BÀI ĐỌC I: Ed 18, 25-28
Đây Chúa phán: “Các ngươi đã nói rằng: “Đường lối của Chúa không chính trực”. Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết”.
BÀI ĐỌC II: Pl 2, 1-11
Anh em thân mến, nếu có sự an ủi nào trong Đức Kitô, nếu có sự khích lệ nào trong đức mến, nếu có sự hiệp nhất nào trong Thánh Thần, nếu có lòng thương xót nào, thì anh em hãy làm cho tôi được trọn niềm hân hoan, để anh em hưởng cùng một niềm vui, được cùng chung một lòng mến, được đồng tâm nhất trí với nhau, chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác. Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Đức Giêsu Kitô. Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong hoả ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh quang.
PHÚC ÂM: Mt 21, 28-32
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: “Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!” Nó thưa lại rằng: “Con không đi”. Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: “Thưa cha, vâng, con đi”. Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?” Họ đáp: “Người con thứ nhất”. Chúa Giêsu bảo họ: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài”.
Suy Niệm 1: NGHĨ LẠI VÀ SỬA SAI…
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
Lời Chúa trong Chúa Nhật trước mời gọi chúng ta sống quảng đại và đối xử với nhau bằng tình yêu hơn là sự công bình. Hôm nay, lời Chúa trình bày chúng ta hai lối sống trước mệnh lệnh của Thiên Chúa. Trong bài đọc 1, ngôn sứ Êdêkien chỉ ra đường lối của Đức Chúa luôn ngay thẳng vì Ngài không bao giờ thay đổi, chỉ có đường lối con người không ngay thẳng vì con người dễ dàng thay đổi trước hoàn cảnh sống: “Các ngươi nói: ‘Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng.’ Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng?” (Ed 18:25). Những lời này khuyến cáo chúng ta về thái độ chất vấn trước Thiên Chúa. Nhiều lần, chúng ta cũng cho rằng Thiên Chúa bất công. Nhưng Thiên Chúa kiên nhẫn chỉ cho chúng ta thấy rằng mỗi người trong chúng ta đều có khả năng thay đổi để trở nên tốt hơn hoặc xấu hơn. Điều này được diễn tả nơi hình ảnh hai loại người: (1) thay đổi từ tốt thành xấu – “Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết” (Ed 18:26), và (2) thay đổi từ xấu thành tốt – “Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình. Nó đã thấy và từ bỏ mọi tội phản nghịch nó phạm, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết” (Ed 18:27-28). Những hình ảnh này chúng ta sẽ tìm thấy trong bài Tin Mừng hôm nay nơi hình ảnh của hai anh em.
Thánh Phaolô trong bài đọc 2 trình bày cho các tín hữu Philipphê về “bài ca tự hạ” của Đức Kitô. Chỉ nơi Đức Kitô mà tất cả chúng ta được nên một lòng một ý: “Thưa anh em, nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” (Pl 2:1-2). Khi nên một trong Đức Kitô, chúng ta sẽ không đem lòng ganh tị hay tìm kiếm hư danh, nhưng lấy lòng khiêm nhường để đối đãi với người khác, để không tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng tim lợi ích cho anh chị em mình (x. Pl 2:3-4). Nói tóm lại, Thánh Phaolô mời gọi các tín hữu Philipphê và mỗi người chúng ta “hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (Pl 3:5). Tâm tình đó là tâm tình khiêm nhường, tự hạ, và “vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” (Pl 3:8). Chính sự khiêm nhường tự hạ đã mang lại cho Đức Kitô vinh quang vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Hình ảnh này nhắc nhở chúng ta về việc không đi tìm vinh quang cho chính mình, không tự tôn mình lên, nhưng bước đi khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa để đến thời đến buổi sẽ được Thiên Chúa tôn vinh.