spot_img
Thêm

    Chúa Nhật 2 MC/ A

    BÀI ĐỌC I: St 12, 1-4a

    Khi ấy, Chúa phán cùng Abram rằng: “Ngươi hãy từ bỏ quê hương, họ hàng và nhà cửa cha ngươi mà đi đến xứ Ta chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, Ta sẽ ban phúc cho ngươi, cùng làm vinh danh ngươi, ngươi sẽ được diễm phúc. Ta sẽ ban phúc cho ai chúc phúc ngươi, và chúc dữ cho ai chúc dữ ngươi. Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ nhờ ngươi mà được diễm phúc”. Abram liền ra đi, như lời Thiên Chúa phán dạy.

    BÀI ĐỌC II: 2 Tm 1, 8b-10

    Con thân mến, con hãy đồng lao cộng tác với Cha vì Tin Mừng, nhờ quyền lực của Thiên Chúa, Ðấng giải thoát và kêu mời chúng ta bằng ơn thiên triệu thánh của Người, không phải do công việc chúng ta làm, mà là do sự dự định và ân sủng đã ban cho chúng ta từ trước muôn đời trong Ðức Giêsu Kitô, nhưng bây giờ mới tỏ bày bằng sự xuất hiện của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Chuộc chúng ta, Người đã dùng Tin Mừng tiêu diệt sự chết và chiếu soi sự sống, và sự không hư nát được tỏ rạng.

    PHÚC ÂM: Mt 17, 1-9

    Khi ấy, Chúa Giêsu đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông: mặt Người chiếu sáng như mặt trời, áo Người trở nên trắng như tuyết. Và đây Môsê và Êlia hiện ra, và đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng, thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Nếu Thầy ưng, chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia”. Lúc ông còn đang nói, thì có một đám mây sáng bao phủ các Ngài, và có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Ðây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người”. Nghe thấy vậy, các môn đệ ngã sấp xuống, và hết sức sợ hãi. Bấy giờ Chúa Giêsu đến gần, động đến các ông và bảo: “Các con hãy đứng dậy, đừng sợ”. Ngước mắt lên, các ông thấy chẳng còn ai, trừ ra một mình Chúa Giêsu. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các ông rằng: “Các con không được nói với ai về việc đã thấy, cho tới khi Con Người từ cõi chết sống lại”.

    Suy Niệm 1:  HÃY VÂNG NGHE LỜI NGƯỜI!

    Chúa nhật 2 Mùa Chay có thể được gọi là ‘Chúa nhật Biến hình’, theo nội dung bài Tin Mừng của cả ba năm A, B và C. Nhưng xét toàn bộ cấu trúc phụng vụ Lời Chúa, thì bức tranh tổng quan còn lớn hơn nữa, chứ không chỉ là câu chuyện Chúa Biến Hình.
    Bài đọc Sáng thế, đầu chương 12, mở ra câu chuyện Thiên Chúa kêu gọi Abraham ra đi, với lời hứa biến ông thành một dân tộc được chúc phúc… Abraham trông cậy vào lời Thiên Chúa hứa, đã lên đường, dấn bước vào công cuộc của Chúa…
    Dân Chúa được hình thành. Và đó là một câu chuyện dài, với đủ cung bậc và sắc thái. Nhưng xuyên qua tất cả các biến cố, điều nổi bật là Thiên Chúa đào tạo họ lớn lên dần trong đức tin và trong lòng trông cậy theo gương mẫu của tổ phụ mình – như lời Thánh vịnh 32 (Đáp ca): “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài”…
    Đoàn dân của Cựu ước ấy là hình ảnh cho đoàn Dân mới của Thiên Chúa, được Chúa Giêsu Kitô thiết lập qua cái chết, sự sống lại và quà tặng Thánh Thần của Người. Thánh Phaolô nêu rõ điều này trong Bài đọc 2, trích từ Thư 2 Timôthê: “Thiên Chúa đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Ngài, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Ngài… Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử”…
    Sự xuất hiện của Mô sê và Êlia với Chúa Giêsu trong biến cố Biến hình, với sự hiện diện của ba môn đệ thân tín (Phê rô, Gia cô bê và Gioan) là một xác nhận cho Câu Chuyện lớn và duy nhất của Thiên Chúa: câu chuyện Thiên Chúa cứu độ nhờ công cuộc của Chúa Giêsu Kitô. Hãy lưu ý rằng biến cố Biến hình này liên quan trực tiếp tới cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại của Chúa!
    Những cái tên, những nhân vật, những câu chuyện được đề cập qua toàn bộ cấu trúc phụng vụ Lời Chúa hôm nay rõ ràng nêu bật/ làm chứng cho tính trung tâm của con người và sứ mạng của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng ta. Và chúng ta hiểu điều mà Chúa Cha chứng thực và kêu gọi: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (x. Mt 17,1-9).
    Biến cố Biến hình của Chúa, vì thế, chất vấn mỗi chúng ta hôm nay: Đức Giêsu Kitô là ai đối với tôi? Và biến cố này thúc giục tôi tin Người, vâng nghe Người, để ĐƯỢC BIẾN ĐỔI NHỜ THÁNH THẦN của Người.
    Đó là cốt lõi cuộc hoán cải Mùa Chay của chúng ta.
    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
    …………………………….

    Suy Niệm 2: SỐNG ĐỜI SỐNG MỚI TRONG ĐỨC KITÔ

     

    Sau khi trình bày cho chúng ta về sự kiện Chúa Giêsu đối diện với những cám dỗ và chiến thắng trong Chúa Nhật I – Mùa Chay, lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng cuộc biến hình của Chúa Giêsu. Điều này chỉ ra cho chúng ta mục đích của mùa chay, đó là một hành trình đi từ sự chết đến vinh quang, một cuộc biến đổi hoàn toàn để trở thành con người mới trong Đức Kitô. Để đạt được điều đó, chúng ta hãy để lời Chúa hướng dẫn.

    Trong bài đọc 1, tác giả sách Sáng Thế trình bày cho chúng ta ‘ơn gọi’ của Ápram. Ông đã được Đức Chúa chọn để làm cha của một dân tộc được tuyển chọn mà qua đó Ngài sẽ thực hiện lời hứa cứu độ của Ngài. Cũng giống như bất kỳ ơn gọi nào trong Kinh Thánh khi được Đức Chúa gọi, Ápram cũng phải bỏ lối sống cũ để đi theo hành trình mà Đức Chúa đã vạch ra: “Hồi ấy, Đức Chúa phán với ông Ápram: ‘Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi’” (St 12:1). Bên cạnh đó, Đức Chúa sẽ làm cho ông trở nên vĩ đại: “Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12:2). Không những Đức Chúa chúc lành cho chính Ápram, nhưng còn chúc phúc cho những người làm tốt cho Ápram và qua ông mọi dân tộc sẽ được chúc phúc: “Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 14:3). Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại cuộc sống của mình. Mỗi người chúng ta được mời gọi để trở nên lời chúc phúc cho người khác. Chúng ta phải chân nhận rằng, nhiều lần chúng ta đã trở nên gánh nặng hoặc ‘lời chúc dữ’ cho người khác. Chúng ta cần phải học ở Ápram. Khi nghe tiếng Chúa mời gọi từ bỏ ‘quê cha đất tổ,’ nơi mang lại sự an toàn thì ông “Ápram ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông” (St 12:4a). Hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa và bước theo sự hướng dẫn của Ngài, hầu trở nên nguồn chúc phúc cho nhiều người.

    Về phần mình, Thánh Phaolô trong bài đọc 2 đã khích lệ Timôthê trong việc loan báo Tin Mừng. Mục đích của một cuộc đời biến đổi là hoàn toàn sống theo Tin Mừng và cho Tin Mừng. Tuy nhiên, Thánh Phaolô khuyến cáo Timôthê rằng những việc họ làm trong việc loan báo Tin Mừng không phải là công trạng của họ, mà tất cả là do kế hoạch và ân sủng của Thiên Chúa được biểu lộ nơi Đức Giêsu Kitô: “Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Kitô Giêsu, nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Kitô Giêsu đã xuất hiện. Chính Đức Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tim 9-10). Trong những lời này, chúng ta thấy Thánh Phaolô hướng Timôthê về trung tâm điểm của Tin Mừng, đó là Đức Giêsu Kitô. Nơi Ngài, chúng ta được hưởng đời sống mới trong ân sủng, đời sống trường sinh bất tử. Theo Thánh Phaolô, để sống đời sống mới, đời sống biến đổi, chúng ta cần phải nhìn lên Chúa Giêsu như là gương mẫu của mình.

    Chúa Nhật II Mùa Chay [năm A] trình bày cho chúng ta về sự kiện Chúa Giêsu biến hình. Đây là một biến cố quan trọng nên được cả ba tác giả sách Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại (x. Mc 9:2-13; Lc 9:28-36). Sự kiện xảy ra sau “sáu ngày.” Điều này nhắc lại cho chúng ta sự kiện xảy ra được trình thuật trong sách Xuất Hành (Xh 24:13-16), Đức Chúa đã mặc khải chính mình cho Môsê sau sáu ngày. Việc Chúa Giêsu biến hình sau sáu ngày trước ba môn đệ cũng chính là một mặc khải, một cuộc hiển linh của Ngài nhằm cho các môn đệ biết chân tính thật của Ngài: “Khi ấy, Đức Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17:1). Ba môn đệ xuất hiện trong sự kiện này cũng sẽ xuất hiện trong vườn Cây Dầu. Nói cách cụ thể hơn, ba môn đệ này bên Chúa Giêsu trong giây phút biến hình vinh hiển và trong giây phút buồn sầu đau khổ. Chi tiết này mời gọi chúng ta nhìn lại hành trình theo Chúa của mình. Nhiều lần chúng ta chỉ muốn theo Chúa trong lúc vinh quang, chứ không muốn theo Ngài khi gặp gian nan thử thách. Chúng ta được mời gọi ở bên Chúa trong mọi lúc: lúc vui cũng như lúc buồn, lúc thành công cũng như khi thất bại. Nói cách khác, dù cuộc sống có thế nào, chúng ta cũng hoàn toàn đặt trọn con tim mình vào Chúa. Điểm thứ hai chúng ta cần lưu ý trong những lời trên là hình ảnh “núi cao.” Trong Kinh Thánh, núi là biểu tượng của sự mặc khải. Trong bối cảnh của Tin Mừng, “núi cao” mà Chúa Giêsu đem các môn đệ lên được xem là “Sinai ở Galilê.” Chính khi “đi lên cao,” chúng ta sẽ được chứng kiến vinh quang Chúa. Điều này ám chỉ rằng: Chỉ khi chúng ta tiến cao và xa trong đời sống tương quan mật thiết với Chúa, chỉ khi chúng ta đi lên cao trong đời sống nhân đức, chỉ khi chúng ta ngước mắt nhìn về trời cao trong hành trình dương thế của mình, chúng ta mới thấy được vinh quang Thiên Chúa tỏ hiện trong từng ngày sống của chúng ta và như thế cuộc sống chúng ta sẽ được biến đổi.

    Một trong những hình ảnh quan trọng trong sự kiện Chúa Giêsu biến hình là ánh sáng: “Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17:2). Những lời này trình bày cho chúng ta biết việc Chúa Giêsu biến đổi trở thành ánh sáng chiếu soi vào chốn tối tăm đang bao trùm trên các môn đệ sau khi Ngài tiên báo lần thứ nhất về cuộc thương khó và sự phục sinh của Ngài (x. Mt 16:21-28). Thật vậy, Chúa Giêsu trở thành ánh sáng để mặc khải cho các môn đệ biết Ngài thật sự là ai. Ngài là Đấng mà Sách Luật nói đến và các Ngôn Sứ tiên báo được đại diện qua hai hình ảnh Môsê và Êlia: “Và bỗng các ông thấy ông Môsê và ông Êlia hiện ra đàm đạo với Người” (Mt 17:3). Theo truyền thống của người Do Thái, mọi sự để được chứng minh là chân thật, cần phải có hai nhân chứng. Chân tính của Chúa Giêsu là ai được Môsê và Êlia làm chứng cho các môn đệ.

    Đứng trước đặc ân này, Phêrô đại diện cho hai môn đệ kia sung sướng kêu lên: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia” (Mt 17:4). Những lời của Phêrô đưa chúng ta vào bối cảnh phụng vụ của sự kiện, đó là hình ảnh lều. Theo các học giả Kinh Thánh, chi tiết này cho thấy sự kiện Chúa Giêsu biến hình xảy ra trong dịp lễ Lều của người Do Thái (x. Lv 23:42; Neh 8:14-18). Chính bối cảnh phụng vụ này mang lại ý nghĩa cho sự kiện vì nó gợi lại cho các môn đệ hành trình của dân Israel trong sa mạc khi Đức Chúa đồng hành với họ qua Hòm Bia được đặt trong lều ở giữa dân và vinh quang của Thiên Chúa bao phủ lều thánh. Chúng ta nhận ra điều này qua hình ảnh của đám mây bao phủ các môn đệ: “Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Mt 17:5). Theo truyền thống Kinh Thánh hình ảnh đám mây là biểu tượng của sự hiện diện của Thiên Chúa, là Shekina, là đám mây của sự “Không Biết” mà trong đó chúng ta được gặp và lắng nghe Thiên Chúa. Trong lời chứng của Chúa Cha, Chúa Giêsu là “Con yêu dấu.” Trong hình ảnh này, Chúa Giêsu được thánh Mátthêu xem như là Con Thiên Chúa, là Người Tôi Trung đau khổ và là vị Ngôn Sứ như Môsê. Trong chi tiết này, Thánh Mátthêu chỉ ra cho chúng ta rằng Chúa Giêsu là con yêu dấu của Chúa Cha không chỉ trong giây phút vinh quang, nhưng còn trong giây phút đau khổ như một người tôi trung. Đây chính là lời mời gọi cho chúng ta, những người được trở nên con cái của Thiên Chúa qua bí tích rửa tội. Nhưng chúng ta đã sống như những người con yêu dấu của Thiên Chúa chưa? Là những người con yêu dấu của Thiên Chúa, chúng ta phải luôn trung thành với Ngài trong mọi giây phút của cuộc sống: dù là vinh qua hay đau khổ.

    Lm. Anthony, SDB.

    ………………………

    Suy Niệm 3:  ƠN GỌI BIẾN HÌNH ĐỔI DẠNG

    A. DẪN NHẬP

    Thứ Tư Lễ tro đã khai mạc Mùa Chay thánh. Nói tới Mùa Chay, hầu như chúng ta có cái cảm giác là phải khép mình buớc vào con đường khắc khổ, hy sinh, từ bỏ, một mùa “khó nhá lắm”!  Đúng vậy, chính Đức Giêsu đã nói cho các môn đệ đang theo Ngài :”Nếu ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo”(Mt 16,14). Ngòai ra, Ngài còn tiết lộ cho các ông : Ngài sẽ lên Giêrusalem, phải bị bắt, bị đánh đòn, giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại. Đúng là một tin sét đánh. Các môn đệ cảm thấy bàng hòang lo sợ cho tương lai. Các ông phải buớc vào mùa Chay và mùa Thương khó.

    Nhưng tám ngày sau khi tiết lộ tin sét đánh ấy, Đức Giêsu đã đem nhóm bộ ba là Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện và Ngài đã biến hình sáng láng trước mắt các ông. Cảnh tượng này làm các ông hết sức ngạc nhiên và hứng thú, đến nỗi ông Phêrô đề nghị với Chúa để dựng lều ở luôn trên núi không xuống nữa. Nhưng thực tế là người ta phải xuống núi để còn phải chu tòan bao nhiệm vụ gai góc và nguy hiểm nữa. Phải chăng Đức Giêsu hé mở cho các ông thấy một chút vinh quang để kích thích các ông đi vào con đường khổ giá mà Ngài sắp phải trải qua trong những ngày sắp tới ?

    Mọi Kitô hữu chúng ta cũng phải đi theo con đường khổ giá của Chúa. Đi theo con đường khổ giá là phải từ bỏ mình và vác thập giá. Từ bỏ mình là phải thay hình đổi dạng, phải lột bỏ con người cũ xấu xa tội lỗi mà mặc lấy con người mới tốt lành thánh thiện hơn. Điều đó đòi hỏi một cuộc canh tân tòan diện. Cuộc canh tân này phải kéo dài và đòi hỏi chúng ta phải cố gắng liên miên, phải liều mình theo tiếng gọi của Chúa giống như tổ phụ Abraham xưa. Nhưng chắc chắn cuộc canh tân này sẽ dẫn ta đi tới đích mặc dầu phải trả một giá rất đắt vì “Per cruem ad lucem”.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA 

    + Bài đọc 1 : St 12,1-4.

    Theo sách Sáng thế, sau khi tổ tông lòai người sa ngã phạm tội, cửa thiên đàng đóng lại, hạnh phúc tan biến mất. Nhưng theo dòng thời gian Thiên Chúa không quên lòai người đang phải sống lầm than dưới ách tội lỗi, Ngài đã chọn tổ phụ Abraham để thực hiện chương trình  đưa lòai người trở về hạnh phúc ban đầu.

