spot_img
Thêm

    CHÚA NHẬT 2 TN/A

    BÀI ÐỌC I: Is 49, 3. 5-6

    Chúa đã phán cùng tôi: “Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi”. Và bây giờ, Chúa phán, Người đã huấn luyện tôi khi tôi còn trong lòng mẹ, để tôi trở nên tôi tớ Người, để đem Giacóp về cho Người, và quy tụ Israel quanh Người. Tôi được ca tụng trước mắt Chúa và Thiên Chúa là sức mạnh của tôi. Người đã phán: “Làm tôi tớ Ta chẳng có là bao, để tái lập các chi họ Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về; này đây Ta đặt ngươi như ánh sáng các dân tộc để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu”.

    BÀI ÐỌC II: 1 Cr 1, 1-3

    Phaolô, do thánh ý Chúa, được kêu gọi làm Tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, và Sôtênê, anh em chúng tôi, kính chào Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta: Nguyện chúc cho anh em được ân sủng và bình an của Thiên Chúa Cha chúng ta, và của Chúa Giêsu Kitô.

    PHÚC ÂM: Ga 1, 29-34

    Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: “Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian. Này tôi đã nói về Ngài: Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi. Và tôi, tôi đã không biết Ngài, nhưng để Ngài được tỏ mình ra với Israel, nên tôi đã đến làm phép rửa trong nước”. Và Gioan đã làm chứng rằng: “Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài. Nhưng Ðấng sai tôi làm phép rửa trong nước phán bảo tôi: “Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần”. Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa”.

    Suy Niệm 1: ĐƯỢC GỌI LÀM MÔN ĐỆ CỦA CHIÊN THIÊN CHÚA

    Tuần trước, chúng ta bắt đầu bước vào Mùa Thường Niên với lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Qua lễ này, Giáo Hội muốn mời gọi chúng ta sống ơn gọi làm con cái Thiên Chúa mà chúng ta đã lãnh nhận qua bí tích rửa tội trong đời sống thường ngày của mình. Các bài đọc lời Chúa trong Chúa Nhật hôm nay tiếp tục đề tài ơn kêu gọi đó để đưa chúng ta đi sâu vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng luôn hoạt động và kêu gọi chúng ta qua mỗi giây phút của đời sống thường ngày.

    Bài đọc 1 hôm nay trình bày cho chúng ta về bài ca của người tôi trung của Đức Chúa. Người tôi trung này được tuyển chọn với mục đích biểu lộ vinh quang Đức Chúa cho muôn dân (Is 49:3). Người tôi trung được Đức Chúa nhào nặn tuyển chọn từ khi còn trong lòng mẹ: “Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung, đem nhà Giacóp về cho Người và quy tụ dân Israel chung quanh Người. Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng, và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi” (Is 49:5). Nhiệm vụ của người tôi trung không chỉ giới hạn trong nhà Giacóp và dân Israel, nhưng còn được đặt làm ánh sáng cho muôn dân: “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta để tái lập các chi tộc Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49:6).

    Trong bài đọc 2, Thánh Phaolô nói về ơn gọi làm Tông Đồ của mình cho các tin hữu Côrintô và cho họ biết đó cũng là ơn gọi của họ: “Tôi là Phaolô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Kitô Giêsu, và ông Xốtthênê là người anh em của chúng tôi, kính gửi Hội Thánh của Thiên Chúa ở Côrintô, những người đã được hiến thánh trong Đức Kitô Giêsu, được kêu gọi làm dân thánh, cùng với tất cả những ai ở bất cứ nơi nào kêu cầu danh Chúa của chúng ta, Đức Giêsu Kitô, là Chúa của họ và của chúng ta” (1 Cr 1:1-2). Tông Đồ là những người được sai đi để rao giảng Tin Mừng. Tông Đồ là những người luôn cầu xin Thiên Chúa ban cho những người mình được sai đến “ân sủng và bình an” (1 Cr 1:3).

    Đề tài về ơn gọi trở thành ánh sáng cho muôn dân, Tông Đồ và môn đệ của Chúa Giêsu đạt đến đỉnh cao trong bài Tin Mừng hôm nay. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Thánh Gioan trình thuật lại cho chúng ta lời chứng của Gioan Tẩy Giả về Chúa Giêsu. Đây chính là mục đích của ơn gọi, đó là làm chứng cho Chúa Giêsu.

    Đề tài chính của bài Tin Mừng hôm nay tập trung vào Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa. Trong khi truyền thống của Tin Mừng Nhất Lãm nói về việc Chúa Giêsu được Gioan Tẩy Giả làm phép rửa và Chúa Thánh Thần đáp xuống dưới hình chim bồ câu (x. Mc 1:11; Lc 3:22; Mt 3:17), Tin Mừng Thánh Gioan trình bày cảnh Chúa Giêsu rửa tội mà trong đó Gioan Tẩy Giả đã làm chứng hai lần cho ‘Israel’ về Chúa Giêsu.