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu sử dụng dụ ngôn về hai người con để giảng dạy cho các thượng tế và kỳ mục trong dân về việc thi hành thánh ý Thiên Chúa. Đây là dụ ngôn đầu tiên trong ba dụ ngôn phán xét của Chúa Giêsu [dụ ngôn hai người con, dụ ngôn vườn nho và tá điền, dụ ngôn tiệc cưới], là sản phẩm biên soạn của thánh sử. Cả ba dụ ngôn đều có chung một thính giả, đó là các thượng tế và kỳ mục. Dụ ngôn hôm nay công bố lỗi lầm của họ. Thánh Mátthêu sử dụng hình ảnh truyền thống trong Kinh Thánh về hai anh em để truyền tải sứ điệp của mình. Như chúng ta biết, trong hai người con, một người được đón nhận và một người bị loại ra [Cain-Abel, Esau-Giacóp, v.v.). Hình ảnh vườn nho trong bài Tin Mừng tuần trược được sử dụng. Tuy nhiên, những người được mời gọi vào làm trong vườn nho không phải là những người bên ngoài được thuê vào làm để nhận tiền công, nhưng là con cái trong nhà. Đề tài chuyển từ thái độ của ông chủ sang thái độ của những người được mời gọi vào làm trong vườn nho. Thái độ quan trọng duy nhất là vâng phục thi hành ý muốn của chủ vườn nho. Chi tiết đầu tiên chúng ta cần lưu ý là hình ảnh hai người con: Hai người con là ai? Sự phân biệt ở đây không phải là giữa người Do Thái và dân ngoại, nhưng giữa hai loại người Do Thái, những người lãnh đạo không có đức tin và những người bị loại trừ ra ngoài lề xã hội nhưng đáp lại sứ điệp của Chúa Giêsu với lòng tin (câu 31), giữa dân Israel chân thật và giả dối. Tuy nhiên, nhìn từ bối cảnh Tin Mừng, những người ngoại giáo trở lại cũng được bao gồm trong những tội nhân đặt niềm tin vào Chúa Giêsu. Trong hình ảnh hai người con [hai loại người Do Thái], chúng ta thuộc loại nào? Và Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì?
Người con thứ nhất: “Ông ta đến nói với người thứ nhất: ‘Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho.’ Nó đáp: ‘Con không muốn!’ Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi” (Mt 21:28-29). Nơi người con thứ nhất, chúng ta thấy có sự biến đổi nội tâm hay đúng hơn là sám hối sau khi nhận ra mình đã làm người cha của mình buồn với sự bất tuân. Đối với Thánh Mátthêu, trung thành với đức tin luôn luôn là thử thách cuối cùng. Hình ảnh người con thứ nhất dạy chúng ta đừng vội xét đoán anh chị em mình. Có thể lúc này họ sống thế này hay hành động như thế kia vì họ đang trải qua những khó khăn mà chúng ta không biết. Mọi sự phải để đến cuối cùng mới biết, nên đừng vội xét đoán người khác dựa trên vẻ bề ngoài.
Người con thứ hai: “Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: ‘Thưa ngài, con đây!’ nhưng rồi lại không đi” (Mt 21:30). Người con thứ hai hoàn toàn ngược với người con thứ nhất, bề ngoài hoàn toàn tỏ ra vâng phục người cha, nhưng bên trong lại không có sự biến đổi, không có sự hoán cải. Nói cách khác, người con thứ hai đặt quan trọng ở vẻ bề ngoài hơn là sự vâng phục bên trong. Hình ảnh người con thứ hai khuyến cáo chúng ta về lối sống giả hình của mình. Nhiều lần, chúng ta cũng tỏ thái độ “bằng mặt chứ không bằng lòng” với anh chị em mình. Đáng buồn hơn là nhiều lần chúng ta cũng chỉ quan tâm đến vẻ bề ngoài trong đời sống tương quan với Chúa, chứ không có sự biến đổi bên trong nào.
Nơi hình ảnh hai người con, vấn đề được đặt ra là: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21:31). Những lời này chỉ cho chúng ta thấy rằng thi hành ý muốn của người cha [hay của Thiên Chúa] là điều quan trọng nhất và điều này hệ tại ở sự biến đổi nội tâm hay thái độ sám hối. Các kinh sư và kỳ mục cho biết người con thứ nhất là người thi hành ý muốn của người cha – là người phạm lỗi, nhận ra lỗi phạm của mình, biến đổi [sám hối] và làm theo điều người cha mời gọi. Chi tiết này chỉ rõ sự thánh thiện hay tiêu chuẩn để biết một người thi hành ý Thiên Chúa là nhận ra lỗi phạm của mình, sám hối và thi hành điều Thiên Chúa mời gọi chứ không hệ tại “sự vâng phục” trên môi trên miệng, hay vẻ dễ dạy chỉ được diễn tả bên ngoài.
Bài Tin Mừng kết thúc với bài học được rút ra sau: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy” (Mt 21:31-32). Như chúng ta biết, những người thu thuế và những người gái điếm là phần tử những người Do Thái, nhưng họ bị xem là những người vô tri và tội lỗi. Sự đối nghịch đầy kinh ngạc ở đây là những người bị xem là tội lỗi lại là những người vào Nước Trời trước những người xem mình là công chính. Đây chính là trọng tâm của Tin Mừng: Chúa Giêsu đến để kêu gọi những người tội lỗi, biết mở lòng trước sứ điệp Tin Mừng, hơn là những người cho mình là công chính không tỏ lòng sám hối. Cũng nhiều lần trong cuộc sống, chúng ta cũng xem mình là những người công chính hơn anh chị em khác. Chúng ta cho rằng người khác mới cần sám hối chứ không phải chúng ta. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta biết sống khiêm nhường và không xét đoán anh chị em mình.
Lm. Anthony, SDB.
……………………………..
Suy Niệm 3: HÃY BẮT TAY VÀO VIỆC
A. DẪN NHẬP
Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường nói nhiều mà làm ít, giữa lý thuyết và thực hành còn một khoảng cách lớn, vì thế mới có câu nói :”Năng thuyết bất năng hành”, đúng là làm láo, báo cáo hay. Lý thuyết có hay mấy mà không được thực hiện thì cũng không có giá trị.
Trong đời sống đạo cũng thế, chúng ta cần biết Chúa, cần thông hiểu giáo lý vì “vô tri bất mộ” mà. Như thế cũng chưa đủ, còn phải đem cái biết ra thực hành trong đời sống hằng ngày nữa. Chúa Giêsu đã nói :”Ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy” mà “giữ lời Thầy” thì có nghĩa là hãy thực hành những điều Thầy dạy, là làm theo ý Thầy. Bài dụ ngôn về “Hai người con” trong Tin mừng hôm nay đã chứng tỏ điều đó.
Người ta thường nói :”Trăm voi không được bát nước xáo” (tục ngữ). Câu này mang tính chất mỉa mai, ngụ ý chê những người ba hoa khóac lác, hứa hẹn suông, nói thì to tát, mà rốt cuộc chẳng có gì, họ là người biết nói mà không biết làm. Có những người xưng mình là Kitô hữu, nhưng họ chỉ có cái tên, cái mã bề ngòai, còn cuộc sống của họ chẳng có gì cả, có khi còn ngược lại. Hãy sống trung thực với lòng mình. Hãy sống cho xứng đáng là một Kitô hữu chính danh để cuộc sống của mình lúc nào cũng phải “ngôn hành đồng nhất”.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Ez. 18,25-28.
Cái nhìn của con người chỉ có một chiều : hoặc tốt hoặc xấu. Đã tốt thì cứ tốt, đã xấu thì cho xấu luôn. Do đó, con người có hai mặc cảm : Tự tôn và tự ti.
– Tự tôn hay tự mãn : có những người cho là mình “công chính” rồi, nên tự mãn không chịu cố gắng sống tốt hơn.
– Tự ti : có những người cảm thấy mình tội lỗi nên thất vọng, cứ ở lỳ trong tội lỗi, không muốn cố gắng nữa.
Cái nhìn của Thiên Chúa có hai chiều hoán đổi : người tốt có thể trở nên xấu và người xấu có thể trở nên tốt. Tiên tri Ezéchiel cảnh cáo những người tự mãn, họ sẽ bị chết nếu bỏ đường công chính và phạm tội ác. Trái lại, những người đang ở trong tình trạng tội lỗi mà biết bỏ đường gian ác, quay về đường lành thì sẽ được cứu sống.
Như vậy, Thiên Chúa mở rộng cho con người con đường tương lai để người tội lỗi bỏ con đường xấu mà trở nên tốt lành và người công chính sẽ trở nên tốt lành hơn.
+ Bài đọc 2 : Pl 2,1-11.
Thánh Phaolô vạch ra cho các tín hữu Philipphê một phương hướng để duy trì tình đoàn kết huynh đệ trong cộng đoàn Kitô hữu. Chúng ta có thể chia phương hướng này thành hai phần :
a) Để tránh sự chia rẽ mà duy trì sự đoàn kết huynh đệ thì đừng ai lấy bản thân mình làm tiêu chuẩn để mà tự mãn. Cũng đừng lấy người khác làm đối tượng để phân bì.
b) Thánh Phalô đã xử dụng một Thánh thi phụng vụ đã được xử dụng trong cộng đoàn Kitô hữu để ca tụng sự khiêm nhường thẳm sâu và sự vâng phục tuyệt đối của Chúa Giêsu khi Ngài chấp nhận từ bỏ mọi vinh quang trên trời để mặc lấy thân xác hèn mọn của con người. Ngài đã hạ mình xuống phục vụ cho ơn cứu rồi loài người, nhưng nhờ đó Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên đến tột bậc.
+ Bài Tin mừng : Mt 21,28-32.
Đường lối của Thiên Chúa khác với đường lối của loài người. Nếu trong bài đọc 1, tiên tri Ezéchiel cho biết Thiên Chúa không nhìn đến quá khứ mà chỉ nhìn đến tương lai, Ngài mở đường cho những người tội lỗi có thể quay về với đường lành, thì bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu hé mở cho chúng ta cái nhìn của Thiên Chúa về cuộc sống con người. Thiên Chúa không quan tâm đến lời nói mà chỉ chú ý đến việc làm.
Để triển khai tư tưởng này, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn “Hai người con” : đứa thứ nhất đã từ chối lời người cha để đi làm vườn, nhưng sau hối hận lại đi làm. Đứa con thứ hai : mau miệng thưa vâng để đi làm ngay, nhưng rồi nó chẳng chịu đi làm.
Qua dụ ngôn này Chúa Giêsu cho biết :
– Đứa con thứ nhất tượng trưng cho dân ngoại, tuy ban đầu họ đã từ chối, nhưng sau hối hận lại đi “làm” theo ý Thiên Chúa.
– Đứa con thứ hai đại diện cho dân Do thái, họ mau mắn thưa “vâng”, nhận lời ngay, nhưng trong thực tế thì “không làm” theo ý Thiên Chúa.
Dụ ngôn này áp dụng vào lời Chúa Giêsu đã nói :”Có những kẻ đứng trước hết sẽ nên sau hết và kẻ sau hết lại trở nên trước nhất”.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.
Kitô hữu thật hay giả ?
I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN
- Dụ ngôn về hai người con
Các thượng tế, kỳ lão, luật sĩ và biệt phái Do thái thường tự hào mình là con cái Abraham, đã từng giữ luật Maisen một cách cặn kẽ, thế nào cũng được phần thưởng là Nước Trời. Theo họ nghĩ, Nước Trời được dành riêng cho người Do thái, còn các dân tộc khác, những người ngoại giáo sẽ bị loại ra ngoài, nhất là những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm.
Để sửa đổi quan niệm sai lạc đó, Chúa Giêsu đã đưa ra cho người Do thái dụ ngôn về hai đứa con. Người cha có hai đứa con, ông bảo đứa thứ nhất đi làm vườn nho cho ông, lúc đầu nó từ chối, nhưng sau nghĩ lại, hối hận, lại đi làm. Ông cũng bảo đứa con thứ hai như vậy, nó vui vẻ nhận lời, nhưng nó lại không đi làm. Chúa Giêsu hỏi người Do thái, trong hai đứa con, đứa nào đã làm theo ý cha mình ? Họ đều cho là đứa con thứ nhất.
- Ý nghĩa dụ ngôn
Chúa Giêsu đã kết luận dụ ngôn này :”Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm, sẽ vào Nước Trời trước các ông”. Chưa bao giờ ta thấy Chúa Giêsu đã nói thẳng với người biệt phái như lần này. Chính họ có lẽ cũng không ngờ.
Câu nói đó có nghĩa là : các ông tưởng mình thánh thiện trong sạch, giữ luật không trách được điểm nào, còn người thu thuế các ông coi như cặn bã xã hội, những người mà các ông cấm không cho đi chung đường với họ, coi như là những đàn bà dơ dáy đến nỗi con cái Israel đi vô ý quệt phải áo họ thì phải về tắm rửa đã. Các ngươi lầm. Những người thu thuế và đĩ điếm mà các người miệt thị đến mức đó sẽ vào Nước Trời trước các ông. Nói rõ là họ tốt hơn các ông !
Sự thực đã xẩy ra : Lêvi (Mt 9,9) và người đàn bà tội lỗi (Lc 7,37) đã theo sống bên Chúa, và biết bao người thu thuế đã tin lời Gioan (Mt 9,10 ; 11,19 ; Lc 3,12) trong khi đó thì Hội đồng Cộng tọa chống đối Chúa và tìm giết Chúa.
(Trần văn Khả, Phúc âm Chúa nhật, năm A, tr 236)
- Con người thật và con người giả
a) Thế gian có hai hạng người : thật và giả
Người ta chia con người thành hai loại : tốt và xấu, thật và giả. Nhưng làm sao có thể phân biệt một cách chính xác về hai loại người đó ? Ai là người tốt hay xấu ? Ai là người thật hay giả ? Bởi vì có những người bề ngoài tốt lành thánh thiện mà trong lòng thì xấu xa, như người ta thường mỉa mai :
Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
(Truyện Kiều)
Người đời xưa cũng như đời nay hay công kích những bậc tu hành, những vị này sống khắc khổ, chay tịnh, tuân theo kỷ luật của giới mình, là những người đáng kính nể, nhưng trong nơi riêng rẽ kín đáo thì lại phạm luật trai giới, việc làm bị bại lộ, người đời không kiêng nể đã giáng trên đầu những vị phá giới đó những câu không thương tiếc …
Có những người chỉ chú trọng đến cái dáng bên ngoài theo phương châm “tốt đẹp khoe ra, xấu xa che lại”, nhưng chính cái họ khoe ra không phải là cái tốt thật bên trong mà chỉ là lớp hào nhoáng bên ngoài, làm lòe mắt mọi người, nhưng không bịt được ai :
Khác nào quạ mượn lông công
Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa.
(Ca dao)
Thế giới ngày nay, quá ít người sống chân thật. Quá nhiều người sống mã nước sơn bên ngoài. Họ không còn biết giá trị “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Lợi dụng nhược điểm này, nghệ thuật tuyên truyền quảng cáo tràn ngập thị trường. Hàng giả, hàng giổm, đẹp mã, bán chạy như tôm tươi. Hàng thật, hàng tốt thì lại ế ẩm không ai mua. Người tài đức bị liệng bỏ. Kẻ vô tài thất đức, lẻo mồm tâng bốc nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm láo , báo cáo hay” .
Trông anh như thể sao mai,
Biết rằng trong có như ngoài hay không.
(Ca dao)
b) Kitô hữu thật hay giả ?
Theo bài đọc 1 hôm nay, thì tiên tri Ezéchiel cho biết, tiên tri thật thì ít, tiên tri giả thì quá nhiều. Họ làm nhiều người công chính, bỏ đàng công chính của Thiên Chúa đi theo tà thần đế quốc Babylon để kiếm danh lợi. Tiên tri Ezéchiel đã phải quyết liệt cảnh cáo họ :”Khi người công chính bỏ đàng công chính mà làm điều gian phi…thì nó phải chết”. Đồng thời ông cũng kêu gọi :”Kẻ bất luơng bỏ đàng bất lương, mà thi hành đường công chính thì nó sẽ được sống”.
Ngày xưa có nhiều tiên tri giả, ngày nay không còn tiên tri nữa thì lại có Kitô hữu giả. Họ mang danh là Kitô hữu nhưng cuộc sống thực tế của họ không còn là Kitô hữu nữa. Có nhiều người cố gắng làm ra vẻ bề ngoài là Kitô hữu nhưng cuộc sống riêng tư của họ không còn là Kitô hữu chính danh nữa, vì họ không còn sống theo luật Chúa nữa. Có thể họ sẽ nói rất hay về đạo đức nhưng trong thực tế họ không sống đạo chút nào. Họ chỉ có cái vỏ bề ngoài là đạo nghĩa.
Muốn trở thành người Kitô hữu chính danh thì cần có sự “Hối cải”, vì như triết gia Soren Kierkegaard, thì “không hề có tình trạng đã thành một Kitô hữu mà chỉ có trong tình trạng đang trở thành một Kitô hữu”.
Theo Mark Link thì sự hối cải chỉ là một tiến trình, là một cuộc du hành đang tiếp diễn và chỉ chấm dứt khi nào chúng ta chết. Tiến trình này gồm ba bước :
– Bước thứ nhất trong tiến trình này là sự bất mãn tận căn với nếp sống hiện tại của chúng ta..
– Bước thứ hai là bước tia lửa làm thành ngọn lửa thúc giục chúng ta làm điều gì đó cho cuộc sống mình.
– Bước cuối cùng là thực hiện việc làm đầu tiên cực kỳ quan trọng là hướng về một cuộc sống mới, nhờ sự cầu nguyện kiên trì.
Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta khám phá ra cuộc sống của mình. Chúng ta có cảm thấy bất mãn về mối tương giao hiện tại giữa mình và Chúa Giêsu không ? Chúng ta có ao ước thân tình sâu sắc với Chúa không ? Chúng ta có muốn yêu thương gia đình láng giềng của chúng ta nhiều hơn giống như Chúa Giêsu yêu thương họ không ?
Nếu có thì các bài đọc hôm nay có thể ví như tia lửa bật ra để biến thành ngọn lửa mà chúng ta cần thiết phải có để làm nên một điều gì cụ thể cho các mối tương giao trên (x. Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 289).
II. TRỞ THÀNH KITÔ HỮU THỰC THỤ
- Tránh tính phô trương
Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án thói phô trương của đám luật sĩ và biệt phái. Ngài không ngại gọi họ là rắn độc, mồ quét vôi trắng. Chúa khuyên họ hãy lo làm đẹp cái bên trong chứ đừng chỉ lo cái bên ngoài :”Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái ! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác”(Mt 23,27).
Cái tính phô trương này xuất hiện trong khi người ta không để ý đến bởi vì nó được ngụy trang bằng nhiều cách. Nhưng giấu đầu hở đuôi, sự phô trương cũng bị lộ ra một cách bất ngờ.
Truyện : Ông Diogène và ông Platon.
Platon hồi ấy là người yêu nghệ thuật. Nhà ở của ông được trang trí bằng nhiều bức thảm qúi đẹp. Một hôm, DIOGENE, – người chủ trương sống màn trời chiếu đất, đầu đường xó chợ – tới thăm Platon. Tới nơi, mặt đỏ gay, con mắt trợn trừng, ông ta vừa đạp thình thịch lên tấm thảm qúi của Platon, vừa nghiến răng nói :
– Ta chà đạp dưới chân tính phô trương kiêu hãnh của nhà ngươi.
Ông Platon bình tĩnh trả lời :
– Phải, và với một sự phô trương kiêu hãnh sâu rộng hơn nhiều.
Thì ra đời sống bên ngoài đầy quảng cáo của Diogène không đi đôi với đời sống bên trong. Nhà quân tử cũng mắc phải chứng bệnh phô trương như ai.
(Vũ minh Nghiễm, Dừng, 1962, tr 207).
- Sống trung thực với lòng mình
Chúa Giêsu đã nói :”Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt là do lòng xấu mà ra”. Biết thế, nhưng con người vẫn phô trương, mà phô trương là phô ra ngoài những cái mình không có, ví dụ các luật sĩ và biệt phái, họ chỉ có cái vỏ bề ngoài, còn bên trong thì trống rỗng.
Phải sống trung thực với lòng mình, phải làm sao cho “ngôn hành đồng nhất”, lời nói và việc làm không được mâu thuẫn nhau. Nhiều người nói thì rất hăng nhưng khi làm thì chẳng thấy đâu, họ giống như đứa con thứ trong dụ ngôn hôm nay. Lời nói không có giá trị khi không có việc làm kèm theo :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Nói mà không làm thì sẽ bị người ta chê cười :
Nói thì đâm năm chém mười,
Đến khi tối trời chẳng dám ra sân.
(Tục ngữ)
Người ta đánh giá trị một người không phải ở lời nói nhưng là việc làm. Có một khoảng cách xa giữa lời nói và việc làm, cũng như giữa lý thuyết và thực hành : một lý thuyết dù hay mấy mà không đem ra thực hành thì cũng vô ích. Vì vậy mà người ta nói :”Năng thuyết bất năng hành”, chỉ nói mà không làm.
Truyện : Anh chàng Aristogiton.
Aristogiton hồi ấy lúc thanh bình, là một nhà ái quốc thượng thặng. Thở ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hoàn cảnh để cổ võ những đức tính anh hùng kiêu xa của người chiến sĩ yêu nước. Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng như chàng đang tuyên chiến với tất cả các cường quốc trên thế giới.
Nhưng đến khi phải thi hành lệnh quân dịch, người ta thấy chàng đột nhiên bước đi khập khiễng, tay chống gậy, chân thì băng bó, trông thảm não vô cùng.
Biết rõ những bí ẩn của chàng, ông Photion trợn mắt nói :”Aristogiton đã làm một người què lại còn hèn nhát”.
III. BÀI HỌC THỰC HÀNH
Theo các bài đọc hôm nay, chúng ta có thể rút ra được hai bài học :
- Giá trị của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ ở hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không. Theo bài đọc 1 :”Khi người công chính bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình… nó không phải chết”.
- Giá trị thực của con người không do những lời nói tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó :”Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ? Họ trả lời : “Người thứ nhất””. Vì Thiên Chúa theo đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalena, tên trộm lành…
Phần chúng ta đã biết đường lối của Thiên Chúa là như thế, chúng ta phải làm sao ?
– Đừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng “công chính” để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình.
– Cũng đừng cho rằng mình thuộc hàng “thu thuế và đĩ điếm” để rồi buông xuôi cho dòng đời lôi cuốn.
Hãy sống trung thực với lòng mình. Hãy sám hối và chỉnh sửa lại cuộc sống, sao cho mình xứng đáng là con Chúa, là Kitô hữu để cuộc sống tốt lành của mình toả ra mùi thơm tho nhân đức vì “hữu xạ tự nhiên hương”. Lúc đó không cần phải phô trương, tự cuộc sống của mình đã minh chứng điều đó :
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
(Ca dao)
Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta có một tâm hồn và thể xác xinh đẹp như lời cầu của nhà hiền triết Aristote :
“Lạy các thần thánh
Xin cho tôi được xinh đẹp bên trong.
Xin cho mọi sự tôi có ở bên ngoài
đều thuận lợi cho vẻ đẹp của hồn tôi”.
