spot_img
Thêm

    Thứ Năm, Tuần 24/TN

    BÀI ĐỌC I: 1 Cr 15, 1-11

    Anh em thân mến, tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng mà tôi đã rao giảng cho anh em, và anh em đã lãnh nhận và đang tin theo, nhờ đó anh em được cứu độ, nếu anh em tuân giữ lời lẽ tôi đã rao giảng cho anh em, bằng không, anh em đã tin cách vô ích. Tôi đã rao truyền cho anh em trước tiên điều mà chính tôi đã nhận lãnh: đó là Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với mười một vị. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em trong một lúc; nhiều người trong số anh em đó hãy còn sống tới nay, nhưng có vài người đã chết. Thế rồi Người hiện ra với Giacôbê, rồi với tất cả các Tông đồ. Sau cùng, Người cũng hiện ra với chính tôi như đứa con sinh non. Tôi vốn là kẻ hèn mọn nhất trong các tông đồ, và không xứng đáng được gọi là tông đồ, vì tôi đã bắt bớ Hội thánh của Thiên Chúa. Nhưng nay tôi là người thế nào là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn của Người không vô ích nơi tôi, nhưng tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn tất cả các đấng: song không phải tôi, mà là ơn của Thiên Chúa ở với tôi. Dù tôi, dù là các đấng, chúng tôi đều rao giảng như thế cả, và anh em cũng đã tin như vậy.

    PHÚC ÂM: Lc 7, 36-50

    Khi ấy, có một người biệt phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình; Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Bấy giờ bà đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Thấy thế, người biệt phái đã mời Người, tự nghĩ rằng: “Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai, và thuộc hạng người nào chứ: là một đứa tội lỗi (mà)!” Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: “Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông”. Simon thưa: “Xin Thầy cứ nói”. “Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?” Simon đáp: “Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn”. Chúa Giêsu bảo ông: “Ông đã xét đoán đúng”. Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: “Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi, còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít”. Rồi Người bảo người đàn bà: “Tội con đã được tha rồi”. Những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: “Ông này là ai mà lại tha tội được?” Và Người nói với người đàn bà: “Ðức tin con đã cứu con, con hãy về bình an”.

    Suy Niệm 1: TỘI LỖI NHIỀU, ĐƯỢC THA THỨ NHIỀU, YÊU MẾN NHIỀU

    Ông biệt phái có quan điểm rất rõ ràng – và không giấu diếm – rằng những kẻ tội lỗi cần phải bị loại trừ. Nhân cơ hội này, Chúa Giêsu khẳng định một điều thật ấn tượng: người phụ nữ được coi là tội lỗi ấy đã diễn tả lòng yêu mến đối với Chúa Giêsu cách sâu đậm, vì chị đã được tha thứ nhiều! Còn chính ông biệt phái đã yêu mến ít vì ông cảm nhận mình được tha thứ ít… Điều này có nghĩa: sự tha thứ có sẵn đó cho hết mọi người; ai cảm nhận mình được tha thứ nhiều thì sẽ yêu mến nhiều hơn; ai thấy mình ít cần ơn tha thứ hơn thì sẽ yêu mến ít hơn.
    Yêu mến cốt ở trái tim, tấm lòng – đo lường yêu mến nhiều/ít theo số lượng (ứng với năm trăm đồng so với năm chục đồng) là điều hơi khập khiễng. Nhưng Chúa Giêsu muốn ‘định lượng hoá’ như vậy để nói với ông biệt phái hai điều: Một là, chính ông cũng là một người tội lỗi cần được tha thứ, chứ không phải vốn trắng nợ đâu, cho dù ông không cảm nhận rõ sự thật ấy; hai là, cảm thức về tình trạng tội lỗi nhiều của mình – như nơi người phụ nữ kia – là cơ hội, thậm chí là điều kiện, để yêu mến nồng nàn sâu sắc!
    Được tha nhiều nên yêu mến nhiều! Nhưng cũng có thể đọc thấy hàm ý ngược lại: Yêu mến nhiều nên được tha nhiều! Bởi ở đây, Chúa Giêsu tuyên bố với người phụ nữ: “Tội con được tha thứ… Lòng tin của con đã cứu con, hãy về bình an!”
    Như vậy, không còn chỗ nào để biện minh cho thái độ xem thường những người tội lỗi nữa! Hãy nhớ câu chuyện người biệt phái và người thu thuế lên đền thờ cầu nguyện… Ta hiểu tại sao các thánh không bao giờ nghĩ mình tốt lành hơn người khác, ngược lại luôn nghĩ người khác tốt hơn mình… Ta cũng hiểu tại sao có thể nói về ‘tội Adam thật là cần, tội hồng phúc’ (felix culpa)!
    Và nhất là ta hiểu tại sao thánh Phaolô nhấn mạnh Tin Mừng ngài rao giảng là tin mừng này: “Ðức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng theo như lời Thánh Kinh. Người được mai táng và ngày thứ ba Người đã sống lại đúng theo như lời Thánh Kinh”.
    Thái độ đúng đắn là: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”! Và đồng thời “lạy Chúa, con tạ ơn Chúa vô ngần vì Chúa đã chết vì con”…