    Điểm đầu tiên chúng ta suy gẫm là lời chứng đầu tiên của Gioan Tẩy Giả: “Khi ấy, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: ‘Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian. Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1:29-30). Bởi vì Tin Mừng Thánh Gioan không nhấn mạnh đến việc đền tội như là mục đích chính của việc Chúa Giêsu bị đóng đinh và được tôn vinh, việc làm chứng của Gioan Tẩy Giả phải phản ánh truyền thống của cộng đoàn đầu tiên. Trong thư thứ nhất của mình, Thánh Gioan từ chối những ai tuyên bố rằng cái chết của Chúa Giêsu không phải là để đền tội (x. 1 Ga 3:5). Chúa Giêsu là ‘con chiên’ có thể là hình ảnh đại diện cho một sự phối hợp giữa hai hình anh của các Kitô hữu tiên khởi, đó là (1) Người Tôi Tớ Đau khổ của Isaia (x. Is 52:13-53:12), Đấng sẽ bị dẫn đi làm thịt như một con chiên (Is 53:7) và gánh lấy tội chúng ta (Is 53:4); và (2) cái chết của Chúa Giêsu như là Con Chiên Vượt Qua (Ga 19:36; 1 Cr 5:7 chỉ cho thấy lối giải thích này về cái chết của Chúa Giêsu ra đời sớm).

    Trong lời chứng thứ hai, Gioan Tẩy Giả chỉ đến việc Thần Khí ngự xuống trên Chúa Giêsu: “Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’ Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1:32-34). Phiên bản ngự xuống của Thần Khí này bắt nguồn từ một truyền thống độc lập mà thánh sử đã sử dụng để trong đó ngài để Gioan Tẩy Giả là chứng nhân. Thánh sử cũng nói về Thần Khí ngự xuống [hay ở lại] trên Chúa Giêsu. Thánh sử sử dụng động từ đặc biệt của mình đó là menein, để diễn tả mối tương quan vĩnh cửu giữa Cha và Con và Con và những người tin. Ở đây, Thần Khí được nói đến như là Đấng ở lại với Chúa Giêsu, Đấng được chỉ ra như là Người sẽ ban Thần Khí (3:5, 34; 7:38-39; 20:22).

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………………….

    Suy Niệm 2:  ĐỨC GIÊSU, CHIÊN CỦA THIÊN CHÚA

    A. DẪN NHẬP

    Ngay từ lâu tiên tri Isaia đã nói về Người Tôi Tớ kỳ diệu của Giavê. Ông mô tả người tôi tớ này là người hiền lành khiêm nhường nhịn nhục như con chiên bị đem đi làm thịt mà không một lời kêu ca phản kháng. Người Tôi Tớ đó là ai ? Sau đó, tiên tri Giêrêmia cũng nói về mình giống như người tôi tớ Giavê khi ông viết :”Tôi giống như con chiên trung tín bị đem đi giết, và tôi không hề biết  họ đang trù tính những điều ác chống lại tôi”. Sau này, chính Gioan Tẩy giả đã giới thiệu cho dân chúng biết  Người Tôi Tớ mà Tiên tri Isaia đã mô tả khi ông chỉ vào Đức Giêsu mà nói:”Đây chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”(Ga 1,29). 

    Gioan tự thú trước đây ông chưa từng biết Đấng Cứu Thế mặc dầu ông là bà con với Đức Giêsu. Nói như vậy chỉ có nghĩa là  ông không biết hoặc biết không chắc chắn Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai. Ông chỉ biết được điều đó từ trên mạc khải cho khi Đức Giêsu đến xin ông làm phép rửa cho, và chính Thiên Chúa đã báo cho ông biết qua tiếng nói từ trời :”Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người ấy chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Khi đã biết đích xác Đức Giêsu là ai, ông bắt đầu làm chứng và khẳng định rằng “Đức Giêsu chính là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”.

    Sau khi đã biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, chúng ta cũng có trách nhiệm phải giới thiệu Ngài cho những người khác bằng chính cuộc sống cụ thể của chúng ta.  Chúng ta phải trở nên ánh sáng cho thế gian để soi cho người ta biết Chúa như lời Ngài dạy:”Ánh sáng của các con  phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ trông thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời”(Mt 5,16). Ngòai ra, theo lời khuyên nhủ của thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay, chúng ta cũng phải cố gắng nên thánh để xứng đáng là môn đệ của Chúa, xứng đáng là con của Đấng đã phán :”Các ngươi hãy nên thánh, vì Ta là Đấng thánh”(Lv 11,44).

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

    + Bài đọc 1 : Is 49,3,5-6.

    Tiên tri Isaia được soi sáng để nhìn thấy trước Người Tôi Tớ Giavê và được mô tả trong bốn bài thơ. Trong lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Người Tôi Tớ cũng được đề cập và được rút ra từ bài thơ thứ nhất. Hôm nay Người Tôi Tớ được rút ra từ bài thơ thứ hai.

    Theo tiên tri Isaia, người tôi trung có những đặc điểm sau đây :

    – Biểu lộ vinh quang của Chúa.
    – Dẫn đưa nhà Giacóp về qui tụ dân Israel chung quanh Ngài.
    – Trở thành ánh sáng muôn dân để đem ơn cứu độ đến cho mọi người.

    Đấy chỉ là người tôi trung nào đó được mô tả, còn người tôi trung này chỉ được thực hiện hòan hảo nơi Đức Giêsu.

    + Bài đọc 2 : 1Cr 1,1-3.

    Bài đọc 2 là lời chào thăm của thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Côrintô, giáo đòan  mà ngài đã thành lập trong chuyến hành trình truyền giáo thứ hai vào những năm 50-52.

    Trong phần mở đầu vắn tắt được đọc lại hôm nay, thánh Phaolô dùng hai lần từ ngữ “kêu gọi” : Ngài được Chúa kêu gọi và họ cũng là những người được Chúa kêu gọi. Ngài được Chúa kêu gọi để làm tông đồ đi rao giảng Tin mừng của Đức Kitô, còn họ là những người được kêu gọi nên thánh và được thánh hóa trong Đức Giêsu Kitô.

    + Bài Tin mừng : Ga 1,29-34.

    Đức Giêsu lần đầu tiên xuất hiện nơi công chúng. Khi thấy Ngài tiến về phía mình, thánh Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng : Người là Chiên Thiên Chúa và là Con Thiên Chúa.

    Chiên Thiên Chúa : Khi nói Đức Giêsu là Con Chiên Thiên Chúa, có thể Gioan đang nghĩ đến Con Chiên của lễ Vượt Qua vì bấy giờ là lễ Vượt Qua cũng sắp đến (Xh 2,13). Gioan  là con trai của thầy tư tế, chắc ông biết rõ mọi chi tiết liên hệ đến việc dâng của lễ : hằng ngày buổi sáng và buổi chiều, luôn luôn có một con chiên  được dâng làm của lễ trong đền thờ để chuộc tội cho dân chúng (Xh 29,38-42). Trong lễ nghi đền tội của Do thái giáo, tội nhân đem một con chiên lên đền thờ, úp tay mình xuống trên con chiên tỏ ý trút hết mọi tội mình trên nó; tiếp theo, tư tế sẽ giết con chiên hoặc thả nó vào rừng. Nó chịu chết để đền tội thay cho tội nhân. Bao nhiêu tội lỗi của tội nhân đều được tẩy xóa.

    Con Thiên Chúa : Chúng ta thắc mắc đặt dấu hỏi : Tại sao trong bài Tin mừng hôm nay Gioan Tẩy giả lại nói  ông chưa từng biết Đức Giêsu vì ông đã biết Ngài lúc chịu phép rửa và là bà con của Người nữa ? Đúng thế, Gioan đã biết Ngài là Con Thiên Chúa (trong lúc rửa tội) và có họ hàng với nhau, chắc chắn đã quen biết nhau. Không phải Gioan nói ông không biết Đức Giêsu là ai, nhưng ông muốn nói là mình chưa từng nhận biết Ngài là Đấng Messia (Chúa Cứu Thế), ông mới được mạc khải rằng Giêsu này chính là Con Thiên Chúa, là Con ruột của Thiên Chúa, chứ không phải là con nuôi, là nghĩa tử.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                          Con chiên xóa tội trần gian

    I. GIOAN GIỚI THIỆU ĐỨC GIÊSU

    Đức Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai của Ngài bằng nghi thức sám hối thay cho cả nhân lọai qua phép rửa của Gioan, và kết thúc cuộc đời công khai của Ngài bằng nghi thức đền tội  thay cho cả nhân lọai qua cái chết thê thảm trên thập giá. Và hôm nay, ít ngày sau khi Gioan rửa tội cho Đức Giêsu, ông liền giới thiệu cho dân chúng biết Ngài là ai, và một phần nào báo trước cái chết của Ngài :”Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”!  Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa của những lời giới thiệu ấy.

    1. Đây Chiên Thiên Chúa

    Thói thường, muốn giới thiệu khuôn mặt của một người thì người ta phải giới thiệu một khuôn mặt hấp dẫn, đàng này thánh Gioan lại không theo khuôn thức đó. Người ta kể rằng : một tu sĩ kia muốn họa lại  chân dung của Đức Giêsu. Được phép của bề trên, ông đi rảo khắp nơi để tìm cho kỳ được người mẫu thích hợp. Thế nhưng, càng tìm kiếm, ông càng khám phá ra rằng, không thể có người nào trên trần gian này hòan tòan giống Đức Giêsu. Từ đó, ông đi đến kết luận : Gương mặt Đức Giêsu phải là tổng hợp của tất cả vẻ đẹp của con người trên trần gian này. Do đó, thay vì chỉ chọn một người mẫu, ông đi thu nhặt tất cả những nét đẹp trên mọi gương mặt mà ông đã gặp.

    Thầy dòng kia đã quá băn khoăn về khuôn mặt Chúa Cứu thế, còn thánh Gioan tẩy giả, qua bài Tin mừng hôm nay, thì lại quá đơn giản. Ngài giới thiệu Chúa, bằng một hình ảnh và một tên rất thường :”Đây Chiên của Thiên Chúa”. 

    Biểu tượng “Con Chiên” mang một dòng lịch sử súc tích. Nó có liên hệ chặt chẽ với những biến cố của ơn cứu độ. Theo truyền thống Do thái trong sách Xuất hành, Thiên Chúa đã phán với Maisen :”Suốt thời gian sắp tới, mỗi ngày các ngươi hãy hiến tế trên bàn thờ hai con chiên tuổi được một năm, một con hiến tế vào buổi sáng , con kia vào buổi chiều”(Xh 29,38-39) 

    Theo đó, qua suốt thời gian dài cho đến năm 70, khi Đền thờ bị phá hủy, mỗi ngày vào buổi sáng sớm và buổi chiều, các tư  tế trong đền thờ phải sát tế mỗi buổi một con chiên nhỏ cỡ một tuổi làm của lễ tòan thiêu để đền tội thay cho dân chúng. Như vậy, tội lỗi của cả dân chúng mỗi buổi đều đổ hết lên đầu con chiên, và con chiên gánh tội ấy  phải chết để đền tội thay cho dân chúng, hầu dân chúng được khỏi tội trước Thiên Chúa. Tội lỗi của dân chúng đối với Thiên Chúa  đáng lẽ phải trả giá bằng sinh mạng của chính con người, nhưng Thiên Chúa đã chấp nhận để con chiên chết thay con người. Đức Giêsu đã trở thành chiên hy sinh như thế :”Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta”(1Cr 5,7).

    Trước Gioan Tẩy giả rất lâu, các tiên tri đã nói về người tôi tớ kỳ diệu của Chúa một ngày kia sẽ chịu đau khổ và chết như một con chiên, như Isaia đã mô tả :”Người đã bị đối xử tàn tệ, nhưng đã khiêm tốn chịu đựng, như một con chiên sắp bị đưa tới lò sát sinh. Người không hề thốt ra một lời. Người bị bắt, bị tuyên án, và bị dẫn tới chỗ chết… Người đã phải chết vì tội lỗi chúng ta”(Is 53,7-8).

    Những lời của tiên tri Giêrêmia cũng rất phù hợp với con người Đức Giêsu khi ông viết :”Tôi giống như con chiên trung tín bị đem đi giết, và tôi không hề biết họ đang trù tính những điều độc ác chống lại tôi”(Gr 11,19). 

    Thành ngữ “Chiên của Thiên Chúa”là một thành ngữ hết sức kỳ diệu. Tác giả sách Khải huyền đã dùng thành ngữ ấy 29 lần trong sách của mình, và trở thành một trong những danh hiệu quí báu nhất của Chúa Cứu Thế. Chỉ trong một chữ, thành ngữ tóm tắt được tình yêu thương, đức hy sinh chịu khổ và chiến thắng khải hòan của Đức Giêsu.

    Gioan Tẩy giả cho rằng mình chưa từng biết Đấng Cứu thế, nhưng ông lại là bà con với Đức Giêsu, chắc chắn Gioan và Đức Giêsu đã quen biết nhau, nhưng Gioan không biết hoặc biết không chắc chắn Giêsu là Đấng Thiên Sai. Chỉ khi Đức Giêsu đến với ông xin chịu phép rửa và sau đó có những dấu chứng từ trời cao, ông mới biết điều đó cách chính xác. Vì chính Thiên Chúa đã báo trước cho ông điều ấy :”Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”. Khi đã biết đích xác Đức Giêsu là ai, Gioan bắt đầu làm chứng về Ngài.

    1. Đấng xóa tội trần gian

    Khi Đức Giêsu đang đến, Gioan Tẩy giả đã chỉ vào Đức Giêsu và nói :”Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29).  Giới thiệu như thế, Gioan đã cùng một lúc chỉ ra hai thực tại lớn lao về Đức Giêsu : Ngài là Chiên của Thiên Chúa, đồng thời Ngài cũng là Đấng xóa tội trần gian.

    Khi gọi Đức Giêsu là “Chiên của Thiên Chúa”, Gioan xác nhận Đức Giêsu là Đấng vô tội và thánh thiện. Khi nói Đức Giêsu là “Đấng xóa tội trần gian”, Gioan chỉ cho mọi người thấy Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, Đấng Messia, là “tôi tớ đau khổ của Giavê” như tiên tri Isaia đã từng nói đến trong Cựu ước.

    Hai thực tại này gắn liền với nhau nơi con người và sứ mạng của Đức Giêsu. Chính vì là con chiên vô tội của Thiên Chúa, Đức Giêsu mới có thể xóa tội của thế gian. Như con chiên được dùng làm của lễ đền tội trong Cựu ước phải chịu sát tế, Đức Giêsu cũng phải chịu đau khổ và chịu chết để trở nên của lễ hy sinh đền tội cho nhân lọai. Con chiên hiến tế của Cựu ước chỉ là hình bóng và dấu hiệu của Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”, Đấng duy nhất thực sự xóa tội cho con người, Đấng duy nhất đem lại ơn cứu độ, nghĩa là sự tha thứ tội lỗi.

    Đức Giêsu xóa tội của thế gian bằng cách gánh vào mình Ngài tội lỗi của tất cả nhân lọai, từ tội của nguyên tổ Adong cho đến tội của người sau hết của nhân lọai. Với cuộc khổ nạn và cái chết đau thương tủi nhục trên thập giá, Ngài đã đền thay tội lỗi của tất cả nhân lọai. Từ nay nhân lọai đã được giao hòa với Thiên Chúa, được sống trong ân tình của Ngài và cửa thiên đàng đã được mở lại cho tất cả mọi người.


    II. CHÚNG TA CŨNG PHẢI GIỚI THIỆU ĐỨC KITÔ

    Mỗi người Kitô hữu là một người mang sứ mạng của Gioan, nghĩa là giới thiệu Đức Kitô cho người khác biết. Cách thức giới thiệu đó có thể khác nhau : người thì dùng lời nói, kẻ khác bằng hành dộng bác ái, xã hội, hoặc đời sống chân chính theo đúng nghĩa Kitô giáo. Chúng ta có thể giới thiệu Chúa Kitô cho người khác bằng một số việc sau đây :

    1. Sống xứng đáng người Kitô hữu

    Chúng ta đã biết rõ lý lịch của Đức Giêsu, Đấng mà chúng ta xưng tụng bằng danh hiệu : Con Thiên Chúa, Chiên Thiên Chúa, Người Tôi Tớ Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Tất cả những danh hiệu này đã được Chúa Cha ban tặng cho Ngài qua miệng các tiên tri loan báo trong Thánh Kinh, nhất là chính Ngài đóng trọn những vai trò, đã sống gương mẫu thực tế một cách tuyệt hảo những danh hiệu của mình.

    Chúng ta cũng được Chúa ban cho nhiều danh hiệu như dân tư tế, dân thánh, dân được tuyển chọn, dòng tư tế vương giả, môn đệ Chúa, bạn hữu với hàng thần thánh, Kitô hữu… Vậy thử hỏi chúng ta đã sống đúng chức năng của những danh hiệu ấy chưa ? Đối với danh hiệu “Kitô hữu” chúng ta đã sống thế nào ?

    Kitô hữu là một danh hiệu mà thánh Phaolô tông đồ lần đầu tiên đã tặng cho các tin hữu ở Antiochia. Thời kỳ đầu các tín hữu đã có một cuộc sống rất gương mẫu làm cho dân ngọai phải ngạc nhiên. Sách Công vụ Tông đồ còn ghi lại :”Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu.  Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa, và được tòan dân thương mến. Và Chúa cho cộng đòan mỗi ngày có thêm những người được cứu độ”(Cv 2,44-47).

    Người Kitô hữu là muối, là linh hồn của thế gian. Họ là thành phần của đám đông nhưng lại hành động như men. Họ không thể phân biệt khỏi quần chúng, nhưng họ khác biệt hòan tòan. Một tác giả vô danh hồi thế kỷ thứ 3 đã viết trong tác phẩm gửi cho Diognetus như sau:

    “Người Kitô hữu không khác với những người khác về cư trú, về ngôn ngữ hay về lối sống. Bởi vì họ không cư ngụ thành nào riêng biệt, cũng không dùng ngôn ngữ nào khác thường và nếp sống của họ chẳng có chi khác biệt. Không phải do suy tư hay bận tâm tra cứu mà họ khám phá được các giáo thuyết. Họ không chủ trương một giáo điều nào của lòai người như một số người nọ. Họ sống rải rác trong các thánh phố Hy lạp lẫn trong các thành thị của người Mandi, tùy theo số phận dun dủi. Họ sống theo tập tục của dân bản xứ trong cách phục sức, ăn uống, và cách sống  nhưng bộc lộ một thái độ sống   khiến nhiều người cho là lạ lùng, khó tin nữa. Họ sống trong quê hương của họ mà như những kẻ ở đâu. Họ tuân thủ mọi cái chung như các công dân khác và chịu mọi gánh nặng dường như ngọai kiều. Miền xa lạ cũng là quê hương của họ nhưng mọi quê hương chỉ là đất khách cho họ mà thôi. Họ cũng dựng vợ gả chồng như ai và sinh đẻ con cái, nhưng chẳng hề bỏ con. Họ đồng bàn nhưng chẳng đồng sàng…”(Trích Các bài đọc II, Mùa Phục sinh, tr 84).

    Muốn chiếu giãi ánh sáng  Chúa Kitô cho người khác, chúng ta phải chiêm ngắm Chúa Kitô bằng cách học hỏi Lời Chúa, áp dụng vào đời sống hằng ngày để chúng ta có thể nói được như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi”(Gl 2,19). Nếu Đức Kitô sống trong ta, Ngài sẽ hóan đổi dần con người của ta để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài, chắc chắn chúng ta sẽ chiếu giãi Chúa Kitô cho người khác được.

                                          Truyện : Nét mặt Chúa Giêsu.

    Du khách đến Rôma thường đi thăm ngôi thánh đường cổ tên là Dominus sub aquis, vì phía trên bàn thờ có một tượng thánh giá rất đặc biệt : bất cứ ai đến quì trước thánh giá cầu nguyện với tất cả lòng thành đều được sức mạnh và niềm an ủi thẳm sâu.

    Người ta kể rằng : Tác giả tượng thánh giá bằng cẩm thạch này đã mất rất nhiều năm mới hòan thành được tác phẩm. Hơn hai lần, mỗi khi treo bức tượng lên để ngắm nhìn, ông lại cho kéo xuống và đập bỏ, vì ông cho rằng  tác phẩm vẫn chưa diễn đạt được điều ông muốn. Khi ông bắt tay vào công trình lần thứ ba thì cũng là lúc ông gặp nhiều thử thách nhất. Nhiều người ganh tị nên tìm cách hạ uy tín ông. Vợ con ông qua đời trong những hòan cảnh thật đáng thương.

    Ai cũng tưởng rằng  cơn thử thách đã khiến ông bỏ cuộc. Trái lại ông càng miệt mài chú tâm vào công trình.  Người nghệ sĩ dồn tất cả niềm đau của mình lên khuôn mặt của Đức Kitô. Bức tượng của Chúa Giêsu trên thánh giá không còn là phiến đá lạnh lùng, xa lạ, mà trở thành niềm đau đậm nét của một tâm hồn. Bức tượng đã trở nên sống động và có sức thu hút do chính tâm tình mà người nghệ sĩ muốn tháp nhập vào đó (Thiên Phúc, Tất cả là Hồng ân tr 52-53).

    1. Phải nên thánh

    Trong bài đọc 2 hôm nay, trong phần đầu thư gửi cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô hai lần nhấn mạnh từ “kêu gọi”. Ngài được Chúa kêu gọi vào sứ mạng tông đồ, còn họ được “kêu gọi” nên thánh. Nên thánh không có nghĩa là phải làm những việc lạ lùng phi thường, nhưng tùy theo khả năng và môi trường, phải hành động để nối tiếp công việc của Chúa Giêsu, Đấng xóa tội trần gian, cứu thóat thế gian khỏi vòng tội lỗi.

    Người Á đông thường lấy câu nói của Vương Dương Minh làm châm ngôn trong cuộc sống :”Nội thánh, ngọai vương” : bên trong là một vị thánh, bên ngòai là một ông vua. Có lẽ đây là lời người ta khen vua Thương và vua Thang là những ông vua tốt lành gương mẫu xứng đáng cho người ta gọi là “thánh vuơng”. Khác với hai vị vua này là vua Trụ và vua Kiệt là hai vị vua độc ác đến nỗi người đời phải tặng cho hai chữ “bạo vương”.

    Vua Đavít đã thực hiện được câu châm ngôn “Nội thánh ngọai vuơng”, xứng đáng cho người ta gọi là thánh vương Đavít. Còn chúng ta không phải là bậc vua chúa mà chỉ là một Kitô hữu bình thường, chúng ta có thể thực hiện được câu châm ngôn ấy không ? Chắc chắn là được !

    Cần nhất phải có cái nội là thánh vì nó là điều căn bản, còn cái ngọai vuơng là gì cũng được, là vua hay dân cũng được và có thể là bất cứ ai, ở vào bất cứ hòan cảnh nào.

    Nếu ta là vua thì cái “ngọai vương” đó làm cho người ta biết rằng Thiên Chúa là vua trời đất, vua tối cao, vua trên hết các vua, chúa trên hết các chúa, mọi người phải phụng thờ Ngài.

    Nếu ta là người giầu có thì cái ngọai vương của ta làm cho người ta biết Thiên Chúa là Đấng giầu sang khôn ví, Ngài đã tạo dựng nên vạn vật và đã ban mọi sự cho con người, hãy biết ơn và cảm tạ Ngài.

    Nếu ta là người nghèo khó, hèn hạ thì cái ngọai vương của ta phải làm cho họ biết rằng Thiên Chúa giầu sang phú quí, vì yêu thương nhân lọai đau khổ đã bỏ mọi vinh quang trên trời, xuống thế làm người ở với con người, đã trở nên nghèo hèn  cho giống con người và sau cùng chịu chết trên thập giá để cứu chuộc con người.

    Khi chúng ta đã có một đời sống lành thánh bên trong thì tự nhiên bản thân ta sẽ phát ra một cái gì tốt lành khả dĩ khiến người khác phải mến phục. Từ chỗ họ mến phục cuộc sống chúng ta, họ sẽ mến đạo, tin theo đạo và tất nhiên họ sẽ tìm đến Chúa.

    Tuy người ta chưa biết Chúa ngay, nhưng qua trung gian chúng ta họ sẽ biết Chúa từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ cái xa đến cái gần, từ cái ngòai đến cái trong, từ con người của ta đến với Chúa. Nên người đời thường nói :

                                           Lụa tốt xem biên, người hiền xem tướng.

                                  hoặc

                                                Xem mặt mà bắt hình dong,
                                           Con lợn có béo thì lòng mới ngon. 

    Muốn được thế, chúng ta phải thực hành Lời Chúa :”Ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha của các con, Đấng ngự trên trời”(Mt 5,16).

    1. Sống khiêm nhường nhịn nhục 

    Trong cách giới thiệu của Gioan về Đức Giêsu, ta thấy ông luôn luôn làm cho Đức Giêsu nổi bật lên, đồng thời tự làm cho mình lu mờ đi :”Ngài phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”(Ga 3,30).  Gioan đã phải từ bỏ “cái tôi” của mình để thể hiện được sự quên mình theo tinh thần tự hủy của Đức Giêsu (Pl 2,6-8).

    Nhà hiền triết Lão Tử đã đưa ra chủ trương “Nhu nhược thắng cương cường”, cái mềm yếu lại thắng cái mạnh mẽ. Do đó quan niệm “Nhu thắng cương, nhược thắng cường” (mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh) có thể làm cho chúng ta dễ chấp nhận. Đúng vậy, thánh Phaolô đã nói thẳng :”Tôi vui thỏa trong các nỗi yếu đuối… vì khi tôi yếu thì chính bấy giờ là tôi mạnh”(2Cr 12,10).

    Nhà thơ La Fontaine có một câu truyện ngụ ngôn rất thích hợp với đề tài của chúng ta.

                                          Truyện : Cây dẻ và cây sậy.

    Cây dẻ tự hào  mình là thứ cây cổ thụ cao lớn đồ sộ, hiên ngang đứng giữa trời đất giang tay đón gió. Dẻ đưa mắt nhìn xuống đám cây lau sống lụp xụp trong bùn dưới chân mình. Dẻ tỏ vẻ khinh khi bảo :”Kìa lòai chi chúng bay  mà ta vừa rung lá, bay đã cúi đầu lo sợ”. Khóm lau trả lời :”Chúng tôi cúi đầu mà không gẫy thân. Còn ông hãy coi chừng”. Và cứ thế, lời qua tiếng lại mỗi ngày. Bỗng một ngày kia, trận bão từ biển Đông thổi vào. Cây dẻ cứ đứng vững như trồng, còn lau đua nhau cúi sát mặt. Nhưng trên gió cứ thổi lên, thổi lên từng hồi. Dẻ ta vẫn đứng sừng sững, còn lau nằm sát nước. Bỗng một tiếng đổ sụp vang trời dội đất. Cây dẻ đã trốc rễ và vật mình nằm sõng sượt không thốt lên lời. Qua cơn bão táp, lau đứng dậy vững vàng .

    Vâng, lau cúi mình nhưng lau không bị gẫy. Lời thánh Phaolô “trong lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh” là thế đó !

    1. Tinh thần biết ơn Chúa

    Chúng ta biết Cựu ước chỉ là hình bóng của Tân ước và hình bóng của luật cũ đã nên trọn vẹn trong Luật mới. Không chỉ trong Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu được gọi là Con Chiên. Thánh Phêrô cũng nói về Đức Kitô là Con Chiên. Trong sách Khải huyền, thánh Gioan gọi Con Chúa là Con Chiên ít nhất 28 lần. Ông đã chỉ rõ Đức Kitô là Con Chiên bị chết vì tội lỗi lòai người, của các dân tộc. Ông cũng nhấn mạnh sự thật rằng : Con Chiên đây là Con thật của Thiên Chúa, rằng Ngài tăng cường sức mạnh cho những kẻ tin theo Ngài, Ngài chiến thắng Satan. Do đó, chúng ta phải tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với Chúa Giêsu, Con Chiên Thiên Chúa đã cứu chúng ta khỏi định mệnh mất ơn nghĩa đời đời. Chúa Giêsu đã tự ý và yêu thương mà hy sinh mạng sống Ngài cho chúng ta được sống.

                                          Truyện : Được sống nhờ con chiên.

    Trên mái một nhà thờ ở Werden, nước Đức, người ta có thể nhìn thấy một tảng đá chạm trổ một con chiên. Đây là câu chuyện về tảng đá đó. Một công nhân đang làm trên mái nhà thờ này thì dây thừng an tòan bị đứt, anh công nhân bị rớt xuống sân nhà thờ, mà sân thì xếp đầy những đống đá lớn. Thế nhưng anh công nhân không bị thương nặng. Có một con chiên đang gặm cỏ giũa hai khối đá lớn. Anh công nhân rớt xuống trên con chiên và đè nó chết, làm tiêu tan điều được coi là  cú rơi định mệnh.

    Để nhớ ơn, anh công nhân đã chạm trổ một con chiên bằng đá và đặt trên mái nhà thờ. Đó là một cách tốt đẹp bày tỏ lòng biết ơn của anh ta đối với một con vật đần độn, đã cứu mạng anh mà nó không biết (Arthur Tonne).

    Thánh lễ nào cũng là thánh lễ tạ ơn. Chúng ta sốt sắng dâng Thánh lễ này để cảm tạ Chúa vì công ơn cứu chuộc Đức Kitô đã dành cho chúng ta, và trước khi rước lễ, chúng ta cầu xin với Chúa Giêsu bằng lời nguyện “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con”.

    Liền sau lời nguyện đó, Linh mục chủ tế cũng giới thiệu Chúa Giêsu Thánh Thể cho chúng ta bằng những lời Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu với dân chúng năm xưa :”Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…”

    Lúc ấy, chúng ta hãy sốt sắng hiệp cùng Mẹ Maria nài xin Chúa Giêsu Thánh Thể mà ta sẽ rước vào lòng cho ta biết kết hợp mật thiết với Người, để nhờ Người và trong Người  ta sẽ sống như những con chiên đích thực của Chúa, những con người biết sống yêu thương tha thứ và hiệp nhất trong tình yêu thương.

    Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà Lạt

    …………………………………….

    Suy Niệm 3: Đây Chiên Thiên Chúa

    Chúng ta được dạy dỗ những nguyên tắc cơ bản trong đối nhân xử thế và trong xã giao chúng ta có thể áp dụng nhiều cách khác nhau để giới thiệu một người với cộng đoàn hay giúp cộng đoàn làm quen với một người. Nhưng thông thạo hoặc chỉ dựa vào đó thì chưa đủ. Muốn làm quen và hiểu biết một người chúng ta phải tập tin tưởng kẻ ấy và cần có một đoạn đường cùng đồng hành với nhau. Là phúc hay là hoạ? Câu hỏi sẽ được đặt ra khi con người đã có thời gian chia sẻ cuộc sống chung. Chúng ta đã biết nhau từ lâu rồi nhưng có chắc là chúng ta thực sự hiểu biết nhau! Ngoài dáng vẻ bề ngoài và một vài thói quen chúng ta còn gì để nói nữa không?

    Đức Giêsu cũng không ngọai lệ. Ngài cũng giống như một người lạ mặt được giới thiệu để mọi người làm quen và khám phá những nét cá biệt qua óc tò mò và sự quan sát của từng người. Khởi đầu cho chuyến phiêu lưu để làm quen với Đức Giêsu là lời tuyên xưng của Gioan Tiền hô: “Đây là Chiên Thiên Chúa”. Nhưng sau đó hai lần liên tiếp ông đã khẳng định rất rõ ràng: “Tôi đã không biết Người”. Lòng tin của ông Gioan vào Đức Giêsu không giống như của kẻ nằm dưới gốc cây chờ sung rụng vào miệng. Các thánh sử không tường thuật về cuộc gặp gỡ nào khác giữa ông với Đức Giêsu ngoại trừ lần Đức Maria ghé thăm khi ông còn trong dạ mẹ. Ông đã được ban một linh cảm đặc biệt khi đối diện với Đức Giêsu. Thánh Luca diễn tả rằng ông đã vỡ oà niềm vui, hớn hở nhảy mừng trong lòng bà Isave.

    Trong thực tế, chúng ta không thể đi đến tận cùng trong mối quan hệ với Đức Giêsu. Bởi vì càng tiến sâu vào, chúng ta dường như bị đắm chìm vào biển rộng mênh mông, vào mầu nhiệm vô phương dò thấu của Thiên Chúa. Một sự thật trớ trêu vẫn mãi tồn tại: Sau bao năm sống đạo, sau bao năm làm linh mục tu sĩ chúng ta cứ tưởng mình hiểu biết về Đức Giêsu khá nhiều. Rốt cục chúng ta cũng chỉ là “gà mờ”! Chính Đức Giêsu cũng phải ngạc nhiên khi trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Philipphê, anh chưa biết Thầy ư?” Thật là một thảm hoạ, một đè nén bức xúc khi chúng ta đưa mắt nhìn những cảnh lầm đường lạc lối chỉ vì lầm tưởng hiểu sai về Đức Giêsu. Nhưng có lẽ cũng là may mắn, là phúc theo ý nghĩa của lời thánh vịnh: “Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao, tính chung lại, ôi nhiều vô kể! Đếm sao nổi, vì nhiều hơn cát; dù có đếm xong, con vẫn ở với Ngài.”

    Gioan Tiền hô là một người sống cô tịch trong hoang địa trước mặt Chúa, ông đã dùng toàn bộ sức mạnh của con tim để hoàn thành sứ mạng và dùng sự nhạy cảm để nhận biết sứ mạng của Thiên Chúa nơi người khác. Ông đã dùng ba lời ngắn gọn để diễn tả cảm nghiệm của ông khi gặp gỡ Đức Giêsu. Ông đã giới thiệu đồng thời cũng thúc dục chúng ta mạnh dạn lên đường để làm quen và tìm hiểu Ngài. “Tôi đã không biết Người”. Đây cũng chính là khởi điểm dành cho chúng ta. Con người biến đổi theo thời gian và một bí mật luôn bao trùm quanh mỗi một người trong chúng ta. Đã có muôn vàn hiểu lầm và thiếu cảm thông trong cuộc sống chung và nhất là trong mối quan hệ riêng tư của chúng ta với Đức Giêsu. Có lẽ đây là một thông báo đầy sáng tạo và ý nghĩa của hai người vừa mới được làm cha mẹ: “Kiều Nga …sinh ngày mồng 8 tháng giêng … Chúc mừng bước đầu đời tiến đến tự do … Chúng tôi thật hạnh phúc và muôn vàn cảm tạ”. Tuyệt vời biết bao khi bước đầu đời tiến đến tự do và làm quen với thế giới trong niềm tri ân và cảm tạ. Phải chăng điều đó cũng đã xảy ra với chúng ta trong ngày lãnh nhận phép Rửa?

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com