Lm. Giuse Đinh lập Liễm, Gp. Đà Lạt
…………………
Suy Niệm 4: Dạ dạ, vâng vâng
Sẵn sàng chấp nhận số phận của chính mình là điều kiện cơ bản để đạt được thành công trong cuộc sống. Sự sẵn sàng này bao gồm lời xin vâng trong mọi lãnh vực, từ trong gia đình đến việc làm, sinh hoạt xã hội cũng như tôn giáo, sự nhìn nhận những tài năng và những khuyết điểm của chính mình. Sẵn sàng chấp nhận số phận cũng đồng nghĩa là chấp nhận chính bản thân mình. Con người không sống đơn độc một mình. Không ai là một hòn đảo. Những người khác cũng cần lời xin vâng của chúng ta. Có lẽ ai cũng từng tận mắt chứng kiến một số người đến với chúng ta với những nhu cầu cấp bách hay những ước muốn mong được đổ đầy. Lẽ dĩ nhiên trong số đó cũng có những kẻ nhu nhược sống dựa hơi vào người khác, những kẻ lợi dụng lòng tốt hay sự yếu đuối của chúng ta. Nhưng phần đông trong số đó thực sự cần đến sự giúp đỡ. Trong cuộc sống con người luôn cần người khác. Ai cũng cần những lời tán dương khen thưởng, tình yêu, sự nồng ấm và lòng tha thứ. Ai cũng đã từng thề thốt hứa hẹn: tình yêu và lòng chung thủy. Tôi luôn nhớ đến anh – Có cơ hội tôi sẽ ghé thăm anh, sẽ trao đổi thư từ – Tôi sẵn lòng khi anh cần đến tôi.
Những người mang thành kiến luôn nghĩ rằng, người công giáo là những người suốt đời chỉ biết vâng vâng, dạ dạ. Anh chị có sẵn sàng yêu thương đón nhận con cái mà Chúa sẽ ban và giáo dục chúng theo luật Chúa Kitô và Hội thánh không? Đây là một trong những câu hỏi mà các cô dâu chú rễ đều trả lời: Thưa có. Khi những bậc làm cha làm mẹ đem con đến nhà thờ để lãnh nhận bí tích Rửa tội, họ cũng hứa những lời tương tự. Nhiều câu hỏi được đặt ra trong ngày truyền chức phó tế, linh mục và giám mục. Tất cả đều trả lời như thế. Trong ngày khấn của các tu sĩ nam nữ cũng không mấy khác biệt. Ai cũng trả lời sẵn sàng vì chỉ một chút do dự hoặc từ chối thì mộng vỡ tiệc tan. Khi đi đến nhà thờ mọi người đều dùng tay nhúng vào nước thánh rồi làm dấu Thánh giá để nhớ lại ngày mình đã lãnh nhận bí tích Rửa tội. Khi đọc Kinh Tin Kính chúng ta cũng tuyên xưng lòng tin và hứa sẽ sống và thực thi giới luật tình yêu của Đức Giêsu. Khi đọc Kinh Lạy Cha chúng ta xin: “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” Kết thúc với lời Amen có nghĩa là tôi tin sẽ xảy ra như vậy. Nhưng sau khi xưng tội hay khi ra khỏi nhà thờ thì sao? Phải chăng vẫn chứng nào tật nấy, mèo vẫn hoàn mèo?!
Ôi, hai tâm hồn sống chung trong lồng ngực của tôi. Chúng ta đôi khi bị đè nén không ít khi gặp những tình huống mà cả hai đều lên tiếng tranh đấu, không ai nhường nhịn. Chấp nhận hay từ chối chúng ta phải đưa ra một quyết định cụ thể. Chúng ta luôn có cơ hội cả khi chúng ta trước tiên chối từ rồi hối hận thực hiện. Người cha trong dụ ngôn trao cho mỗi đứa con cùng một nhiệm vụ: “Hãy đi làm vườn nho”. Thiên Chúa cần chúng ta đóng góp xây dựng để Nước Trời phát triển và sinh hoa kết trái. Ngài cũng biết chúng ta yếu đuối dễ dàng phạm tội. Ngài cũng ban cho chúng ta quyền tự do chọn lựa. Ngài cũng sẵn lòng chờ đợi khi chúng ta phản bội ngoảnh mặt làm ngơ. Ngài mời gọi chúng ta cảm nhận nghĩa vụ làm việc trong vườn nho và thực hiện sứ mạng khi kết thúc thánh lễ. Tình yêu không chỉ là lời nói, tình yêu là lời nói và hành động. Lời hứa xuông sẽ không mấy giá trị nếu không đi đôi với hành động cụ thể. Chúng ta sẽ trở nên người có uy tín khi lời nói và hành động hoà nhập thành một.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức