BÀI ĐỌC I: Is 56, 1. 6-7
Đây Thiên Chúa phán: “Hãy giữ luật và thực thi công bình, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và sự công chính của Ta sẽ tỏ hiện. “Người ngoại bang theo Chúa để phụng sự Chúa và mến yêu danh Người, để trở nên tôi tớ Chúa, tất cả những ai giữ ngày Sabbat, không hề sai lỗi, và trung thành với giao ước của Ta, Ta sẽ dẫn chúng lên núi thánh, và Ta sẽ cho chúng niềm vui trong nhà cầu nguyện. Ta sẽ nhận những lễ toàn thiêu và hiến tế của chúng trên bàn thờ, vì nhà Ta là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”.
BÀI ĐỌC II: Rm 11, 13-15. 29-32
Anh em thân mến, tôi nói với anh em là những người gốc Dân Ngoại rằng: Bao lâu tôi là Tông đồ các Dân Ngoại, tôi sẽ tôn trọng chức vụ của tôi, nếu có cách nào làm cho đồng bào tôi phân bì, mà tôi cứu rỗi được ít người trong họ. Vì nếu do việc họ bị loại ra, mà thiên hạ được giao hoà, thì sự họ được thâu nhận sẽ thế nào, nếu không phải là một sự sống lại từ cõi chết? Vì Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi ai, thì Người không hề hối tiếc. Như xưa anh em không tin Thiên Chúa, nhưng nay vì họ cứng lòng tin, nên anh em được thương xót; cũng thế, nay họ không tin, vì thấy Chúa thương xót anh em, để họ cũng được thương xót. Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người.
PHÚC ÂM: Mt 15, 21-28
Khi ấy, ra khỏi đó, Chúa Giêsu lui về miền Tyrô và Siđon, thì liền có một bà quê ở Canaan từ xứ ấy đến mà kêu cùng Người rằng: “Lạy Ngài là con Vua Đavít, xin thương xót tôi: con gái tôi bị quỷ ám khốn cực lắm”. Nhưng Người không đáp lại một lời nào. Các môn đệ đến gần Người mà xin rằng: “Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi”. Người trả lời: “Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel”. Nhưng bà kia đến lạy Người mà nói: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi”. Người đáp: “Không nên lấy bánh của con cái mà vứt cho chó”. Bà ấy đáp lại: “Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống”. Bấy giờ, Chúa Giêsu trả lời cùng bà ấy rằng: “Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy”. Và ngay lúc đó, con gái bà đã được lành.
Suy Niệm 1: CHÚA MUỐN MỌI NGƯỜI ĐƯỢC CỨU ĐỘ, CHÚNG TA CŨNG MUỐN
Lời Chúa trong Chúa Nhật tuần trước bắt đầu với đề tài đức tin khi Chúa Giêsu khiển trách Phêrô là “người kém tin.” Hình ảnh kém tin của Phêrô đã được thay thế bởi hình ảnh “lòng tin mạnh mẽ” của người đàn bà Canaan. Trong bài đọc 1, Ngôn sứ Isaia trình bày cho chúng ta lời sấm của Đức Chúa mời gọi con cái Israel bước đi trong đường lối Ngài: “Hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh, vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới, và đức công chính của Ta sắp được biểu lộ” (Is 56:1). Đây là lời mang lại sự an ủi cho những người đang sống trong cảnh lưu đày, đang đối diện với những khó khăn, áp bức trong cuộc sống. Hơn nữa, Đức Chúa còn hứa ban niềm vui cứu độ và lắng nghe những người “ngoại bang”: “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cùng trở nên tôi tớ của Người, hết những ai giữ ngày sabát mà không vi phạm, cùng những ai tuân thủ giao ước của Ta, đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của Ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân” (Is 56:6-7). Những lời này cho chúng ta thấy ơn cứu độ của Đức Chúa không còn giới hạn cho dân Israel, nhưng mở rộng cho muôn dân. Tính phổ quát của ơn cứu độ trong lời sấm này đã được hoàn thành trong câu chuyện giữa Chúa Giêsu và người đàn bà Canaan hôm nay. Chi tiết này mời gọi chúng ta ra khỏi lối nghĩ hạn hẹp của mình để mở rộng cõi lòng đón nhận tất cả mọi người và yêu thương họ như Chúa yêu thương chúng ta.
Tính phổ quát của ơn cứu độ được tìm thấy cách cụ thể trong lời và gương sáng của Thánh Phaolô. Trong thư gởi tín hữu Rôma, thánh nhân đã ngõ lời với họ, “những người gốc dân ngoại. Với tư cách là Tông Đồ các dân ngoại, tôi coi trọng chức vụ của tôi, mong sao nhờ vậy mà tôi làm cho anh em đồng bào tôi phải ganh tị, và tôi cứu được một số anh em đó” (Rm 11:13-14). Thánh nhân đã trở nên mọi sự cho mọi người. Ngài luôn tìm kiếm thánh ý Chúa và làm cho con tim của mình được đổ đầy với tình yêu tuyệt đối, không giới hạn của Thiên Chúa. Bên cạnh đó, Thánh Phaolô cũng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa luôn trung thành, không thay đổi trong lời hứa của Ngài: “Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn và kêu gọi, thì Người không hề đổi ý” (Rm 11:29). Điều Ngài mong ước nơi chúng ta là sự vâng phục. Vâng phục thánh ý Chúa là một trong những điều kiện cần thiết cho người môn đệ của Chúa Giêsu. Trong cuộc sống thường ngày, Thiên Chúa sử dụng những biến cố để dạy chúng ta về sự vâng phục thánh ý Ngài. Chúng ta chỉ có thể thăng tiến trên con đường vâng phục khi chúng ta biết không làm theo khuynh hướng tự nhiên, không làm theo ý mình, nhưng chìm đắm trong đối thoại với Chúa trong từng phút giây.
Câu chuyện được trình thuật trong bài Tin Mừng hôm nay mang lại cho chúng ta một niềm an ủi và sự kiên trì khi chúng ta tưởng Thiên Chúa tỏ ra “khó khăn” với chúng ta. Chúng ta cũng tìm thấy câu chuyện này trong Tin Mừng Thánh Máccô (7:24-30). Chúng ta thấy Thánh Mátthêu chuyển điểm tập trung từ phép lạ đến đối thoại. Câu chuyện được bắt đầu với lời cầu xin của người đàn bà Canaan: “‘Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Đứa con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!’ Nhưng Người không đáp lại một lời” (Mt 15:22-23). Thánh Mátthêu chọn cái tên cổ xưa trong Kinh Thánh để thay vào chỗ của cái tên mang tính đương thời của Thánh Máccô là người Syrophoenix. Người phụ nữ có thể nói là người bị loại ra bên lề xã hội, đó là bà ta một mình đơn độc trong thế giới của người nam; bà ta là người dân ngoại và như thế bị liệt vào hạng người ô uế; một người không thanh sạch ngay từ trong nôi. Dù là dân ngoại, nhưng bà ta tuyên nhận Chúa Giêsu là “con vua Đavít.” Đây chính là điều Thánh Mátthêu muốn chứng minh trong Tin Mừng của Ngài [nhất là qua gia phả (x. Mt 1:1)]. Điều đáng để chúng ta suy gẫm ở đây là trước người phụ nữ đáng thương này, thay vì Chúa Giêsu ban cho bà những gì bà xin, thì Chúa Giêsu không đáp lại lời nào. Thái độ của Ngài có vẻ cũng hơi khắc nghiệt, thiếu tử tế. Thái độ im lặng khác thường này của Chúa Giêsu được giải thích trong câu kế tiếp, đó là Ngài không muốn đi vượt qua sứ vụ mà Chúa Cha đã trao phó cho Ngài. Nói cách khác, qua sự thinh lặng của mình Ngài muốn khẳng định Ngài được sai đến không phải để làm theo ý mình mà làm theo ý Đấng đã sai Ngài. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta về cách hành xử của mình. Nhiều lần chúng ta cũng để cho những cảm xúc nhất thời chiếm lấy, để rồi chúng ta không còn nhận ra thánh ý Thiên Chúa để thực hiện mà hành xử theo cảm xúc con người nhất thời của mình. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong mọi sự không nên hành xử theo cảm xúc nhất thời, nhưng biết chìm trong “thinh lặng” để tìm thánh ý Thiên Chúa trước khi hành động.
Các môn đệ chạnh lòng thương, nên lại gần xin với Người rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi !” Chúng ta thấy, sứ vụ làm trung gian giữa Chúa Giêsu và dân chúng được trình bày trong phép lạ hoá bánh ra nhiều bây giờ được phản chiếu lại trong sự kiện này. Nhưng Chúa Giêsu dường như kiên định trong quyết định của mình, Ngài đáp: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi” (Mt 15:24). Như chúng ta đã trình bày ở trên, Chúa Giêsu không muốn vượt quá sứ vụ được giao phó của Ngài, đó là “chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel.” Câu nói này phản ảnh cách trung thực quy luật của Chúa Giêsu lịch sử, sứ mệnh của Ngài là quy tụ tất cả Israel cho những sự kiện trong ngày sau hết. Trong thời gian chờ đợi thời cánh chung, sứ vụ đến với các dân ngoại và mang Tin Mừng của Ngài đến tận cùng trái đất là sứ vụ của các môn đệ (x. Mt 28:19).
Đến đây, câu chuyện lại trở lại với cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ:
Người phụ nữ: Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!
Chúa Giêsu: Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.
Người phụ nữ: Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.
Chúa Giêsu: Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy.