    Thiên Chúa gọi tổ phụ Abraham rời bỏ Ur, một cuộc sống an cư lạc nghiệp cùng với bà con, với tài sản đầy đủ. Thiên Chúa truyền cho ông  hãy rời bỏ tất cả mà ra đi, phải làm một cuộc hành trình đầy phiêu lưu. Phiêu lưu vì Thiên Chúa không cho ông biết nơi sẽ đến, tương lai sẽ ra sao ! Ngài chỉ bảo :”Hãy đi khỏi xứ sở ngươi, khỏi quê quán ngươi, đến đất ta sẽ chỉ cho ngươi”(St 12,1). Nhưng tổ phụ Abraham đã đặt hết tin tưởng vào Chúa, ông lên đường, phó thác hòan tòan vào Chúa, còn tương sẽ để Ngài lo.

    + Bài đọc 2 : 2Tm 1,8b-12.

    Thánh Phaolô khuyên dụ Timôthêô hãy thực hành ơn gọi Kitô hữu của mình là dấn thân vào một cuộc hành trình phiêu lưu theo Chúa. Như thế chưa đủ, ngài còn khuyên phải đồng lao cộng khổ với nhau làm một cuộc hành trình thứ hai cũng đầy gian khổ là lên đường loan báo Tin mừng. Chính Chúa Kitô đã dùng Tin mừng  tiêu diệt sự chết và chiếu soi sự sống.

    + Bài Tin mừng : Mt 17,1-19.

    Trước đây Đức Giêsu đã nói với các môn đệ :”Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”(Mt 16,24). Lời mời gọi này có thể làm cho các môn đệ chùn bước vì phải làm  một cuộc hành trình đầy gian khổ và cũng có tính cách phiêu lưu như trường hợp của tổ phụ Abraham xưa. Nhưng hôm nay Đức Giêsu biến hình trước mặt ba Tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan để khuyến khích  các ông theo Ngài, nhất là trong cuộc khổ nạn sắp tới của Ngài; đồng thời cũng hé mở cho các ông thấy một chút tương lai của cuộc hành trình ấy, nghĩa là sau khi qua gian khổ thì sẽ tới vinh quang.

    Nếu Đức Giêsu là Con Yêu dấu của Thiên Chúa Cha mà còn phải chấp nhận thập giá thì các môn đệ của Ngài  cũng phải dấn thân vào cuộc hành trình của Ngài để tiến tới vinh quang. Việc Đức Giêsu biến hình cũng nhắc nhở cho các môn đệ và chúng ta là  muốn tiến tới vinh quang thì phải thay hình đổi dạng con người tội lỗi của chúng ta để trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

    Chúng ta phải biến hình đổi dạng

    1. ĐỨC GIÊSU BIẾN HÌNH TRÊN NÚI

    Đức Giêsu vừa loan báo cho các môn đệ biết Ngài sẽ lên Giêrusalem, sẽ bị bắt, bị hành hình và sẽ bị giết chết, nhưng ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại (Mt 16,21). Cái tin đột ngột ấy cũng như lời giảng dạy về luật phải từ bỏ mình vác thập giá, đã làm cho các ông bàng hòang lo sợ. Chúa nhận thấy cần phải nâng đỡ tinh thần của họ hay một phần trong nhóm của họ được nhìn thấy vinh quang của Ngài. Vì thế, tám ngày sau, Ngài đưa ba môn đệ lên núi và biến hình trước mặt các ông.

    1. Nơi Đức Giêsu biến hình

    Thánh Matthêu dùng một chữ rất trống “trên núi cao”. Ngày nay hai quả núi đang tranh nhau cái vinh dự được Chúa chọn làm nơi biến hình.

    * Có truyền thuyết cho rằng cuộc biến hình xẩy ra trên núi Taborê, nhưng không lấy gì làm đáng tin. Lý do : trên đỉnh núi Taborê cao 562 mét có một đồn lũy và một tòa lâu đài lớn, ta thấy cuộc biến hình khó có thể xẩy ra trên một hòn núi có đồn lũy, và theo như thánh Luca ghi lại thì chúng ta biết Đức Giêsu lên đó để cầu nguyện, Ngài cần phải có sự yên tĩnh.

    * Có người cho rằng việc biến hình xẩy ra trên núi Hermon. Núi này cao gần 3000 mét, nằm cách Xêsarê Philip 23 cây số. Đó là hòn núi cao, cao đến nỗi người ta có thể nhìn thấy nó từ Biển chết, cách đó 160 cây số. Như thế, việc biến hình không thể xẩy ra trên tận đỉnh núi, vì núi quá cao, và lên núi phải mất một ngày, xuống một ngày, như thế thì quá mệt mỏi.

    * Chúng ta không biết rõ Đức Giêsu đã biến hình ở núi nào. Theo cổ truyền thì núi Hermon không được nhắc tới mà chỉ nói tới núi Taborê. Hơn nữa, núi Taborê được hậu thuẫn ở cổ truyền cho đến thế kỷ IV. Ngày nay trên núi Taborê có nhà thờ lộng lẫy của các cha dòng Phanxicô dâng kính Chúa biến hình.

    1. Những người chứng kiến

    Đức Giêsu chọn nhóm bộ ba đi theo, đó là ông Phêrô, Giacôbê và Gioan. Nhóm này được Đức Giêsu lưu ý đặc biệt : các ông được chứng kiến những việc trọng đại của Chúa, các ông cũng được mục kích việc xẩy ra ở vườn Giệtsimani, lúc Đức Giêsu đang trong cơn hấp hối. Riêng ông Gioan còn đứng chứng kiến giờ Chúa hấp hối trên thập giá nữa.

    1. Hai vị khách đặc biệt

    Tại trên núi, có hai nhân vật xuất hiện gặp Đức Giêsu, đó là ông Maisen và Elia. Maisen là nhà lập luật Do thái dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến. Elia nhà tiên tri trứ danh, vị tiền hô thứ nhất cho Chúa đến. Các ông hầu chuyện với Đức Giêsu về cái chết của Ngài ở ngòai thành Giêrusalem.

    Có thể nói, đó là hai nhân vật lớn nhất trong lịch sử Israel đến với Đức Giêsu, lúc Ngài sắp lên đường, bắt đầu cuộc hành trình mạo hiểm đến nơi chưa biết, để bảo Ngài cứ đi tới. Nhà lập pháp lớn nhất và nhà tiên tri lớn nhất công nhận Đức Giêsu là người họ hằng mơ ước, là người họ đã báo trước. Sự xuất hiện của họ là hiệu lệnh cho Ngài buớc tới. Như vậy, những nhân vật lớn nhất nhân lọai làm chứng rằng Đức Giêsu đã đi đúng đường và khuyên Ngài cứ đi trong cuộc xuất hành mạo hiểm đến Giêrusalem và đồi Golgotha.

    1. Mục đích việc biến hình

    Chắc chắn tâm tư các môn đệ vẫn còn xót xa, hoang mang bởi lời quả quyết của Đức Giêsu khi Ngài tiết lộ cho các ông : Ngài phải tới Giêrusalem,  để chịu nhục hình , bị đối xử như tên tội phạm, chịu đau đớn, bị đóng đinh vào thập giá và chết. Trước mắt họ, tương lai tòan là mầu đen nhục nhã. Nhưng tòan cảnh núi Biến hình là vinh quang. Mặt Đức Giêsu sáng rỡ ràng như mặt trời, áo Ngài rực rỡ chói lòa như ánh sáng…

    Chắc chắn cảnh tượng đó đã làm cho các môn đệ phấn khởi, họ đã thấy vinh quang bên kia cảnh nhục nhã, khải hòan bên kia cảnh đau khổ, vương miện bên kia thập giá. Ngay lúc ấy, họ cũng chưa phải là  đã hiểu trọn vẹn, nhưng chắc chắn họ đã lờ mờ ý thức được rằng thập giá là hòan tòan khổ nhục, nhưng nó đi liền với vinh quang là nét chính của cuộc xuất hành đến Giêrusalem và đến cái chết.

    Đức Giáo hòang Lêô Cả, nhà thần học trứ danh ở thế kỷ thứ 5, đã nói :”Chúa Giêsu biến hình nhằm mục đích giữ trước  cho tâm hồn các môn đệ khỏi cây Thánh giá làm chướng nghịch : Buổi sáng tưng bừng trên núi ấy, ba tông đồ có nhớ lại trong đêm ở vuờn Cây Dầu chăng, khi được mục kích một việc mầu nhiệm khác  mà các ông cũng ngủ lăn lóc, không chú ý đến, tức là Chúa Giêsu hội diện trong u ám với Thiên Chúa hùng mạnh”(Daniel-Rops).

    Qua cuộc biến hình nhiều người đã có cảm nghiệm như thánh Phêrô : ông muốn làm ba lều cho Đức Giêsu, cho Maisen và cho Elia. Ông muốn kéo dài giây phút huy hòang ấy. Ông không muốn trở về với công việc thường ngày, ông muốn ở lại mãi mãi với vinh quang rực rỡ.  Ai đã từng trải qua những giây phút thân mật, trong sáng, bình an, gần gũi với Chúa cũng đều muốn kéo dài những giây phút ấy, như có người đã diễn tả :”Núi Biến hình bao giờ cũng thích thú hơn là công tác phục vụ hằng ngày hay con đường thập giá”(Mc Neil). 

    Nhưng núi Biến hình được ban cho ta  chỉ để cho ta có sức mạnh làm công tác phục vụ sau :”Lạy Chúa, xin hãy giúp con nhớ rằng : đạo không bị giới hạn nơi nhà thờ hay nguyện đường, cũng không chỉ thực hành bằng cầu nguyện  hay suy gẫm mà ở bất cứ nơi nào con được ở trong sự hiện diện của Chúa”(S. Wesley). Giờ phút vinh quang không xuất hiện vì chính nó, nó xuất hiện là để khóac vẻ đẹp lóng lánh, rực rỡ cho những công việc bình thường mà trước kia chúng ta chẳng hề có.

    II. CHÚNG TA PHẢI BIẾN HÌNH ĐỔI DẠNG 

    Muốn theo ơn gọi làm Kitô hữu, chúng ta phải dấn thân làm một cuộc hành trình phiêu lưu gian khổ để theo Chúa Kitô. Dấn thân gợi lên ý tưởng phải liều. Liều đây không có nghĩa là nhắm mắt theo một cách mù quáng, bất chấp tương lai, bất chấp hậu quả tốt xấu, nhưng liều một cách sáng suốt nghĩa là đặt trọn niềm tin vào những lời hứa của Chúa, Đấng hằng trung tín không lừa dối ai, Ngài kêu gọi chúng ta từ bỏ để phiêu lưu theo Ngài, cũng chỉ vì Ngài muốn đưa chúng ta trở về hạnh phúc thuở ban đầu.

    Cuộc hành trình theo Chúa này đòi chúng ta  phải “từ bỏ mình và vác thập giá hằng ngày ”, nghĩa là phải lột bỏ con người xấu xa tội lỗi của mình để được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Hay nói cách khác, chúng ta phải biến hình hằng ngày để có thể “nhật nhật tân, hựu nhật tân” theo khuôn mẫu của Chúa Kitô.

    1. Biến hình đổi dạng là gì ?

    Khi nói đến biến hình đổi dạng, ta liên tưởng ngay đến lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Ephêsô :”Hãy lột bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới. Hãy để Thần Khí Thiên Chúa canh tân đến tận tâm linh của anh em”(Ep 4,22.24).

    Không phải chỉ có một lối biến hình, mà có hai : biến hình nên tốt hơn và biến hình thành xấu hơn, tùy vào tác nhân gây nên sự biến hình ấy. Trong các môn đệ Đức Giêsu, Gioan là thí dụ của lối thứ nhất và Giuđa là thí dụ của lối thứ hai.

    Những tác nhân ảnh hưởng giúp biến hình  nên tốt là những gì ta yêu, những gì nâng tâm hồn ta lên cao, những gì làm ta thức tỉnh, những gì kêu gọi ta bước tới, những gì mở rộng lòng ta ra…

    1. Nhu cầu biến hình đổi dạng

    Mọi vật phải luôn luôn đổi mới không thể đứng ỳ một chỗ được. Dòng nước phải lưu thông, nếu không sẽ trở thành một ao nước tù. Sự biến hình đổi dạng cần thiết cho cả phương diện vật chất lẫn tinh thần.

    a) Phương diện vật chất

    Thân thể con người đổi mới mỗi ngày thì mới có thể tồn tại được. Ngày trước, người ta nói rằng cứ 7 năm, cơ thể con người ta được trùng tu lại một lần hòan tòan mới. Các nhà khoa học ngày nay không nói 7 năm, mà chỉ nói một năm thôi. Mỗi năm một lần, các bộ phận trong cơ thể con người được lần lượt tháo gỡ bỏ đi hết kỹ lưỡng hơn gấp mấy các bác ráp sửa xe và được thay thế bằng những bộ phận khác hòan tòan mới.

    Rắn già rắn lột. Con người thì già trẻ gì cũng lột. Chỉ trong vòng 12 tháng là tôi lột bỏ hết con người cũ với xương thịt của nó  và mặc lấy một con người mới với xương thịt mới hòan tòan. (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, 1971, tr 373-374).

    Các nhà khoa học còn cho biết, da của thân xác con người còn được thay đổi nhanh hơn nữa, tính ra da của cơ thể con người sẽ thay đổi hòan tòan mỗi 27 ngày (Báo Thời nay, số ra ngày 04.12.1977, tr 70).

    b) Về phương diện tinh thần 

    Người ta thường nói đến đổi mới tư duy, phải đổi mới nếp nghĩ mới đưa đến tiến bộ trong hành động; những tư tưởng cũ kỹ lạc hậu phải được đẩy lùi để thay vào đó những tư tưởng tiến bộ mới mẻ hơn.

    Không có thời nào người ta hay nhắc đến  chữ “cách mạng” cho bằng thời nay. Người ta thích luôn đổi mới, chữ cách mạng hiện nay có nghĩa là thay đổi một thể chế, một chế độ cũ xấu xa để xây dựng một chế độ mới tốt hơn. Theo nguyên nghĩa của nó thì chữ cách mạng bao giờ cũng bao hàm một ý nghĩa tốt, thí dụ người ta đã làm một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vào thế kỷ 17 để rồi biến thế kỷ 19 thành thế kỷ ánh sáng của khoa học.

    c) Về phương diện tâm linh

    Con người bị vật dục và những hòan cảnh chung quanh chi phối, làm cho nó đi xa nguồn gốc tốt lành của nó, cần phải làm cho nó trở về  tình trạng tốt lành nguyên thủy của nó.

    Ông Francis Bacon nói :”Thời thượng cổ trong lịch sử là thời thanh xuân của thế giới : chính chúng ta mới là cổ nhân”.

    Thời kỳ con người mới được dựng nên là thời kỳ thanh xuân vì con người lúc ấy giống như Đức Chúa Trời trong sự công bình và trong sạch. Mặc dầu thời kỳ hiện nay là thời kỳ nguyên tử vệ tinh, con người cũng không thể đem chính họ trở lại thời kỳ “thanh xuân” được. Ông G. Duhamel nói rằng :”Con người ta dù có là vĩ nhân đi chăng nữa cũng chỉ là con người”.

    Cho nên, con người muốn trở nên con Trời, tức là trở lại thời thanh xuân, thì phải được tái sinh theo phương cách mà Chúa Giêsu đã tuyên bố với ông Nicôđêmô :”Quả thật, Ta nói cùng ông, nếu một người chẳng sinh lại thì không thể thấy được Nước Đức Chúa trời” (Ms Huỳnh Tiên, Thánh kinh Nguyệt san, số 362, tr 14).

    1. Phương cách biến hình đổi dạng 

    Cuộc sống tâm linh của con người thời nay sẽ xuống dốc vì họ không muốn đi theo con đường của Chúa, con đường thập giá mà đi theo một con đường dễ dãi.

    Mục sư Oscar Cullman, một nhà thần học Tin lành được mời diễn thuyết  cho một số nhà trí thức Công giáo họp tại Strasbourg ở Pháp, về cuộc khủng hỏang sau công đồng Vatican II, ông nói :

    Cuộc khủng hỏang hiện nay không phải chỉ xẩy ra trong Giáo hội Công giáo, chính trong Giáo hội Tin lành của chúng tôi cũng không thóat khỏi. Một trong lý do là  Kitô hữu không chấp nhận sự điên dại của thập giá Chúa, như thánh Phaolô đã dạy. Họ muốn đua đòi khôn ngoan theo kiểu thế gian. Họ tránh hy sinh, tránh khó nghèo. Họ tìm lời khen, họ muốn tự do theo ý riêng họ. Họ muốn theo Chúa Giêsu lúc Người biến hình trên núi Taborê, nhưng dừng lại bên ngòai vườn Cây Dầu, và không trèo lên núi Thập giá” (Hồng Phúc, Suy niệm Lời Chúa A, tr 49). 

    Chương trình biến hình đổi dạng của chúng ta là làm một cuộc cách mạng bản thân trong hai chiều hướng tiêu cực và tích cực.

    a) Phương diện tiêu cực

    Mọi người đều có khuyến điểm, sai phạm, yếu đuối và sa ngã. Đặc biệt là khi qui chiếu với Tin mừng của Đức Giêsu. Có nhận ra sự mỏng dòn của thân phận con người thì mới cố gắng  để biến đổi cuộc sống của mình. Đồng thời trong cuộc sống, nếu ai cũng có một lý tưởng để hướng tới, nếu ai cũng có một mục đích để dõi theo, hay luôn để ý tìm kiếm một sự hòan thiện, sự trọn hảo, thì chắc chắn thế giới này đã có nhiều biến chuyển  rất khác so với thực tế xã hội hiện  nay.

    Theo thánh Phaolô, con người cũ là con người  hành động theo xác thịt không theo luật của lương tri, họ sống buông thả cho mọi khuynh hướng sống. Không ai sống cho chính mình (Rm 14,7). Nhưng biết bao người chỉ sống cho mình họ, cho thỏa nguyện của họ :”Tất cả những người lấy cái bụng làm Chúa, những người đặt vinh quang của họ trong những việc chỉ làm cho họ xấu hổ vì chỉ thích những cái gì phàm tục”(Pl 3,19).

    Suy nghĩ thực tế về con người mình, một nhà quân tử đã thốt lên :“Tôi chưa có kinh nghiệm thế nào là lương tâm của một kẻ sát nhân, nhưng tôi đã biết thế nào là lương tâm của một người quân tử : thực là ghê tởm ! Người quân tử là người dám thành thật với mình, dám nhìn thẳng vào cõi lòng mình, không dối mình, dối người, cũng chẳng dối trời. Đúng vậy : “Le moi est haissable”: cái tôi đáng ghét.

    Truyện : Gột rửa óc tội phạm.

    Tin từ Toronto (Canada) cho hay : công cuộc giải phẫu  để rửa óc con người đã hòan thành và chứng minh được là ý nghĩ con người sẽ hòan tòan thay đổi bằng những tác dụng mạnh vào tinh thần của đương sự.

    Các nhà bác học Hoa kỳ đã nghĩ đến cách xử dụng việc giải phẫu nói trên để gột rửa óc của những kẻ phạm trọng tội, biến những kẻ khát máu này thành những “con cừu non ngoan ngõan”.

    Giáo sư James Mc Connel tại đại học đường Michigan đã tuyên bố với báo chí :”Hiến pháp Hoa kỳ cho phép con người được tự do hành động theo lý trí của họ, thì để cho công bằng, Hiến pháp cũng phải để cho người ta  được phép tiêu diệt những khuynh hướng giết người trong đầu óc những kẻ sát nhân”.

    b) Phương diện tích cực 

    Cách mạng không có nghĩa là  chỉ phá đổ cái cũ đi là xong, nhưng còn phải xây dựng một cái gì tốt hơn. Bước đầu của cuộc cách mạng bản thân là hủy bỏ tất cả những tính hư tật xấu của con người và buớc thứ hai là phải xây dựng con người  theo một khuôn mẫu nào đó.

    Chúng ta phải “canh tân” con người mình. Canh tân là làm cho tình trạng xấu hóa thành tình trạng tốt. Canh tân con người nội tâm không phải chỉ thay đổi những cái phụ tùy bên ngòai, nhưng là thay đổi hẳn tình trạng, phải có một sự chuyển biến từ nội tâm, nếu không thì người ta sẽ chê trách :

                                  Thay quần, thay áo, thay hơi,
                                 Thay dáng thay dấp, mà người chẳng thay.
                                                      (Ca dao)

    Chúng ta hãy chọn cho mình một “Thần tượng”. Con người được gán danh hiệu thần tượng là được tôn thờ, hoan nghênh như một vị thần. Thực ra thần tượng  không những được người ta tôn thờ như vị thần, đặt hết lòng tin, niềm kiêu hãnh trong đó, nhưng hơn nữa còn ao ước, mong muốn mình được huyền đồng với thần tượng của mình. Do đó, người được tôn sùng là thần tượng là người đã được đồng hóa như vị thần và có thể bắt chước  rập khuôn những điệu bộ, lối sống, cách phục sức…

    Ta nhận định : đi trong hành trình cuộc đời, con người khi đã cảm thấy mình đuối sức, tâm hành bất nhất, họ sẽ tìm bám víu lấy một thần tượng  để trao phó cho thần tượng, gửi gắm cho thần tượng ước vọng tiến mãi của mình. Người ta nhận ra trong thần tượng những ưu điểm mà mình không có, và cố với lấy những ưu điểm này (Chiêu Anh, Nội san Đồng tiến, 1972, tr 39).

    Chúng ta hãy chọn Đức Giêsu là thần tượng vì Ngài là “Đường, là chân lý và sự sống”(Ga 14,6), Ngài có mọi đức tính của một con người hòan hảo nhất và Ngài dạy rõ ràng và công khai :”Các con chỉ có một người Huấn đạo là Đức Kitô”(Mt 23,10). Lời dạy của Ngài đã được ghi chép trong Tin mừng, hãy đọc và thực hành.

    Truyện : Hòang tử lưng gù

    Có một hòang tử vừa đẹp trai vừa văn võ song tòan. Nhất là có thái độ khiêm tốn hòa nhã với mọi người, nên rất được lòng vua cha và bá quan trong triều. Hòang tử chỉ có một khuyết điểm duy nhất là cái lưng bị gù từ lúc mới sinh. Chính vì mang dị tật ấy mà chàng có mặc cảm tự ti không bao giờ dám xuất hiện trước công chúng. Triều đình có cái lệ này là tạc tượng các nhân vật trong hòang tộc khi họ được 20 tuổi. Bức tượng ấy sẽ được trưng bầy  tại viện bảo tàng quốc gia cho thần dân đến chiêm ngưỡng.

    ăm đó, hòang tử của chúng ta cũng tròn 20 tuổi. Dù không muốn người ta tạc tượng cho mình, nhưng chàng không dám trái lệnh vua cha. Có một điều là chàng xin vua cha hai điều và được chấp thuận : một là bức tượng của chàng phải được tạc ở thế đứng thẳng người chứ không bị gù lưng. Hai là bao lâu chàng còn sống thì không được trưng bầy bức tượng ấy, mà chỉ được đặt trong phòng riêng của chàng.

    Từ khi có bức tượng, mỗi ngày hòang tử đều đến gần ngắm nhìn ảnh mình. Chàng rất thích dáng vẻ hiên ngang của bức tượng, và cố bắt chước thế đứng thẳng người của bức tượng. Và sau một thời gian, mọi người trong hòang cung đều vui mừng nhận thấy  hòang tử không còn gù lưng nữa, trái lại, chàng luôn có dáng vẻ hiên ngang oai vệ xứng đáng như một hòang tử. Cũng từ đó, chàng đồng ý cho trưng bầy bức tượng của mình tại viện bảo tàng quốc gia cho thần dân chiêm ngưỡng.

    Lm Giuse Đinh lập Liễ, Gp. Đà Lạt                       

    …………………………..

    Suy Niệm 4: Giây phút thần tiên

    Có những khoảng khắc chúng ta cảm thấy cuộc sống sung mãn, cuộc đời hạnh phúc bình yên. Thế giới chung quanh và trong tâm hồn chứa đầy vẻ hài hoà. Rất có thể đó là lúc ngắm cảnh mặt trời lặn, đứng trên núi chứng kiến vẻ hùng vĩ của thiên nhiên; cũng có thể là lúc cảm thấy rung động do một vần thơ, một giọng ca truyền cảm; cũng có thể là một cuộc gặp gỡ tình cờ, … Trong những hoàn cảnh đó chúng ta có thể thốt lên như Phêrô: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!” Nhưng dựa vào kinh nghiệm bản thân chúng ta biết rằng: Không có tiệc vui nào mà không có lúc tàn. Có khi kéo dài năm ba ngày, có khi chỉ trong vài khoảng khắc chúng ta được hưởng nếm những hương vị ngọt ngào quý báu đó, sau đó tất cả lại trở về với cuộc sống thường nhật.

    Có lẽ những kinh nghiệm này giúp chúng ta hiểu thấu đáo những gì bài Phúc âm hôm nay tường thuật. Tác giả diễn tả những phút giây quý báu nhất trong cuộc đời theo chân Đức Giêsu. Trong đó, chúng ta cảm thấy mình hiệp nhất, nên một với Thiên Chúa. Đức Giêsu cùng với ba môn đệ tiến lên đỉnh núi cao và Người đã hiển dung trước mặt các ông. Trong khoảng khắc này các ông có thể cảm nhận một cách sâu xa Đấng cứu thế là ai và dung nhan của Đấng phục sinh như thế nào. Trong cuộc sống thường nhật họ đã chứng kiến biết bao khó khăn, trắc trở, xung khắc, kiện tụng, … Nhưng giây phút hiện tại hoàn toàn vô tư, tự do thoải mái, tâm hồn thanh thản, tự tại, thật hạnh phúc. Dĩ nhiên chẳng ai muốn bỗng chốc tất cả vuột khỏi tầm tay. Tất cả đều muốn nắm giữ lấy, muốn xây dựng ở đó ba cái lều giống như Phêrô.

    Giây phút thần tiên thường hiếm có, ngắn ngủi! Thoáng chốc Phêrô phải từ chín tầng mây trở về cuộc sống thực tế với muôn vàn khổ ải trần ai! Ông phải học để biết rằng: Những phút giây này là quà tặng của Thiên Chúa. Không ai có thể bo bo giữ lấy cho mình. Ông phải từ trên núi trở về với cuộc sống thường nhật, trở về với con người và những khó khăn mà họ phải đương đầu! Quả thật, cuộc sống con người chứa đầy thăng trầm, năm chìm bảy nổi. Cuộc sống thường nhật có những lúc khó khăn chất chồng, dường như chìm dần trong thung lũng tối. Ngày qua ngày sương mù dầy đặc! Chuỗi ngày kéo dài lê thê ảm đạm! Tất cả dường như vô nghĩa, tẻ nhạt! … Nhưng có những lúc con người không có giây phút nào được yên thân, cuộc sống chao đảo, đầu tắt mặt tối bận rộn với bổn phận. Việc này chưa xong, việc khác đã đứng chực ngoài cửa!

    Trong đời sống đạo, trong đời sống nội tâm chúng ta từng có những cảm nghiệm như thế. Trong hoàn cảnh này điều cần thiết nhất là nhớ đến những giây phút thiêng thánh trong đời. Đó cũng là mục đích của những ngày cấm phòng. Những ngày chìm lắng trong thinh lặng giúp chúng ta tái khám phá ra ý nghĩa đích thực của đời sống ơn gọi làm người: một cuộc sống sung mãn, hạnh phúc, thành công. Chúng ta cần những giây phút thần tiên để giữ gìn cái nhìn toàn diện của cuộc sống. Thiên Chúa đã hứa đồng hành với chúng ta, đứng về phía chúng ta khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn tủi.

    Mấu chốt quan trọng không phải những lúc trật đường rầy. Điều quan trọng chính là cảm nghiệm trong cuộc sống thường nhật: tìm cho chính mình một mảnh thiên đường tại thế. Núi Tabo trước tiên không phải là một nơi chốn mà là một sự kiện có thể xảy ra bất cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào. Nhưng chúng ta chỉ có thể phát hiện ra khi chúng ta sẵn sàng cởi mở tấm lòng tiếp nhận: Một cuộc gặp gỡ vô tình, một vẻ đẹp của thiên nhiên, một khoảng khắc yên tịnh, một lời khen tặng, một thành công nhỏ, một cảm nghiệm trong lúc cầu nguyện: Những lúc chúng ta cảm nghiệm và thấy cuộc đời này còn có nhiều thứ quý báu hơn. Chúng ta phải ra sức bảo vệ, duy trì những cảm nghiệm này như một kho tàng vô giá trong ký ức. Những cảm nghiệm sống động này giúp chúng ta thêm can đảm và hăng hái trong những lúc éo le hoạn nạn, giúp tăng cường lòng tin nơi chúng ta, giúp chúng ta tin rằng, rồi đây Thiên Chúa sẽ đưa dẫn chúng ta đến một đích điểm tốt đẹp, đó chính là phúc thiên đàng.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com