    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.

    …………………………………………….

    Suy Niệm 2: CẢM THÔNG VÀ THA THỨ NHƯ CHÚA GIÊSU

    Thánh Phaolô trong bài đọc 1 khẳng định với các tín hữu Côrintô rằng Tin Mừng ngài loan báo có sức cứu thoát họ. Ngài rao giảng cho họ những gì Ngài đã lãnh nhận: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kêpha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau đó, Người đã hiện ra với hơn năm trăm anh em một lượt, trong số ấy phần đông hiện nay còn sống, nhưng một số đã an nghỉ. Tiếp đến, Người hiện ra với ông Giacôbê, rồi với tất cả các Tông Đồ. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1 Cr 15:3-8). Qua những lời này, Thánh Phaolô trình bày nội dung chính của Tin Mừng được loan báo hay còn gọi là kerygma và thánh nhân cũng cho biết, Tin Mừng ngài loan báo là đáng tin cậy vì ngài được nhìn thấy Đức Kitô. Điều này cho thấy tiêu chuẩn quan trọng nhất để trở nên chứng nhân đáng tin cậy của Chúa Giêsu là có được kinh nghiệm “trực tiếp” với Chúa Giêsu. Điều này mời gọi chúng ta vun trồng mối tương quan “trực tiếp” Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện của mình.

    Một lần nữa, Chúng ta thấy Thánh Luca dùng nghệ thuật “dùng người” để chuyển tải sứ điệp Tin Mừng. Ngày hôm qua, chúng ta nghe về một người nam, đó là Gioan Tẩy Giả [như ngày thứ Hai – viên đại đội trưởng] và hôm nay bài Tin Mừng trình thuật cho chúng ta câu chuyện một người phụ nữ tội lỗi đáp lại món quà tha thứ của Chúa Giêsu [như ngày thứ Ba – bà goá thành Nain]. Câu chuyện được trình thuật hôm nay là một bản công bố hùng hồn về tình yêu của Thiên Chúa dành cho tội nhân, là sự mô tả tuyệt vời về sự quảng đại của những tội nhân được Thiên Chúa tha thứ, và là một bản trình thuật đúng mức về sự tự công chính hóa của những người đạo đức giả.

    Bài Tin Mừng bắt đầu với việc giới thiệu “một người thuộc nhóm Pharisêu” (Lc 7:36). Đây là đại diện cho các Kitô hữu người Do Thái, là những người giữ chặt chẽ những tiêu chuẩn cứng ngắc để trở nên thành viên của cộng đoàn Thánh Luca và được tham dự vào các bữa ăn của họ. Chúng ta thấy điều này được phản ánh qua thái độ khó chịu và lên án khi người phụ nữ tội lỗi xuất hiện. Thái độ này cũng thách đố chúng ta về lối sống loại trừ và xem mình tốt và thánh thiện hơn người khác. Nếu có một ai đó chúng ta nghĩ là không thánh thiện đến với bàn tiệc của Chúa Giêsu, chúng ta sẽ phản ứng thế nào? Chúng ta hãy để Chúa Giêsu hướng dẫn chúng ta.