Trong cuộc đối thoại này, Thánh Mátthêu vẫn giữ lại câu nói “khó nghe” của Chúa Giêsu từ Tin Mừng Thánh Maccô: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Những lời này ám chỉ khoé nhìn về cứu độ mang tính lịch sử: trước hết là người Do Thái, sau đó mới đến dân ngoại (x. Rm 1:16). Người phụ nữ nhanh chóng nắm lấy hình ảnh Chúa Giêsu đưa ra để thay đổi nó hầu mang lại lợi ích cho mình mà không ngạo mạn hay kiêu căng. Sự khiêm nhường sâu thẳm của bà đã chiến thắng. Chúa Giêsu đã rất quảng đại trong lời khen của mình (chỉ có một mình người phụ nữ được Chúa Giêsu nói là có lòng tin mạnh trong Tin Mừng Thánh Mátthêu) và trong quyền năng chữa lành của Ngài. Kết quả của cuộc đối thoại là Chúa Giêsu khen bà về niềm tin mạnh mẽ của bà, và người phụ nữ được ban cho những gì bà cầu xin: “Từ giờ đó, con gái bà được khỏi bệnh” (Mt 15:28). Trong sự kiện này, chúng ta nghe được hai tiếng nói trong Tin Mừng Thánh Mátthêu, đó là tiếng nói của những người nói ơn cứu độ chỉ dành cho những người Do Thái và của những người cho rằng ơn cứu độ dành cho hết mọi người. Điều này ám chỉ vấn đề đang xảy ra trong cộng đoàn Thánh Matthêu. Hình ảnh của người phụ nữ dạy chúng ta điều gì? Bà dạy chúng ta biết tìm thấy ý nghĩa trong những lời nói “khó nghe” của người khác hoặc trong những hoàn cảnh mà lời Chúa dường như trở nên một thách đố, đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ cái tôi và lòng tự ái của mình. Nghệ thuật sống trong đời là biết cười [có óc khôi hài] trước những lời nói hoặc hành động khó chấp nhận của ngườc khác. Đừng để sự tự ái và cái tôi làm chủ chúng ta.
Lm. Anthony, SDB.
………………………….
Suy Niệm 3: CHÚA MUỐN CỨU RỖI MỌI NGƯỜI
A. DẪN NHẬP
Thiên Chúa không dành riêng ơn cứu độ cho một dân tộc nào, mà muốn dành cho mọi dân tộc không phân biệt mầu da, tiếng nói. Dân Do thái là dân được tuyển chọn, dân riêng của Chúa được chuẩn bị để đón nhận ơn cứu độ, đón nhận lời rao giảng của Chúa Giêsu , nhưng họ đã từ chối, lại còn chống đối Ngài.
Người đàn bà Canaan là đại diện cho dân ngoại được đón nhận đức tin, được Chúa ban hồng ân theo lòng tin khiêm tốn và kiên trì của bà. Chính Chúa Giêsu đã phải bỡ ngỡ về lòng tin sắt đá của bà nên đã khen ngợi :”Lòng tin của bà mạnh thật”, và đáp lại lòng tin ấy Chúa Giêsu đã nói :”Bà muốn sao thì được như vậy”.
Chúng ta là những Kitô hữu , ai cũng đã có đức tin nhưng nhiều khi còn non yếu, có khi còn non yếu hơn cả người ngoại. Hãy củng cố đức tin ấy và sẵn sàng đón nhận những thử thách Chúa gửi cho để đức tin của chúng ta mỗi ngày một tăng trưởng dưới sứ hướng dẫn và che chở của Chúa.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Is 56,1.6-7.
Tiên tri Isaia đã viết đoạn sách này từ một thế kỷ sau cuộc lưu đầy ở Babylon. Dân Israel được trở về quê hương, xây dựng lại đền thờ Giêrusalem, và đền thờ trở nên trung tâm của mọi sinh hoạt tôn giáo và xã hội. Isaia cho biết : Thiên Chúa không những chỉ dành ơn cứu độ cho dân riêng của Ngài là Israel, Ngài còn muốn mở rộng dân này bằng cách nhận tất cả những ai thừa nhận Ngài như là Đức Chúa chân thật và duy nhất, mà hiến thân phục vụ Ngài vì “Nhà Ta là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc”.
+ Bài đọc 2 : Rm 11,13-15.29-32.
Trên bước đường truyền giáo, thánh Phaolô thấy dân Do thái đã được chuẩn bị đón Chúa lại khước từ không nhận Ngài. Tuy thế, Ngài không thất vọng, vì dân ngoại đã có lòng tin mạnh mẽ nên được Thiên Chúa xót thương, để cho dân Do thái, dân đã có đạo từ lâu, thấy mình không được ơn thương xót cứu giúp vì kém lòng tin, nên phải có lòng tin mạnh mẽ mới mong được ơn thương xót của Chúa.
Lòng thương xót của Chúa đối với dân ngoại là một đòn bẩy gián tiếp bẩy dân có đạo noi gương lòng tin mạnh mẽ của dân ngoại, đánh thức lòng tin của dân Chúa để sẽ được Chúa xót thương.
+ Bài Tin mừng : Mt 15,21-28.
Bài Tin mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta : Thiên Chúa không phải chỉ dành riêng cho dân Do thái mà còn ban ơn cho cả dân ngoại. Người đàn bà Canaan là một người dân ngoại, đáng lẽ bà không được hưởng hồng ân của Chúa ban vì Đức Giêsu chỉ muốn thi hành sứ mệnh của Ngài với dân Do thái mà thôi, theo lời Ngài đã hứa với họ, nhưng Chúa không ngần ngại nhận lời cầu xin của người dân ngoại này.
Tại sao Chúa ban hồng ân cho bà ấy ? Vì bà đã có đức tin rất khiêm nhường và hoàn toàn trông cậy nên bà ấy đã làm cho Chúa xiêu lòng : Ngài đã nhận lời cầu xin của bà và hứa cho con bà khỏi bị quỉ ám.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Lòng tin của bà mạnh thật
Lòng tin mạnh mẽ cần thiết, thế nên lòng tin ấy cần phát sinh tâm tình khiêm hạ, can đảm, kiên trì cũng như niềm hy vọng thật sự thì lòng tin ấy mới có hiệu lực và ích lợi. Người đàn bà Canaan ngày hôm nay, do lòng tin mạnh mẽ, nên bà đã khiêm hạ thực sự, nhìn nhận tất cả những thành kiến của người khác đối với mình, sự khiêm hạ này đã khiến Đức Kitô động lòng như thế nào ?
Bà cũng đã can đảm nói lên ước muốn và kiên trì xin cho được một ân huệ, bất chấp sự thinh lặng hững hờ của Chúa Giêsu, và bà đã không thất vọng vì những câu trả lời của Đức Giêsu đối với các môn đệ. Trái lại, qua những lời bà nghe thấy, bà nắm chắc được tia hy vọng lóe sáng ở đó : Ngài để cho vụn bánh từ bàn ăn rơi xuống… nhờ niềm hy vọng mà lời cầu xin của bà ta có sức mạnh.
I. NÓI VỀ ĐỨC TIN
- Tin là gì ?
Đức tin là hạt giống thiên ân. Hạt giống đức tin vun trồng nhờ ơn thánh và sự nỗ lực của từng cá nhân. Tin là đòi hỏi chúng ta chấp nhận những điều vượt trên sự lý giải của lý trí. “Tin là chấp nhận vô điều kiện và bước theo” (ĐHY Nguyễn văn Thuận).
Phân tích chữ TIN.
Chữ TIN bởi chữ TÍN.
Theo Hán học, chữ TÍN gỗm chữ “nhân” và chữ “ngôn”, nghĩa là tin vào lời người khác nói.
Tiếng Pháp thì chữ CROIRE , nguyên ngữ của nó nghĩa là ‘dựa vào lời lẽ kẻ khác và chứng kẻ khác mà tin” vì họ không thể sai lầm và không thể đánh lừa chúng ta.
Chữ TIN còn có nghĩa rộng là nhận làm chắc chắn những cái ngũ quan ta không thấy, chỉ nhờ lý luận của ta mà biết có thực. Ví dụ : Tôi thấy có vùng khói trước mặt tôi, tôi tin có lửa sau bức tường che mắt tôi.
Theo triết gia SPINOZA và những triết gia khác đã phân tách : tin là việc hoàn toàn tùy thuộc vào lý trí, chúng ta tin vì những lý chứng hiển nhiên đáng cho ta tin. Một ý tưởng hiển nhiên nó thúc bảo chúng ta phải tin, chúng ta không thể phủ nhận không tin được …
Ông J. Calvet nói :”Dĩ nhiên lòng tin phải dựa vào lý chứng bởi vì một phần nào nó cũng là kiến thức về chân lý, nhưng nó là một hành động tự do của ý chí cho chúng ta tin tưởng gieo mình vào cánh tay của Thiên Chúa, khi ta tới chỗ nào mà khoa học không còn gì cho ta biết nữa” (J. Calvet, Prends et lis dịch bởi Lê thành Trị, Tìm hiểu Duy linh, tr 91-92).
- Thấy và hiểu mới tin ư ?
Khó hiểu là một chuyện mà phi lý lại là một chuyện khác ! Khó hiểu mà hợp với chân lý thì không sao. Chỉ sợ khó hiểu mà đi ngược với chân lý thôi.
Biết bao điều bí ẩn trong vũ trụ mà ta chưa hiểu hết được, hay nói một cách thông thường, chán chi những sự dễ dàng trước mắt mà ta không hiểu nổi và không hiểu hết.
Trí khôn con người chỉ hiểu biết một mức nào thôi, cũng ví như cậu học sinh không thể hiểu biết được ngang với trình độ giáo sư. Ví dụ : một em bé, học mới trình độ toán cộng, em làm một bài toán : 1+1+1 = 3. Nhưng tôi lại bảo rằng cũng phương pháp làm toán mà ba con số 1 bằng số 1 : 1x1x1 = 1.
Em bé chưa hiểu quy tắc phép nhân nên không hiểu biết được. Vậy thì hỏi em bé này có tin phương pháp làm toán này không ? Ví dụ trên cũng như trăm ngàn ví dụ khác đều chứng minh cho ta thấy rằng : chán chi sự việc trong đời rất tầm thường mà ta không thể hiểu hết được nhưng ta vẫn tin (Sđd, tr 88-89).
