ta có: tiền tài, danh vọng, nhà cửa, xe, hoặc cách ăn mặc. Nhưng những điều đó thường dẫn chúng ta xa Chúa. Chỉ có sự tốt lành, yêu thương và tha thứ làm cho chúng ta càng ngày càng trở nên giống Chúa hơn.
Như chúng ta biết, lời Chúa của Chủ Nhật II và III Mùa Vọng tập trung vào Thánh Gioan Tẩy Giả. Ngài đã được trình bày trong Chủ Nhật trước như là “tiếng kêu trong hoang địa.” Và trong bài Tin mừng hôm nay, bằng “tiếng kêu trong hoang địa” đầy uy quyền Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói tiên tri về Đấng thẩm phán sẽ đến sau ngài và đồng thời vẽ lên một bức tranh đầy màu sắc rực rỡ về ngày của Đức Chúa. Thánh nhân đã miêu tả cách sinh động Đấng Cứu Thế như là một vị thẩm phán với quạt thóc trong tay, cái quạt mà sẽ chia rẽ trấu khỏi lúa và ném trấu mãi mãi vào trong lò lửa vĩnh cửu; Đấng Cứu Thế là Người sẽ đuổi thế hệ tôn thờ ngẫu tượng này ra ngoài và nếu cần thiết làm cho xuất hiện con cái của Abraham từ những hòn đá để thay thế cho những người không tin. Qua những lời này, Thánh Gioan Tẩy Giả đã công bố một sứ điệp thật rõ ràng, đó là, khi ngày của Đức Chúa đến, bóng tối vô vọng sẽ bị xua tan, sự mơ hồ sẽ biến mất, và con người sẽ không còn phải mò mẫm và cô đơn bước đi trên con đường của mình trong sương mù vô tận nhưng sẽ biết cách rõ ràng rằng chính tình yêu và sự gần gũi của Thiên Chúa mang cho họ một Đấng Cứu Thế, Đấng sẽ mang lại cho họ niềm vui và hy vọng, Đấng mà sẽ giúp cho họ cảm nghiệm đụng chạm đến Thiên Chúa cách cụ thể. Chính Đấng Cứu Thế là niềm vui duy nhất của họ.
Với mệnh lệnh của Thiên Chúa, “ngón tay ngôn sứ” của Thánh Gioan Tẩy Giả chỉ đến một con người: “Hãy lưu ý! Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội của thế gian!” (Ga 1:29). Chính Chúa Giêsu là vị thẩm phán mà Thánh Gioan đã miêu tả. Sự hiện diện gần gũi và đầy yêu thương của Thiên Chúa đã bắt đầu trở nên hữu hình nơi Đức Kitô. Nhưng sự hiện diện này khác biệt với những gì mà Thánh Gioan Tẩy Giả đã tưởng tượng làm sao! Không có lửa rơi xuống từ trời để thiêu hủy những người tội lỗi; cũng không có gì bị thay đổi trong thế giới hiện tại cho đến bây giờ: người tốt vẫn đau khổ; kẻ bất công hình như được an nhàn thư thái. Thánh Gioan Tẩy Giả chứng kiến và nghe việc Chúa Giêsu đi rao giảng và làm phép lạ khắp nơi, nhưng sự mơ hồ vẫn còn lại đó! Sự sống con người vẫn tiếp tục lầm lũi trong mầu nhiệm đen tối với đức tin và niềm hy vọng.
Mầu nhiệm bóng tối này chính là cái mà Thánh Gioan Tẩy Giả trong khi thánh nhân phải đối diện khi nằm trong tù. Trong tuần trước chúng ta đã chia sẽ với nhau rằng, thánh nhân trở thành người được chúc lành bởi ngài chấp nhận không hỏi lại thánh ý khó hiểu của Thiên Chúa. Thánh nhân đã đạt đến điểm không còn hỏi thêm gì xa hơn về sự rõ ràng hiển nhiên mang tính hữu hình, bên ngoài và dứt khoát về sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Chúa. Thay vào đó thánh nhân khám phá ra Thiên Chúa trong bóng tối của thế giới này và của cuộc sống riêng của ông, và như thế thánh nhân trở nên con người tự do hoàn toàn và được chúc lành. Về phần chúng ta, khi đối diện với bóng đen của đời mình, chúng ta có khả năng khám phá ra sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Chúa không hay chúng ta “ngồi đó và nguyền rủa bóng tối”?
Trong thực tế, chúng ta không thể nhìn thấy Thiên Chúa như chúng ta nhìn thấy một cây táo hoặc một ánh đèn neon; hay nói một cách khác, chúng ta không thể nhìn thấy Thiên Chúa cách hữu hình. Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy Ngài bằng việc trở nên giống Ngài; nói một cách khác, chúng ta chỉ có thể nhìn thấy Thiên Chúa bằng việc để cho chính mình được giải phóng khỏi chủ nghĩa “trần tục hoá”: sự tìm kiếm khoái lạc tình dục, thú vui, của cải vật chất, lợi nhuận, hoặc nói một cách vắn tắt, sự tìm kiếm chính mình. Suy cho cùng, chính cái tôi mới thật sự là cái rào cản ở giữa chúng ta và Thiên Chúa. Chúng ta có thể nhìn thấy Thiên Chúa chỉ khi chúng ta đặt Thiên Chúa làm trung tâm đời mình và vũ trụ, chứ không đặt chính cái tôi của mình làm trung tâm. Chúng ta chỉ nhìn thấy Thiên Chúa khi chúng ta quay trở lại (“metanoia”), ngừng tìm kiếm Ngài trong của cải vật chất, nhưng trong Đức Kitô trong Bí Tích Thánh Thể, vì Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Col 1:15).
Điểm cuối cùng chúng ta rút ra từ bài Tin Mừng hôm nay đó là việc trả lời của Thánh Gioan Tẩy Giả cho những người đến xin Ngài lời khuyên về việc họ phải làm gì để chờ đón “ngày của Con Người.” Đây cũng chính là câu hỏi của mỗi người chúng ta: Chúng tôi phải làm gì trong khi trông chờ Chúa Giêsu đến? Chỉ còn hơn tuần nữa sẽ đến Giáng sinh mà tôi chưa chuẩn bị tâm hồn của tôi, gia đình của tôi để đón Chúa Giêsu, tôi và gia đình của tôi phải làm gì? Trong tin mừng có ba nhóm người đến hỏi Thánh Gioan Tẩy Giả. Nhóm thứ nhất là đám đông người Do Thái: Thánh Gioan đơn giản trả lời họ – “hãy chia sẻ những gì anh chị em có với những người không có.” Trả lời cho nhóm thứ hai, là những người thâu thuế, thánh nhân nó: “hãy thành thật. Đừng có lấy hơn những gì mà anh em phải thu.” Nhóm thứ ba là binh lính và những người Roma, thánh nhân trả lời: “Đừng lạm dụng quyền bính của anh em.” Chúng ta xem mình thuộc nhóm nào trong ba nhóm này và chúng ta phải làm gì? Hơn nữa, Thánh Nhân sẽ trả lời cho anh chị em rằng: Nếu anh em là một người chồng, hãy yêu vợ mình như Đức Kitô yêu Hội Thánh và hiến mạng vì Hội Thánh. Nếu chị em là những người vợ, hãy yêu thương và tôn trọng chồng mình như Hội Thánh yêu Đức Kitô. Nếu anh chị em là cha mẹ, hãy yêu thương và nêu gương sáng cho con cái của mình. Nêu anh chị em là những người con, hãy tôn trọng và vâng phục cha mẹ mình. Nếu anh chị em là những người thánh hiến, hãy trung thành với ơn gọi của mình.
Lm. Anthony, SDB.
……………………………………….
Suy Niệm 3: Canh tân đời sống
Giảng sư Kuhn vừa mới bước ra khỏi xe, tuy có thấp thoáng vẻ mệt mỏi nhưng rất cao hứng. Bên tai ông vẫn còn văng vẳng những tràng pháo tay khen ngợi sau một bài thuyết trình hùng hồn. Ông đã mở đầu như sau: “Hỡi những khán thính giả yêu quý của tôi, chúng ta phải xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Khắp nơi con người có thể sống cuộc sống tự do, bảo vệ công lý và hoà bình.“ Sau đó ông dẫn giải những biện pháp cần phải thi hành để mầm mống chiến tranh bị diệt trừ, để không còn ai phải sống trong đói khổ, không ai vì mầu da, ngôn ngữ hay xuất thân bị kỳ thị, khinh khi coi thường, … Quả thế, giảng sư Kuhn tranh đấu cho một thế giới mà nơi đó con người có thể chung sống hoà bình. Nhưng trớ trêu thay! Cửa Garage bị khoá và chìa khoá cũng không treo ở ngoài. Ông bất mãn cực độ, hằm hằm tiến vào nhà quát tháo vợ: Tại sao cửa Garage lại khoá? Chìa khoá để đâu? Bà Kuhn muốn giải thích với chồng nhưng đã quá trễ! Ông không chờ đợi câu trả lời của bà, tiến thẳng vào phòng làm việc và dập cửa lại! Bà Kuhn nước mắt đầm đìa. Những giây phút chuẩn bị và chờ đợi chồng về đã thành công dã tràng!
Có lẽ chẳng ma nào dám tin rằng, giảng sư Kuhn dốc toàn lực tranh đấu cho một thế giới an ninh và hoà bình khi tận mắt chứng kiến thái độ của ông đối với vợ. Miệng rêu rao những lời nhân nghĩa nhưng chân lại chà đạp vợ. “Đao to búa lớn“ nào có ích lợi gì, chỉ là những lời khoác lác nếu như không thể chứng minh bằng việc làm. Đây cũng là chủ định mà Gioan Tẩy giả nhằm thức tỉnh những người nghe ông rao giảng. Bởi vì viễn tượng của ông về một thế giới mang nhiều nét nhân bản và công bằng, nhiều tình thương và liên đới hơn, chính là hình ảnh đặc thù của đoạn Tin mừng hôm nay. Gioan không phải là một phần tử đấu tranh cho nhân quyền, không thuộc phe đối lập phản chiến, cũng không phải là người xây một thế giới mộng tưởng viễn vông. Ông không muốn truất phế và hủy bỏ quyền lực của quân đội, lực lượng cảnh sát và quan thuế. Thái độ của ông khiến cho nhiều người phải thất vọng. Không một lời đấu tranh giai cấp chống cường quyền! Chỉ một vài lời khuyên đầy khiên tốn dạy chia sẻ cơm áo! “Đừng đòi hỏi gì quá mức ấn định … Chớ hà hiếp ai, cũng không chiếm đoạt của người, hãy bằng lòng với đồng lương của mình“. Gioan chấp nhận trật tự xã hội lúc đó, chỉ yêu cầu sửa đổi thái độ của kẻ có chức quyền. Ông chỉ gieo vãi một vài tia hy vọng, giống như một chút “muối đất“ có thể làm cho nồi cháo có đủ mùi vị.
Tình huống “Lực bất tòng tâm“ không phải là những chuyện hy hữu hiếm có. Ngược lại, nó hiện hữu khắp nơi và còn mang nhiều dáng vẻ khác nhau. Ai rơi vào hoàn cảnh này sẽ có cái cảm giác mình giống con vịt què, không phương hướng, không biết phải làm sao! Thật cảm động khi có ai đó thông tình đạt lý, biết cảm thông, đồng thời mách bảo dạy mình phải làm gì trong lúc này. Một tia sáng trong rừng rậm có thể giúp tìm lại phương hướng, giúp lật ngược tình thế. Đây cũng là cảm nhận của nhiều người khi nghe Gioan giảng. Qua lời giảng của ông họ mới khám phá ra rằng mình đang sống trong tình trạng hiểm nghèo, thập tử nhất sinh! Đã từ lâu họ luôn thao thức thay đổi đời sống nhưng chả biết mình phải làm gì, bắt đầu từ đâu!
Gioan Tẩy giả là một người có đầu óc thực tế. Ông khuyên họ không nên dùng những lời thề non hẹn biển nhưng bắt đầu bằng những bước khiêm tốn không đáng kể. Kiến tha lâu cũng đầy tổ! Nếu như thành công trong chuyện nhỏ nhặt thì bước kế tiếp lớn lao hơn cũng không khó khăn gì. Vạn sự khởi đầu nan! Quan trọng là biết lượng sức, đừng quá tham lam. Đức Giêsu muốn giáng sinh làm người để chúng ta sống thân phận con người tốt đẹp hơn. Canh tân đời sống – đây chính là sứ điệp của Gioan Tẩy giả trong những ngày mùa vọng. Ông không khuyên chúng ta trốn chạy vào một thế giới mộng tưởng. Nhưng ông khuyên: Hãy sống cuộc sống của chính mình giữa thế giới, trong gia đình và nơi công việc. Hãy mở to đôi mắt để nhận biết mình hiện ở đâu, làm gì. Gioan kêu gọi chúng ta ra công góp sức mở mang nước Chúa. Ông không mong đợi kỳ tích do chúng ta tạo nên mà là sự trung thành trong những bổn phận hằng ngày. Bởi vì ai trung thành trong việc nhỏ cũng sẽ trung thành trong việc lớn.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức
………………………………………
Suy Niệm 4: CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ ?
A. DẪN NHẬP
Chúa nhật hôm nay được gọi là Chúa nhật Mầu Hồng vì ca nhập lễ bắt đầu bằng lời kêu gọi “Hãy vui lên” của thánh Phaolô. Bài đọc 1 và 2 hôm nay làm sáng lên niềm vui và hy vọng. Mầu hồng là mầu diễn tả niềm vui thay vì mầu tím, mầu của tình trạng chưa được thỏa mãn. Có tất cả những điều ấy vì ngày Chúa đến đã gần kề. Ngày hôm nay là cơ hội thuận tiện để chúng ta suy nghĩ về niềm vui của đời Kitô hữu, của những người có Tin mừng cứu độ của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, chúng ta chỉ có được niềm vui thực sự khi tâm hồn chúng ta đã được chuẩn bị sẵn sàng cho việc Chúa đến. Nói cách khác, trong khi chờ đợi Chúa đến, chúng ta phải làm gì một cách cụ thể ? Thánh Gioan đã trả lời cho chúng ta trong bài Tin mừng hôm nay.
Một cách tổng quát, thánh Gioan bảo mọi người phải thực thi công bằng và bác ái trong khi chờ đợi Chúa đến. Nhưng cách riêng đối với từng hạng người thì Gioan đã cho những chỉ dẫn khác nhau :
– Đối với dân chúng : hãy biết chia sẻ cho người khác.
– Đối với người thu thuế : hãy thực thi đức công bằng.
– Đối với quân nhân : đừng hà hiếp dân chúng.
Họ không cần thay đổi nghề nghiệp mà chỉ cần sống cho lương thiện.
Ngoài ra, để đánh tan dư luận cho ngài là Đấng Messia thì Gioan đã khiêm tốn loan báo cho họ biết Đấng Messia sẽ đến, Ngài cao trọng hơn ông, đến nỗi ông không xứng đáng cởi quai dép cho Ngài.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Xp 3, 14-18.
Tiên tri Xôphônia, là người đồng thời với tiên tri Giêrêmia, đi rao giảng vào cuối thế kỷ thứ 7 trước công nguyên, thời ấu vương Giosias (640-630) vào những năm trước cuộc phục hưng tôn giáo do nhà vua phát động.
Trong hoàn cảnh đó, nước Do thái đang ở trong tình trạng tồi tệ : bên trong thì đạo đức suy đồi, bên ngoài thì họa xâm lăng đang rình rập. Tuy thế, tiên tri Xôphônia vẫn loan báo tin vui cho dân chúng :“Án lệnh của ngươi Thiên Chúa đã rút lại, và thù địch của ngươi Ngài đã đẩy xa”, vì thế “hãy reo lên hỡi thiếu nữ Sion. Hoan hô đi nào, hỡi Israel ! Mừng vui lên, hỡi thiếu nữ Giêrusalem… Bởi đã đến ngày Thiên Chúa đến ban ơn cứu độ và ngự giữa dân Ngài”.
+ Bài đọc 2 : Pl 4,4-7.
Thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu Philipphê hãy vui lên trong niềm vui của Thiên Chúa bởi vì Chúa sắp đến với ơn bình an của Ngài :”Anh em hãy vui lên trong Chúa. Tôi nhắc lại một lần nữa : anh em hãy vui lên”(Pl 4,4).
Niềm vui này sẽ đến với chúng ta nếu chúng ta biết sống hiền hòa rộng rãi với mọi người và biết sống phó thác cho Chúa trong lời cầu nguyện. Không phải lo lắng gì cả, có gì cứ trình bầy với Chúa.
+ Bài Tin mừng : Lc 3,10-18.
Nghe Gioan rao giảng, người ta nô nức đến sông Giorđan chịu phép rửa để xin ơn tha tội. Họ tỏ lòng sám hối để đón chờ Chúa đến. Nhưng để dọn đường cho Chúa đến, dân chúng chưa biết phải làm gì và làm thế nào, nên họ hỏi ông:”Chúng tôi phải làm gì” ?
Để giúp các thành phần trong dân Chúa dọn lòng đón tiếp Đấng Messia, Gioan Tẩy giả đã đề nghị một cách tổng quát : Hãy sống công bình và bác ái. Ông không bảo họ phải bỏ nghề nghiệp của mình mà hãy sống tốt cho phù hợp với hoàn cảnh của từng hạng người :
– Đối với người dân : hãy chia sớt cho ai không có.
– Đối với người thu thuế : hãy sống công bằng.
– Đối với quân nhân : đừng hà hiếp dân.
Thấy dân chúng tôn vinh mình, tưởng mình là Đấng Messia, Gioan đã khiêm tốn phủ nhận dư luận ấy, và giới thiệu Đấng Messia thật cho họ biết :”Đấng quyền thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài”.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Tôi phải làm gì đây ?
I. ẢNH HƯỞNG CỦA LỜI KÊU GỌI
- Gioan rao giảng việc sám hối
Trong tuần lễ trước, thánh Gioan đã xuất hiện tại sa mạc Giorđan rao giảng kêu gọi mọi người chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội. Ông đã lặp lại lời tiên tri Isaia cách đó 500 năm, vạch ra con đường để dân chúng theo :”Có tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi. Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, mọi núi đồi phải bạt cho thấp, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”.
Lời kêu gọi đó đã được nhiều người chấp nhận, trong số những người đã chịu phép rửa ở sống Giorđan có cả những người thu thuế và quân nhân. Dĩ nhiên cũng có người tò mò đến xem hoặc đến nghe mà cứng lòng không hối cải như những người biệt phái và luật sĩ. Đối với những người ấy, Gioan đã răn đe, báo trước cho họ hình phạt sẽ hòng đổ xuống đầu như chiếc rìu đã đặt sẵn vào gốc cây.
- Ý thức và nhận mình là người có tội
Muốn sửa đổi con người của mình, muốn tiến triển trên con đường nhân đức, điều cần thiết là phải biết mình. Người ta thường mắc khuyết điểm này vì :”Bàng quan giả tỉnh, đương cục giả mê” : việc người thì sáng, việc mình thì quáng. Nhiều khi con người bị tính tự ái hay tình tư dục làm mờ ám lương tri, không còn nhìn ra chân lý, không biết thực trạng con người mình, nên nhiều khi cần có người thức tỉnh.
Truyện : Anh là người có tội.
Cách đây ít lâu, bác sĩ Karl Menninger, trưởng khoa tâm bệnh học của Mỹ đã làm nhiều người kinh ngạc với quyển sách của ông mang tựa đề “Whatever became of sins”(điều gì đang xẩy đến cho tội lỗi). Ông bắt đầu quyển sách bằng một câu chuyện trào lộng khiến chúng ta phải suy nghĩ.
Vào một ngày chúa nhật tháng 9 năm 1972, trên góc phố đông người qua lại thuộc khu trung tâm Chicago, xuất hiện một nhà chuyên giảng thuyết ở đường phố. Đang lúc các nhân viên văn phòng vội vã lo đi ăn trưa, nhà giảng thuyết này thình lình giương cánh tay phải lên, dùng cánh tay xương xẩu chỉ vào một nhân viên nào đó rồi la lên :”Anh là kẻ có tội”! Đoạn ông đứng im, nghỉ vài giây rồi lại bắt đầu chỉ vào một nhân viên khác rồi la lên :”Anh là kẻ có tội”!
Bác sĩ Menninger nói :”Tác động mà nhà giảng thuyết gây ra nơi những người bộ hành đi ngang qua đó thật là kỳ lạ”. Họ lấm lét nhìn ông, rồi lại quay mặt đi chỗ khác, rồi lại lén nhìn nữa, và cuối cùng vội vàng đi tiếp (Mark Link).
Chắc chắn Gioan Tẩy giả cũng gây được tác động tương tự trên đám dân khi ngài xuất hiện ở bờ sông Giorđan. Ngài cũng như nhà giảng thuyết đã chạm vào nơi vùng thâm sâu dễ thương tổn nhất của dân chúng. Ngài đòi buộc dân chúng xét lại tâm hồn mình và nhận biết lỗi lầm của mình. Ngài còn đòi hỏi họ phải từ bỏ tội lỗi để quay về cùng Thiên Chúa.
- Chờ đợi Đấng Cứu thế
Kẻ học biết Kinh thánh và những luật sĩ chỉ lo nghiền ngẫm những lời tiên tri loan báo : Đấng Cứu thế sắp đến là :”Vua được xức dầu. Ngài đến trong dòng dõi Giuđa. Ngài chiến thắng quân thù, giết những vua chúa ngoại bang… Đấng xức dầu sẽ tụ họp dân Ngài trong đường công chính, cai trị các quốc gia, loại trừ mọi bất công và gian ác. Phúc cho ai được sống trong thời đại ấy”.
Họ nghiền ngẫm những lời ấy và suy đoán sắp đến ngày Đấng Cứu thế xuất hiện và ai ai cũng đều cầu xin Ngài đến.
Giờ đây họ được nghe loan báo Ngài đang đến. Thế là như cá gặp nước, như người chết đuối vớ được phao cứu, dân chúng đổ xô đến với Gioan và hỏi:”Chúng tôi phải làm gì để đón rước Đấng Cứu thế” .
II. CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ ?
- Những hướng dẫn cụ thể
Sau khi được nghe lời kêu gọi sám hối của Gioan Tẩy giả, dân chúng nôn nóng muốn thực hành ngay những điều ông dạy, nhưng những lời rao giảng ấy còn khó hiểu với những người phần lớn là thôn quê, đơn sơ chất phác. Họ muốn những lời dạy cụ thể hơn. Những việc mà Gioan muốn cho họ thực hiện chung qui là “Công bằng và Bác ai”. Tùy từng hạng người mà ông cho những hướng dẫn cụ thể.
a) Đối với dân chúng
Đám dân đến nghe Gioan rao giảng đều là những người bình dân, cho nên lời rao giảng của ông là rõ ràng, chính xác và cần thực hiện ngay không được chậm trễ. Nó không có gì thuộc phạm vi trí thức hay khó hiểu cả, chính trong cái bình thường nhất hay tầm thường nhất của cuộc sống hằng ngày (ăn, mặc…) mà sự hoán cải qua thân xác, sự quay lại của tâm hồn gọi là “metanoia” cần được thực hiện. Nên Gioan đã trả lời :”Ai có hai áo, thì chia cho người không có, ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”.
b) Đối với người thu thuế và quân nhân (cảnh sát)
Trong đám đông dân chúng đến chịu phép rửa, người ta nhận thấy có cả người thu thuế và cảnh sát. Đó là những người bị người ta ghét nhất thời đó, là những người ít tư cách nhất để đón tiếp Đức Giêsu, những người sống ngoài lề xã hội và bị khinh bỉ, những người tội lỗi nhất, những hạng người “đểu cáng”.
Những người thu thuế cũng thành thực hỏi ông:”Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì” ? Ông trả lời cho họ :”Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho mình”. Binh lính cũng hỏi ông :”Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì”? Ông bảo họ :”Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”
Ở đây chúng ta nhận ra rằng Tin mừng theo thánh Luca sẽ cho chúng ta thấy Đức Giêsu”dùng bữa nơi nhà người tội lỗi”(Lc 5,27-30). Làm cho những người công chính rất bất bình với Đức Giêsu,”ngụ tại nhà người tội lỗi”(Cl 19,7) làm cho những người “đàng hoàng” phải bực bội. Đức Giêsu nói rằng Ngài đến không phải vì những người công chính (Lc 5,32).
- Không đổi nghề nhưng đổi cung cách hành xử
Thánh Phaolô không bảo họ phải lên rừng, vào hoang địa đi tu như Ngài. Không bảo người ta phải sống khắc khổ, ăn châu chấu và mật ong rừng, mặc áo nhặm da thú như ngài. Nhưng đối với đại đa số dân chúng, ngài chỉ bảo họ sống yêu thương, hãy thực thi bác ái.
Còn đối với những người thu thuế và cảnh sát của quân đội chiếm đóng, Gioan Tẩy giả không yêu cầu họ đổi nghề, nhưng chỉ cần có cung cách sống mới : tôn trọng công lý, không lạm dụng sức mạnh mình có trong tay, bằng lòng với những gì mà quyền lợi và luật pháp đã quy định. Tất cả những lời khuyên trên đây thuộc lãnh vực nghề nghiệp. Chúng nhằm đến những tội lỗi, mà người thu thuế và binh lính thời ấy thường hay vấp phạm : làm giầu bằng cách lợi dụng tư thế bất khả xâm phạm do nghề nghiệp của mình. Lợi dụng thế mạnh nhất của mình đang nắm giữ (Noel Quesson).
Lao động là việc cần thiết và có lợi cho đời sống vật chất cũng như tinh thần. Nói đến lao động là nói đến nghề nghiệp. Hiện nay bên Mỹ người ta đếm được 23.559 cách làm ăn để sinh sống. Tựu trung tất cả các nghề làm ăn sinh sống đều qui về hai loại lao động là trí óc và chân tay. Nghề nào cũng tốt, không có nghề nào xấu, chỉ có người xấu như ngạn ngữ Pháp đã nói:”Il n’y a pas un sot métier” : không có nghề nào xấu cả. Chúng ta cứ tiếp tục nghề nghiệp hiện tại của mình một cách lương thiện.
Những lời khuyên của Gioan ở trên thích nghi với địa vị của mỗi người. Ông không đòi buộc người ta tách lìa khỏi thế gian hoặc phải từ bỏ các nghề nghiệp. Ông chỉ đòi hỏi lòng nhân hậu và đức công bình, đó là những hoa trái biểu lộ lòng sám hối đích thực trong lúc chờ đợi Đấng Cứu thế.. Giáo huấn của thánh Gioan vì thế có tính cách chuẩn bị cho những đòi hỏi quyết liệt hơn của Đức Giêsu (Lc 6,29.32-36; Mt 5,39-48).
- Kết quả của việc sám hối
Nếu mọi người biết thực thi lời Gioan khuyên nhủ, chắc chắn niềm vui sẽ đến với mọi người vì tâm hồn mình đang sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Lời thánh Phaolô tông đồ trong bài đọc 2 hôm nay phải rộn vang trong lòng mọi người đón chờ Chúa đến:”Anh em hãy vui lên trong Chúa. Tôi nhắc lại một lần nữa : Anh em hãy vui lên”(Pl 4,4).
Tác giả Chesterton đã viết:”Niềm vui là bí mật to lớn của người Kitô hữu”. Quả đúng như thế, bởi vì Kitô hữu là người đã được Thiên Chúa mạc khải, được Ngài hướng dẫn đưa vào trong những kế hoạch huyền nhiệm của Ngài liên quan đến tương lai của nhân loại, cũng như những phương thế để thực hiện tương lai này. Ngoại trừ tội lỗi, không một thứ gì có thể làm cho người Kitô hữu phải buồn phiền : họ vui vì họ đã đặt mọi niềm hy vọng nơi Thiên Chúa; họ luôn luôn vui. Bởi vì Chúa Thánh Thần là Đấng dưỡng nuôi niềm vui của họ.
Để cho niềm vui được chan hòa trong lòng, người Kitô hữu cần biết chia sẻ niềm vui; bởi vì tâm hồn càng triển nở và dồi dào sức sống, nếu nó biết trao hiến, biết tận tình phục vụ. Đây không phải là một tình huynh đệ giả tạo, mà là sự khả ái, sự an nhiên giúp chúng ta có thể thấu hiểu mọi sự, mà không thiếu sự cương quyết; có thể sống an nhiên, mà không vì thế trốn tránh các khó khăn của cuộc đời.
Thánh Phaolô đã khuyên các tín hữu :”Hãy vui cùng kẻ vui, hãy khóc cùng kẻ khóc”. Sở dĩ Ngài khuyên các tín hữu như vậy là vì con người hay ích kỷ, chỉ biết vơ mọi cái vào cho mình, mình là trung tâm của vũ trụ, còn thì sống chết mặc bay. Cho nên biết chia sẻ niềm vui cho người khác cũng là thực thi bác ái và nó đòi phải hy sinh, hy sinh phải ra khỏi cái ốc đảo của mình để chú ý đến người khác. Người ta nói:”Niềm vui mà được chia sẻ thì tăng lên gấp bội, và nỗi buồn mà được chia sẻ thì sẽ giảm đi được một nửa”. Như vậy thì ai mà không muốn được chia sẻ ?
Sự vui tươi không ở trong cảnh vật mà chỉ có ở trong lòng người : ta vui thì cảnh vật vui, ta buồn thì cảnh vật sẽ buồn. Cảnh vật bên ngoài chỉ là bức họa phản chiếu tâm hồn từng người. Đúng như thi sĩ Nguyễn Du đã nói trong truyện Kiều :
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Một người đã có Chúa trong mình thì bao giờ cũng vui tươi mặc dầu sống trong cảnh đau khổ. Không gì có thể làm cho họ buồn vì thánh vịnh 42 đã chứng minh :”Introibo ad altare Dei, ad Deum qui laetificat juventutem meam” : Tôi sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Đấng làm cho tuổi xuân tôi được mừng vui”(Tv 42,4).
Truyện : Vui buồn ở tại lòng người.
Buổi sáng ở trạm xăng ngoại ô San Francisco. Một người ngồi xe hơi đến :
– Xin cho hỏi thăm ông chủ một chuyện. Hai tuần lễ vừa qua, tôi nghỉ mát tại Santa Cruz. Thật hứng thú. Phong cảnh ở đó đẹp. Dân ở đó dễ thương. Còn về Redwood Highway, ông chủ có ý kiến gì không ?
Ông chủ cây xăng hớn hở trả lời :
– Ở Redwood-Highway dân cũng dễ mến lắm.
Chưa đầy một tiếng đồng hồ sau, một người khác cũng muốn biết về nơi nghỉ mát này. Chàng nhăn nhó nói :
– Vừa rồi, tôi đã uổng mất hai tuần nghỉ mát. Chỉ thấy bực mình. Phòng ngủ thì thiếu tiện nghi. Dân ở đó dễ ghét.
Ông chủ rầu rầu đáp :
– Miền Redwood-Highway cũng chẳng hơn gì.
Khách đi rồi, người ta mới hỏi ông :
– Tại sao thay đổi ý kiến chóng như vậy ?
Ông nói :
– Đâu có. Tôi chỉ nhận xét rằng hai ông khách kia mỗi người theo đuổi một cảm nghĩ, không ai muốn thay đổi. Ông thứ nhất yêu những người đã gặp, và thích phong cảnh đã được xem. Vậy chắc là đi tới nơi nào ông cũng thích cũng yêu nơi đó. Còn người thứ nhì thì khó tính, hay càu nhàu. Vậy tôi nghĩ rằng đi tới đâu, ông ta cũng bất mãn nơi đó (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, tr 210-212).
Trong tuần lễ này, chúng ta phải năng hỏi Chúa:”Lạy Chúa, con phải làm gì”? Câu hỏi này chúng ta đã từng gặp nhiều lần trong Kinh thánh để rồi Chúa sẽ trả lời cho chúng ta trong ơn thánh. Chúng ta thử đưa ra mấy trường hợp.
Trước hết, người thanh niên giầu có và thông luật đến hỏi Đức Giêsu:”Tôi phải làm gì để được sống đời đời”? Ông Nicôđêmô, sau khi nghe Đức Giêsu nói về sự “tái sinh” bởi nước và Thánh Thần, ông thấy khó hiểu và tự hỏi :”Tôi phải làm gì, không lẽ già cả như tôi lại chui vào lòng mẹ mà sinh lại”? Khi bị quật ngã trên đường đi Đamas, thánh Phaolô cũng đã hỏi Chúa một câu tương tự:”Thưa ngài, tôi phải làm gì”?
Tóm lại, qua bài Tin mừng hôm nay, thánh Gioan Tẩy giả đã vạch ra cho chúng ta một cách sống đẹp lòng Chúa để dọn đường cho Chúa đến là hãy sống yêu thương và công bằng. Đó là những hoa trái biểu lộ đích thực lòng sám hối. Và đó cũng là những chuẩn bị cho những đòi hỏi quyết liệt của Chúa Giêsu sẽ vạch ra sau này. Chúa đòi hỏi chúng ta phải ra sức làm việc phục vụ anh em trong yêu thương, trong công bằng bác ái, chú ý đến kẻ khác để có thể nói “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”.
Chúa cũng muốn chúng ta thực hiện câu tục ngữ người ta thường nói :”Có đi có lại mới toại lòng nhau” : chúng ta có biết quên mình đi mà đến với tha nhân, thì Chúa mới đến với chúng ta và khi đã có Chúa là nguồn vui thì chắc chắn chúng ta sẽ được vui tươi. Hãy thực hiện lời thánh Phaolô :”Anh em hãy vui lên trong Chúa”.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm Gp. Đà Lạt