    Trong khi Chúa Giêsu đang dùng bữa, thì bỗng dưng có một người “phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành” (Lc 7:37). Chúng ta cần lưu ý rằng, người phụ nữ được trình bày trong bài Tin Mừng là “người tội lỗi,” chứ chúng ta không có chứng cớ bà là một cô gái điếm như nhiều người thường nghĩ [và nói]. Từ “tội lỗi” được dùng ở đây mang nghĩa chung. Nó được dùng để nói lên thân phận con người cả nam lẫn nữ đều là tội nhân, chứ không nói đến tội liên quan đến tình dục. Khi nghe về Chúa Giêsu, người phụ nữ “liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm” (Lc 7:37) đến để “đổ lên” chân Ngài. Khác với câu chuyện về bà goá, đó là Chúa Giêsu chạm đến “người chết” để làm cho sống lại, trong câu chuyện này, người phụ nữ “chạm vào” Chúa Giêsu và được chữa lành, được tha thứ, được làm cho sống lại [đời sống thiêng liêng, chứ không phải đời sống thể lý như người con của bà goá]. Bên cạnh đó, chúng ta cần lưu ý đến ba yếu tố nơi người phụ nữ, đó là “sự sám hối” được diễn tả qua nước mắt, “sự quảng đại” diễn tả qua bình bạch ngọc đựng dầu thơm, và “tình yêu rất con người” qua nụ hôn trên chân Chúa Giêsu.

    Như chúng ta đã biết, Chúa Giêsu được trình bày như một vị ngôn sứ, một trong những đề tài trong Tin Mừng Thánh Luca. Chúng ta cũng thấy điều này nơi phản ứng của ông Pharisêu: “Thấy vậy, ông Pharisêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!” (Lc 7:39). Chúa Giêsu được gọi là ngôn sứ sau khi cho người con trai bà goá sống lại. Trong câu chuyện hôm nay, Ngài cũng được gọi là ngôn sứ, nhưng là vị ngôn sứ có quyền tha thứ cho những người tội lỗi. Chi tiết này cho thấy, cái chết thiêng liêng nguy hiểm hơn cái chết thể lý. Vì vậy, việc chữa lành cũng khó hơn, vì nó liên quan đến việc tha thứ. Có nhiều người đời sống thể lý rất mạnh khoẻ, nhưng đời sống thiêng liêng thì “bệnh tật” hay đã chết. Đứng trước sự “phàn nàn” của Simôn, Chúa Giêsu sử dụng nghệ thuật đối đáp mang tính “triết học” [của Socrates] để rút ra câu trả lời từ Simôn cho việc Ngài để cho người tội lỗi chạm đến Ngài. Chúng ta viết lại cuộc đối thoại này (x. Lc 7:41-47).

    Chúa Giêsu: “Này ông Simôn, tôi có điều muốn nói với ông!”
    Ông Simôn: “Dạ, xin Thầy cứ nói.”

    Chúa Giêsu: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?”

    Ông Simôn: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.”
    Chúa Giêsu: “Ông xét đúng lắm.”
    [Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Simôn]

    Chúa Giêsu: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ôliu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.”

    Trong cuộc đối thoại này, chúng ta thấy Chúa Giêsu dẫn Simôn vào trong mầu nhiệm tình yêu và tha thứ của Thiên Chúa. Ngài sử dụng dụ ngôn về hai con nợ để nói cho Simôn biết ông cũng là một con nợ, có thể không nhiều như người phụ nữ, nhưng ông không cảm nghiệm được sự tha thứ nhiều nên không yêu mến nhiều. Chúng ta thấy điều này trong lời giải thích mang tính so sánh giữa Simôn và người phụ nữ. Mặc dầu Simôn không mắc lỗi gì trong việc đón tiếp Chúa Giêsu. Điều thiếu sót của Simôn là ông đã không dành cho Chúa Giêsu bất kỳ một hành động hiếu khách đặc biệt nào. Nói cách khác, đối với ông Chúa Giêsu không có gì đặc biệt! Ngài chỉ được xem là một khách mời bình thường như bao nhiêu khách mời khác. Hành động quảng đại của người phụ nữ hoàn toàn trái ngược với thái độ “keo kiệt” của chủ nhà. Người phụ nữ xem Chúa Giêsu là người đặc biệt nhất trong cuộc đời của chị, trong bàn tiệc mà Ngài dọn cho chị! Điều này được phản chiếu qua hình ảnh “tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai [anh Simôn] được tha ít thì yêu mến ít [vì anh tự cho mình là người công chính]. Chi tiết này làm chúng ta tự hỏi: Vị trí của Chúa Giêsu trong cuộc đời chúng ta như thế nào? Ngài có ở vị trí đặc biệt nhất không?

    Bài Tin Mừng kết thúc với thái độ “ngạc nhiên” của những người đồng bàn và họ tự hỏi: “Ông này là ai mà lại tha được tội?” (Lc 7:49). Câu hỏi này đưa thính giả vượt qua việc xem Chúa Giêsu là một ngôn sứ, nhưng ẩn chứa trong đó một sự khẳng định Ngài là Chúa, Đấng có quyền tha tội. Đứng trước sự “tò mò” này, Chúa Giêsu “đổi đề tài” bằng cách “nói với người phụ nữ: ‘Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an’” (Lc 7:50). Trong những lời này, Chúa Giêsu chỉ ra cho chúng ta thấy có một sự liên kết chặt chẽ giữa tha thứ, đức tin và sự bình an.

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………………………………………..

    Suy Niệm 3Người phụ nữ sám hối

    1. Hôm nay một người biệt phái tên là Simon mời Đức Giêsu đến dùng bữa. Tình cờ có một phụ nữ tội lỗi khét tiếng trong thành đến phục dưới chân Chúa khóc lóc tỏ dấu ăn năn qua một số việc chị làm cho Chúa. Người phụ nữ này tuy có tội nặng hơn mọi người, nhưng chị biết lỗi và tin tưởng vào Đức Giêsu. Chị bất chấp cái nhìn khinh miệt của mọi người để tìm đến với Đức Giêsu. Trước niềm tin mạnh mẽ và lòng mến chân thành, dù tội chị rất nhiều, nhưng chị đã được tha tất cả. Như vậy, niềm tin và lòng yêu mến là điều kiện cần thiết để chúng ta được ơn tha thứ và cứu độ.
    1. Thường người biệt phái không ưa Đức Giêsu và chỉ tìm cách gài bẫy để ám hại Ngài. Tuy thế, thánh Luca cho chúng ta biết cũng có một thứ biệt phái lễ độ hơn, vẫn có cảm tình với Ngài, họ dám mời Ngài đến nhà dùng bữa. Hôm nay, thánh Luca thuật lại cho chúng ta việc ông Simon, một người biệt phái, mời Đức Giêsu đến dùng bữa tại nhà ông.Theo phong tục của Phương Đông, khi nhà có tiệc tùng thì cửa thường bỏ ngỏ, kẻ ra người vào tấp nập. Một người đàn bà, ai cũng biết thường tội lỗi lẻn vào đứng đàng sau đám thực khách. Bà mang theo một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Rồi quì xuống dưới chân Chúa vì lúc ấy Chúa đang nằm trên di văng để ăn theo thói quen các thực khách. Bà khóc nức nở, xức dầu thơm, hôn bàn chân ướt đẵm nước mắt và lấy tóc mà lau. Mọi người trố mắt nhìn cho là một việc quái gở, nhất là ông chủ nhà Simon… Nhưng Đức Giêsu coi như không để ý đến những người chung quanh mà chỉ nói với cô ta :”Tội chị rất nhiều, nhưng đã được tha rồi, vì chị đã yêu mến nhiều”. 
    1. 3. Tin Mừng hôm nay ghi lại một phiên tòa, phiên tòa không có luật sư bảo hộ, không có bản án được đọc lên, nhưng kẻ được ân xá ra về với bình an trong tâm hồn.Có được bình an trong tâm hồn là điều quí giá nhất Đức Giêsu mang lại cho con người. Nhưng để có được bình an ấy, điều kiện tiên quyết là con người phải có lòng sám hối. Sám hối vốn là nội dung chủ yếu trong sứ điệp của Đức Giêsu. Người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đã nhận  ra sự cần thiết của sám hối. Bất chấp những lời dị nghị, bất chấp sự khinh bỉ của người chung quanh, bà đã thể hiện một cách chân thành  và trọn vẹn lòng sám hối của mình. Đức Giêsu đã nói lên ý nghĩa hành động của người phụ nữ này như sau :”Bà đã được tha nhiều, vì bà đã yêu mến nhiều”. Càng cảm nhận được ơn tha thứ, con người càng được thôi thúc thể hiện lòng yêu mến nhiều hơn.
    1. Người ta thường nói đến cuộc khủng hoảng về đức tin. Trong thực tế, khủng hoảng đức tin cũng chính là khủng hoàng về lòng sám hối. Khi con người đánh mất ý thức về tội lỗi, con người cũng không còn cảm nhận được thế nào là ơn tha thứ của Chúa, và dĩ nhiên cũng đánh mất sự cảm thông và tha thứ đối với người khác. Thái độ khoan nhượng của con người chỉ xuất hiện từ ý thức về nỗi bất toàn và sự tha thứ mà mình cảm nhận được. Xét cho cùng, bác ái chính là hoa trái của lòng sám hối : càng cảm thấy mình được yêu thương và tha thứ, con người càng được thúc đẩy để tha thứ và yêu thương (Mỗi ngày một tin vui).
    1. Bài Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta phải có cái nhìn đúng về người và về mình, nghĩa là chúng ta đừng xét đoán người khác dựa trên những tiêu chuẩn của luật lệ, phong tục, và lối sống của chúng ta (Gl 6,4; Rm 2,17-24). Người ta thường nói :”Xanh vỏ đỏ lòng” (Tục ngữ). Câu tục ngữ có ý dạy chúng ta phải lưu ý trong việc đánh giá một người hay một sự việc. Nhiều khi bề ngoài là xấu nhưng từ bản chất là tốt. Nếu chỉ đánh giá theo cái vỏ bên ngoái thì sẽ sai lầm.Trong bài Tin Mừng, người biệt phái, cùng những người khách khác ở bàn tiệc, đã không thể nhìn vào người phụ nữ như Đức Giêsu đã nhìn. Những phong tục, luật lệ, thiên kiến và lối sống đã giới hạn họ. Họ đã xếp loại người phụ nữ này là người tội lỗi. Họ đã tự nghĩ rằng bản thân mình tốt hơn người phụ nữ này nhiều.
    1. Truyện : Chiếc đèn cũ kỹ. 

      Một đêm nọ trong lúc bị cúp điện, một người đàn ông  tìm được một cây đèn cũ đốt bằng mỡ từ trên tầng gác để đồ cũ. Tình trạng của đèn thật thảm hại,  bóng đèn nứt và đen thui. Dù sao, ông cũng đốt lên và nó tỏa ra ánh sáng yếu ớt. Đã vậy,  bấc đèn bốc khói tỏa ra một mùi khét lẹt. Thật là quá mức đối với một người thích mọi vật hoàn hảo như ông :”Cái đèn này thật vô dụng nên vứt nó đi”, ông nói với vợ ông. Nói xong ông tắt đèn dầu, lấy nến ra đốt.
      Ba tuần sau, lại cúp điện. Lần này, vợ ông đem lại ánh sáng. Bà lấy ra một cái đèn dầu đẹp, đốt lên. Một ánh sáng mầu hồng tỏa ra làm cả nhà thích thú.

    Ông chồng nói :
    – Cái đèn này thật tuyệt. Bà mua nó ở đâu ?

    Bà đáp :
    – Đó là cái đèn mà ông muốn vứt đi đấy !

    Sau khi đến thật gần để xem xét, ông nói  :
    Chắc tốn khá nhiều tiền để tân trang nó như thế này ?

    Bà đáp :
    – Thật ra chẳng tốn gì mấy. Tôi chỉ mua một cái bấc mới và một cái bóng. Nhưng tôi phải bỏ nhiều thời gian và công sức để lau chùi và đánh bóng nó. Tôi đã nhận thấy dưới lớp bụi bẩn là một cái đèn đẹp. Và ông không thấy rằng tôi có lý sao ?

    Ông đáp :
    – Tôi hoàn toàn đồng ý với bà.

    Lm Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt

                                                                                                   

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com