Truyện : Hiểu mới tin
Một vị trạng sư tự phụ rêu rao trước mặt đông người rằng : mình chỉ tin cái mình hiểu thôi. Trong đám đông có một thằng nhỏ đã được nghe cha xứ giảng, đứng lên hỏi :
– Thưa ông, nếu vậy ông không tin những gì ông không hiểu ư ?
– Dĩ nhiên thế.
– Thưa ông, vậy xin ông cho cháu biết : tại sao ông cử động được ngón tay ?
– Tại vì ta muốn, chỉ có thế thôi.
– Ông muốn, vậy sao ông không thể cử động được hai tai ?
Vị trạng sư bí lối không biết trả lời thế nào, bèn mắng :
– Thằng nhỏ này mày muốn giảng cho ta phải không ?
Nghe vậy mọi người đều cười.
(Trần công Hoán, Tìm hiểu ít thắc mắc, tr 50)
II. ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ CANAAN
Người đàn bà Canaan ngoại giáo này có một đức tin đặc biệt đã làm cho Chúa phải xiêu lòng mà ban cho bà được như ý sở nguyện :”Bà muốn thế nào sẽ được như vậy “(Mt 15,28). Như vậy, đức tin của người đàn bà này có nhiều đặc tính, chúng ta cùng tìm hiểu.
- Đức tin mạnh mẽ
Tại sao một số người có đức tin mạnh mẽ đang khi số khác đức tin lại yếu kém ? Tại sao một số người thấy đức tin là điều dễ dàng đang khi số khác lại thấy đó là điều khó khăn ? Người đàn bà ngoại giáo này biết mình là người ngoại, không hy vọng được Chúa đoái nghe vì người Do thái không ưa người Canaan, nếu không muốn nói là ghét và khinh bỉ họ. Thái độ lãnh đạm, khó chịu và muốn xua đuổi của các Tông đồ đối với bà ? Nhưng bà tin rằng thế nào Chúa cũng phải thương bà. Bà có lòng tin như một người ngoại khác là viên bách quan kia :”Thưa Thầy, tôi chẳng đáng Thầy vào nhà tôi, song xin Thầy chỉ phán một lời”(Mt 8,8). Nghe vậy Chúa Giêsu bỡ ngỡ nói với các kẻ theo Ngài :”Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta chưa hề gặp được lòng tin như thế nơi một người nào trong Israel”(Mt 8,10).
- Tin và khiêm nhường
Chữ “con cái” thì hiểu về dân Do thái, “chó con” thì hiểu về dân ngoại. Chúa Giêsu dùng cách nói thông thường của người Do thái chứ không có ý mỉa mai. Dùng chữ “chó con” mà không dùng chữ “chó” không. Chó con giống nuôi trong nhà được vỗ về, còn chó hay chạy bậy nơi đường phố có ý nghĩa khinh bỉ. Và chính tiếng “chó con” đã gợi cho bà này một lời thỉnh nguyện đầy khiêm nhường và tin tưởng.
Các Tông đồ đuổi bà đi mà không được, và chính Chúa Giêsu cũng dùng kiểu nói hơi nặng lời :”Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Bà sụp lạy trước mặt Ngài hơn lũ chó con nằm chực vụn bánh trên bàn chủ rơi xuống, nên không lạ gì bà đã thưa :”Thưa Ngài, đúng thế, nhưng lũ chó con lại được ăn những vụn bánh trên bàn rơi xuống”. Thật đáng kinh ngạc ! Không ai trong dân Israel hay dân có đạo nào lại khiêm tốn, hạ mình xuống đến thế trước mặt Ngài.
- Tin và yêu thương
Người đàn bà Canaan này có đứa con gái bị qủi ám đau khổ lắm. Bà thương con vô cùng mà không biết làm cách nào để cứu chữa con, bà bất lực hoàn toàn trong cảnh huống này. Vì quá thương đứa con gái bị qủi ám nên đã lặn lội đi tìm Đức Giêsu, nài nỉ van xin Ngài, bị các Tông đồ xua đuổi nhiều lần, bị Chúa Giêsu có vẻ hững hờ và còn nói những lời khinh bỉ nữa. Bà vẫn kiên trì, lòng yêu thương con bà giúp bà chịu đựng tất cả. Bà đến với Chúa Giêsu là vì người khác chứ không vì chính bà, bà đã đến vì tình yêu, đã đến với tư cách một người mẹ đầy lòng yêu thương, tin tưởng. Lòng yêu thương của bà đối với đứa con đã làm cho Chúa cảm động và nhận lời cầu khẩn của bà. Còn tình yêu nào cảm động cho bằng câu chuyện dưới đây :
Truyện : Người mẹ Arménia.
Câu truyện này xẩy ra vào tháng 12 năm 1987. Một cơn động đất đã xẩy ra ở Armenia thuộc Liên xô cũ giết chết hàng ngàn người. Trong số những người bị chôn dưới đống gạch vụn có hai mẹ con bà Suzanna. Hai mẹ con may mắn nằm lọt trong một khoảng trống nhỏ. Tất cả lương thực họ có chỉ là một hũ mứt nhỏ. Nhưng chẳng bao lâu hũ mứt cũng hết sạch. Lúc đó đứa con 4 tuổi kêu lên :”Mẹ ơi, con khát quá”. Bà Suzanna không biết tìm đâu ra nước cho con. Nhưng tình mẫu tử đã gợi cho bà một sáng kiến táo bạo : bà dùng một miếng kính vỡ cắt đầu ngón tay mình cho máu chảy ra và đưa vào miệng đứa con cho nó mút. Một lúc sau nữa nó lại kêu khát, bà lại cắt một đầu ngón tay nữa. Cứ như thế cho đến cuối cùng người ta cứu hai mẹ con ra. Sau khi ra ngoài, bà mẹ cho biết rằng :”Lúc đó tôi biết thế nào tôi cũng chết. Nhưng tôi muốn con tôi sống”.
- Tin và kiên nhẫn
Người đàn bà này gặp cản trở vì không phải là người Do thái. Bà ấy thuộc về một dân tộc không những là ngoại giáo, nhưng từ lâu còn là thù địch của dân được Chúa tuyển chọn. Thế mà bà đã cứ kêu to nài xin Chúa Giêsu cứu chữa con của bà bị qủi ám.
Bà mẹ người Canaan này là người dân ngoại. Bà biết ít hay không biết gì về Đấng là Thiên Chúa thật. Tuy nhiên, rõ ràng là bà đã nghe biết phép lạ của Chúa Giêsu, bà kêu lớn tiếng :”Lạy Ngài là con vua Đavít, xin thương xót tôi”. Tóm lại, bà này không tin rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhưng bà tin Ngài là một người khác thường và có quyền năng tuyệt vời.
Các môn đệ cứ muốn đuổi bà ấy đi, còn Chúa Giêsu thì thoái thác. Nhưng bà mẹ khôn ngoan và kiên trì này không thất vọng. Bà kêu lớn tiếng :”Lạy Ngài, xin giúp tôi”… Người đàn bà này đến với Chúa không phải chỉ vì Ngài có thể giúp đỡ, nhưng Ngài là nguồn hy vọng duy nhất của bà. Bà đến với niềm hy vọng tha thiết với nhu cầu thúc bách, với quyết tâm không chịu nản lòng. Người đàn bà này có một đức tính tối cần để cho lời cầu nguyện được hữu hiệu, đó là bà có lòng kiên nhẫn và thiết tha vô cùng. Cầu nguyện đối với bà không phải là một nghi thức nhưng là dốc đổ ước vọng nung nấu linh hồn bà, khiến bà cảm biết mình không thể bị từ chối.
III. ĐỨC TIN CỦA CHÚNG TA THẾ NÀO ?
Qua bài Tin mừng hôm nay, Giáo hội muốn mời gọi chúng ta noi gương bắt chước người ngoại giáo này để có một đức tin chân thành, khiêm tốn và kiên trì trong khi cầu nguyện.
Trong cuộc đời, rất nhiều khi ta bị hay được Thiên Chúa thử thách, nghĩa là Ngài cố tình để ta lâm vào cảnh đau khổ, cùng khốn, khó khăn. Cả cuốn sách về ông Gióp trong Kinh thánh nói lên sự thử thách có thể tới mức rất khủng khiếp của Ngài. Và thái độ của Đức Giêsu đối với người đàn bà Canaan là một thí dụ. Nhưng cuộc thử thách nào cũng phát xuất từ tình thương vô biên của Ngài đối với ta. Vì thử thách tới một mức độ nào đó rất là cần thiết để giúp con người tiến bộ, phát triển đức độ hoặc tài năng. Qua thử thách ta mới được rèn luyện vững vàng, bản lãnh. Và nhờ có thử thách ta mới chứng tỏ được đức tin, đạo đức, tài năng hay bản lĩnh của ta tới mức độ nào.
Kinh thánh nói :”Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Thử thách rất quan trọng cho con người trong cả đời sống vật chất cũng như tinh thần, nhất là trong đời sống thiêng liêng. Tổ phụ Abraham được gọi là “Pater credentium” (cha của những kẻ tin) vì ông đã chịu một thử thách quá sức tưởng tượng mà ông đã thắng .
Khi nghe tiếng Thiên Chúa phán, Abraham kể ra có nhiều cớ để từ chối đề nghị của Thiên Chúa. Người ta thường dễ phiêu lưu, mạo hiểm khi con trẻ tuổi, chưa bị gắn buộc bởi nghĩa vụ gia đình, hoặc chưa gây được sự nghiệp : nhưng Abraham đã cao niên, tuổi quá thất tuần (St 12,4), lại đã lập gia thất (St 11,29), còn cơ nghiệp thì dư dật, bộ hạ đông đúc, lục súc không ít, lời Thiên Chúa mời gọi xem như chẳng đem thêm gì đến cho Tổ phụ và còn nguy hiểm nữa.
Người ta lại cũng dễ thay đổi môi trường sinh hoạt khi có môi trường phong phú hơn đem đến cho mình cơ hội sống an toàn, sung mãn, với đủ tiện nghi : nhưng khi ấy Abraham đang sống tại Harân, một thị xã miềm Mêsopotamia mà lịch sử công nhận là văn minh, phồn thịnh. Bỏ Harân đã chắc gì tìm thấy một vị trí khá hơn ? Nơi Thiên Chúa ấn định là nơi xa lạ, chẳng hiểu đến rồi làm ăn có nổi chăng ? Đành rằng Chúa cũng hứa nơi ấy sau này sẽ phì nhiêu cho con cháu của ông Abraham (St 12,2-3) : nhưng tổ phụ làm gì có con cái để mà hy vọng cho hậu thế (St 18,11-12) ?
Vậy mà lời Chúa vang lên, Abraham đáp liền, rời cảnh an ninh, nếp sống nhàn hạ, lên đường để khởi xuớng một giai đoạn lang thang, long đong, chật vật, hết nếm mùi đói kém lại chịu cơn khói lửa của chiến tranh (St 12,10 và 14,13-14). Abraham đã gỡ mọi dây liên ái để gia nhập đất khách quê người : mà tổ phụ đã làm như thế CHỈ VÌ THIÊN CHÚA ĐÃ GỌI, CHỈ VÌ ABBRAHAM ĐÃ TIN.
Đức tin bao giờ cũng là một cuộc VĨNH BIỆT, CHIA LY : vĩnh biệt cái lòng tự phụ làm mình đinh ninh là có thể giải quyết mọi vấn đề, đối phó với các trở ngại bởi duy sức riêng mình, chẳng cần nhờ đến sự can thiệp bên ngoài, bên trên. Vĩnh biệt để chấp nhận một trật tự khác : trật tự siêu nhiên của Thiên Chúa (Nguyễn huy Lịch, báo Nhà Chúa, số 3, 1968, tr 6-7).
Trong mọi gian nan thử thách, chúng ta luôn tin tưởng rằng Chúa luôn ở bên chúng ta để nâng dờ, khích lệ mặc dầu chúng ta không trông thấy. Con mắt Ngài hằng theo dõi chúng ta như người mẹ hiền đang tập cho con bước đi. Đứa con cứ tin tưởng bước đi trong vòng tay của mẹ, nếu có ngã thì vòng tay của mẹ đã ôm vào lòng.
Truyện : Chính ba tôi cầm tay lái.
Ông Byron, một thi sĩ Anh, có viết một câu truyện như sau :
Hôm ấy, một con tầu đang rẽ sóng lướt đi trên mặt biển mông lung. Phía chân trời xa, một chòm mây xám chờn vờn nổi lên. Bầu trời quang đãng không mấy chốc đã bị phủ kín đen đặc. Rồi cơn giống tố ầm ầm phát nổ. Sấm chớp kinh hoàng. Và càng lâu mưa càng lớn, gió càng mạnh. Các hành khách hoảng hồn mất vía kêu la thất thanh, hỗn loạn. Duy có một đứa trẻ cứ ngồi chơi trên cầu tầu, bình tĩnh ngồi nhìn con tầu chòng chành nghiêng ngửa, giữa muôn con sóng dữ tợn gầm gừ đang lao mình tới, như không có việc gì xẩy ra.
Lạ lùng ! Một thủy thủ giương to đôi mắt hỏi :
– Em không sợ chết sao ?
– Sao lại sợ ? Chính ba tôi cầm tay lái con tầu này kia mà.
Chớ chi ta cũng trả lời được như vậy trước mỗi một cơn thử thách, mỗi một bước gập gềnh trên biển dương thế đầy giao động vì chính Cha chúng ta đang cầm lái con tầu trần gian !
Chớ chi ta biết áp dụng vào đời sống lời Chúa đã nói lên trước ngày Thương khó :
“Tôi phải đâu một mình đơn côi ?
“Tôi có Người Cha vạn năng ở bên cạnh”
(Ga 16,32)
Xin Chúa cho mọi người chúng con cũng có một lòng tin mạnh mẽ vào quyền năng của Chúa như người đàn bà Canaan nọ, và từ niềm tin đó chúng con cũng biết khiêm hạ, trước nhan Chúa, nhưng không khiếp sợ; trái lại, can đảm kiên trì bầy tỏ tất cả những ước muốn chất chứa trong cõi lòng chúng con với niềm hy vọng sâu xa vào sự giúp đỡ của Chúa. Có như thế đời sống của chúng con sẽ đầy tràn sự thỏa mãn và hạnh phúc.
Lm. Giuse Đinh lập Liễm, GP. Đà lạt
…………………………
Suy Niệm 4: Sức mạnh của lòng tin
“Phu nhân và con chó nhỏ” là một truyện nổi tiếng của nhà văn Anton Tschechow. Khi nghe tựa đề này người ta liên tưởng ngay đến lời tường thuật của thánh sử Mátthêu về cuộc đối thoại giữa người đàn bà xứ Canaan và Đức Giêsu. Người đàn bà này không phải là một phu nhân, bà chỉ là một người dân ngoại và một người mẹ. Tấm lòng của một người mẹ dành cho đứa con xấu số của mình thật cao cả và đầy ngưỡng mộ. Bà chấp nhận gạt bỏ mọi hiềm khích với người Do thái qua một bên, sẵn sàng chịu sỉ nhục và khinh khi khi đến cầu xin cho con mình. Thái độ dửng dưng của Đức Giêsu cũng không làm bà từ bỏ. Lời đáp trả độc đáo của bà khi bị so sánh với lũ chó con đã làm bà nổi tiếng và gây ấn tượng khó quên nơi người nghe. Có lẽ không ai ngờ rằng những lời lẽ như thế này lại phát xuất từ môi miệng của Đức Giêsu là Đấng hiền từ và khiêm nhường trong lòng. Ngài là người Do thái. Thái độ và lời nói của Ngài phản ánh nét căng thẳng trong mối quan hệ giữa hai dân tộc. Tâm ý của Ngài phải đợt đến phút cuối mới trở nên rõ ràng.
Đoạn Phúc âm này giúp chúng ta nhớ lại lời đáp trả của Đức Giêsu tại tiệc cưới Cana khi thân mẫu Ngài đến cầu xin cho đôi bạn trẻ: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?” Chúng ta nghe mà giống như bị nổi gai ốc. Có ai lại nói với mẹ mình như thế này chứ! Phải chăng là công tư phân minh? Phản ứng của Đức Maria không được ghi nhận lại, chỉ nhấn mạnh lòng tin vào Ngài khi nói: “Người bảo gì, các anh hãy làm theo”. Ông Phêrô cũng bị la mắng thậm tệ khi Đức Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn của Ngài và ông lên tiếng can ngăn: “Xatan! Lui lại đằng sau Thầy!” Dù là ai đi nữa thì lỗi lầm phải kết án và gánh chịu hình phạt, nhưng không được phép nói người đó là kẻ xấu, tông ty họ hàng của kẻ đó là người xấu. Thiên Chúa không đặt ai làm quan toà và cũng không cho phép ai kết án kẻ khác như thế. Dù lỗi lầm và yếu đuối nhưng Đức Giêsu không hạ bệ bỏ rơi ông Phêrô, Ngài vẫn tin và chọn ông làm đá tảng để xây dựng Giáo hội. Ngoài ra những lời lẽ đanh thép khi Ngài khiển trách đám kinh sư và biệt phái cũng không phải ít.
Thái độ của các Tông đồ trong đoạn Phúc âm cũng rất tồi tệ. Các ông cảm thấy chướng tai gai óc khi bà cứ đi sau năn nỉ. Chúng ta nghe lời dịch lịch sự khi các ông đến xin Đức Giêsu: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi”. Nếu dịch sát nghĩa: “Xin Thầy đuổi bà ấy cút xéo đi”. Lời lẽ của Đức Giêsu xác nhận Ngài toàn tâm toàn ý, dốc hết sức thực thi sứ mạng Chúa Cha trao phó, nhưng Ngài cũng không khỏi ngạc nhiên trước lòng tin mạnh mẽ của người đàn bà xứ Caanan. Lòng tin và sự nhẫn nại của bà là một gương sáng cho chúng ta. Bà được so sánh với người đàn bà trong dụ ngôn của Đức Giêsu khi đối phó với một vị quan toà bất công. Bà tìm đủ mọi cách để chèn ép ông để ông cuối cùng phải nhượng bộ và thoả mãn ước nguyện của bà. Lòng tin của người đàn bà xứ Caanan là thứ chúng ta cần học hỏi. Đức Giêsu được sai phái đến để cứu chữa những con chiên lạc của nhà Israel, nhưng Ngài không cự tuyệt trước lòng tin của những kẻ ngoại tộc. Cửa trời rộng mở cho dân ngoại ngay từ khởi đầu Phúc âm khi thánh sử Mátthêu tường thuật về các nhà chiêm tinh không ngại đường xá xa xôi để tìm Đấng Cứu Thế. Ơn cứu độ của Ngài luôn rộng mở dành cho những ai đến với Ngài do lòng tin. Người đàn bà xứ Caanan và viên sĩ quan Rôma là những thí dụ điển hình. Con cái họ được ưu tiên chữa lành vì lòng tin của họ. Thánh nữ Monica, bổn mạng các bà mẹ, đã dùng nước mắt và lời cầu xin suốt 30 năm để cầu nguyện cho con mình là thánh Augustinô được ơn trở lại. Thái độ của các Tông đồ cũng là gương soi cho chúng ta. Không phải hễ là người công giáo gốc, là linh mục hay nữ tu, thì lòng tin sẽ mạnh mẽ và tốt lành hơn người khác. Lòng sùng đạo của các tân tòng hoặc của người ngoại nhiều khi còn sáng giá hơn nhiều. Cửa trời mở rộng và ước muốn cứu độ của Đức Giêsu vượt xa tầm suy nghĩ và hiểu biết của chúng ta.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức