Thêm

    NHẬT KÝ CỦA MỘT MỤC TỬ (2)

    Nhóm dịch thuật ĐCV Huế dịch từ bản tiếng Anh – Lm Lê Công Đức biên tập

    GIỚI THIỆU
    Sinh ra tại một ngôi làng miền núi hẻo lánh ở miền đông El Salvador năm 1917, Oscar Romero rời nhà năm 13 tuổi để theo đuổi ơn gọi linh mục. Năm 20 tuổi, Romero được gửi đến Roma học thần học, và được truyền chức linh mục ở đó vào năm 1942. Trở về El Salvador năm 1943, ngài làm việc hăng say trong cương vị cha xứ Nhà thờ Chính tòa giáo phận San Miguel cho đến năm 1967, được dân chúng biết đến như một nhà giảng thuyết nổi tiếng, một nhà báo và nhà tổ chức các hoạt động khác nhau trong giáo phận. Nhưng đồng thời ngài cũng gây bực bội cho một vài giáo sĩ và những người khác bởi tính cách nghiêm khắc của ngài.
    – Giáo hội và Công đồng
    Rất nhiệt thành với Giáo hội và với Đức thánh cha từ thời trai trẻ, Romero thích thú theo dõi Công đồng Vatican II, được Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập và diễn ra từ năm 1962 đến 1965, để canh tân Giáo hội Công giáo. Công đồng cung ứng một bộ văn kiện để áp dụng vào đời sống Giáo hội, và Công đồng đã tạo ra một bầu khí thay đổi và phát triển đầy phấn khích trong Giáo hội. Trở về với cội nguồn của Giáo hội, Công đồng nhắc rằng một cách căn bản Giáo hội là Dân Thiên Chúa, bất chấp những dạng cơ chế mà nó thủ đắc qua các thời đại. Công đồng nhắc nhở các giáo sĩ và giáo phẩm rằng họ phải là các tôi tớ phục vụ dân chúng, chứ không phải một tầng lớp được ưu đãi. Bản thân Giáo hội phải là người phục vụ thế giới, là công cụ ơn cứu độ của Thiên Chúa.
    Một trong những điều mới mẻ trực tiếp đến từ Công đồng Vatican II là việc hình thành các Hội đồng Giám mục tại mỗi quốc gia (mặc dù một vài nước vốn đã tổ chức các Hội đồng Giám mục ngay cả trước Công đồng). Các Hội đồng này giúp các giám mục đưa ra phương hướng hành động chung trong những vấn đề có tính liên giáo phận, và có tiếng nói thống nhất về những vấn đề của đất nước. Tuy nhiên, mỗi giám mục vẫn có thẩm quyền tối thượng trong giáo phận của mình. Năm 1967, ở tuổi 50, Romero được bổ nhiệm làm thư ký Hội đồng Giám mục El Salvador, và ngài đã chuyển đến San Salvador là thành phố thủ đô.
    Năm 1970, Romero được tấn phong giám mục, trở thành một giám mục phụ tá của Tổng giáo phận San Salvador. (Giám mục phụ tá là một phụ tá của giám mục chính tòa, người đứng đầu một giáo phận hoặc Tổng giáo phận). Là giám mục phụ tá, có lúc Romero phục vụ trong vai trò giám đốc chủng viện và là biên tập viên của tờ tuần báo Công giáo, bên cạnh việc giảng dạy, thuyết trình và cử hành các nghi thức phụng vụ.
    Sau khi Công đồng Vatican II bế mạc, các giám mục Mỹ La tinh đã qui tụ với nhau để thực hiện những cải tổ trong khu vực của mình. Các giám mục từ hàng giáo phẩm của tất cả các quốc gia Mỹ La tinh đã gặp nhau tại Medellín, Colombia, vào năm 1968. Áp dụng những ý tưởng căn bản của Vatican II theo đó Giáo hội phải là người phục vụ xã hội và Giáo hội phải cố gắng để hiểu thế giới nhằm phục vụ và loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu cho thế giới, hội nghị tại Medellín đã nhìn nhận rằng thực tế cơ bản của Mỹ La tinh là tình trạng nghèo khổ và sự áp bức tràn lan. Các giám mục kêu gọi Giáo hội nỗ lực để giải phóng người ta khỏi bất công, như là một phần trong việc cứu rỗi nhân loại. Chỉ trong một thời gian ngắn, các nhà thần học viết về cùng chủ đề ấy, và do đó đã ra đời cái sẽ được gọi là thần học giải phóng. Các nhà thần học giải phóng đã tiếp tục khai triển theo nhiều cách khác nhau chủ đề về sự cứu rỗi liên quan đến sự giải phóng khỏi những sự dữ trong hiện tại cũng như khỏi án xử chung cục.
    Tổng giáo phận San Salvador hăng hái đi theo sự hướng dẫn của Công đồng Vatican II và của Hội nghị Medellín, nhưng Romero trong tư cách giám mục phụ tá rõ ràng không đồng ý với nhiều điều được thực hiện trong Tổng giáo phận. Ngài tránh các cuộc họp của Hội đồng Linh mục và các cuộc gặp gỡ hằng tháng của các giáo sĩ để thảo luận và thực thi các chính sách mục vụ. Ngài chấp nhận những công bố của Công đồng Vatican II theo như mình nhận hiểu, nhưng không sẵn lòng chấp nhận nhiều điều mà người ta đang nói hay làm sau Công đồng và sau Hội nghị Medellín.
    Tháng 10 năm 1974, Đức cha Romero được bổ nhiệm làm giám mục chính tòa của giáo phận Santiago de Maria nhỏ bé. Đó là một giáo phận phần lớn là nông thôn ở vùng núi phía đông, bao gồm cả quê hương của ngài. Một lần nữa, ngài lao vào công việc mục vụ bận rộn, như những năm tháng ngài đã từng là một linh mục ở San Miguel, gồm cả những chuyến viếng thăm các vùng trong giáo phận vốn chỉ có thể tiếp cận bằng ngựa hoặc lừa. Những chuyến thăm ấy đã giúp ngài ý thức rõ hơn về tình trạng cơ cực và bất công trong đời sống của người nông dân Salvador. Năm 1975, cảnh sát địa phương đã tàn sát năm nông dân trong giáo phận của ngài, và Romero đã đến thăm các gia đình nạn nhân, cử hành Thánh lễ an táng và phản đối mạnh mẽ bằng một lá thư gửi Tổng thống của nước cộng hòa. Tuy nhiên, những ý kiến công khai của ngài vẫn còn khá dè dặt.
    Vào năm 1976, một sắc luật cải cách ruộng đất khá dè dặt đã cơ bản khởi xướng một sự thay đổi trong cách phân phối ruộng đất bất bình đẳng của quốc gia, tình trạng mà trong nhiều thế hệ đã ràng buộc nông dân lệ thuộc vào một ít chủ nhân giàu có với khối tài sản khổng lồ. Ngay lập tức các địa chủ áp lực quốc hội hủy bỏ luật này. Các nông dân bắt đầu tổ chức với nhau để bảo vệ quyền lợi của mình và đòi cải cách, mặc dù pháp luật Salvador không nhìn nhận tính hợp pháp của các tổ chức nông dân như thế. Giới địa chủ gia tăng cảnh giác.
    Một số mục tử vùng nông thôn bày tỏ sự ủng hộ đối với các tổ chức của nông dân và giảng thuyết về giáo huấn xã hội của Giáo hội. Đồng thời, Tổng giáo phận khuyến khích sự thành lập các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ giữa những người nông dân, như một phương thế thúc đẩy người ta trong đời sống Kitô hữu. Những cộng đoàn này giúp làm cho Giáo hội hiện diện trong những vùng mà các cha xứ khó có thể tiếp cận. (Đây là một nước nông nghiệp, đa số nông dân sống trong những làng nhỏ chỉ với một ít gia đình và canh tác đất đai ở xung quanh, nên các linh mục thường phải chăm sóc hàng ngàn giáo dân trong hàng chục hoặc hàng trăm ngôi làng nhỏ như thế). Nhưng giới địa chủ coi các cộng đoàn này như tổ chức ngầm đe dọa quyền lực của họ. Cuối năm 1976, căng thẳng đã lên cao, các phương tiện truyền thông tấn công Tổng giáo phận và các linh mục, nhất là một số linh mục đang phục vụ tại các giáo xứ nông thôn. Đầu năm 1977, một số linh mục ngoại quốc bị trục xuất khỏi đất nước.
    – Vị Tân Tổng Giám mục
    Vị Tổng giám mục cao niên là Luis Chávez sắp nghỉ hưu và một Tổng giám mục mới cần được bổ nhiệm. Bấy giờ ở El Salvador chỉ có năm giáo phận, bao gồm cả Tổng giáo phận, vì thế, vị Tổng giám mục hẳn nhiên là nhân vật nổi bật trong cả nước. Hầu hết giáo sĩ của Tổng giáo phận muốn Giám mục Arturo Rivera Damas, vị giám mục phụ tá của Tổng giáo phận từ năm 1960, trở thành tân Tổng giám mục. Trái lại, nhóm quyền lực gồm giới địa chủ và doanh nhân của El Salvador thì muốn một Tổng giám mục sẽ thay đổi những đường hướng của Tổng giám mục Chávez và cho ngừng việc giảng thuyết về công bằng xã hội và về quyền của người nghèo. Họ nghiêng về Giám mục Romero. Vì từ lý lịch và tính cách bảo thủ của ngài, họ suy đoán rằng ngài sẽ đáp ứng những gì họ mong muốn. Họ vui mừng khi Tòa thánh Vatican chọn Romero.
    Chưa đầy ba tuần sau khi Romero nhậm chức Tổng giám mục, những tay súng đã bắn chết một cha sở nông thôn, là Cha Rutilio Grande, cùng với một cậu bé và một cụ ông đang ngồi trên chiếc xe jeep của vị linh mục này. Cha Rutilio Grande đã làm việc trong chủng viện nhiều năm, được nhiều người biết đến và kính trọng. Romero coi cha như một người bạn; chính Grande là người đã lên chương trình và điều phối lễ nghi tấn phong giám mục của Romero hồi năm 1970.
    Vụ thảm sát gây chấn động cả nước. Đã nhiều thế hệ, chính quyền, quân đội và cảnh sát vốn phục vụ cho lợi ích của giới địa chủ giàu có ở El Salvador, giới địa chủ này hầu như có thể ra lệnh cho cảnh sát để loại trừ những kẻ gây rối cho họ. Cha Grande đã công khai tố cáo việc trục xuất một linh mục ra khỏi đất nước, và giáo xứ của ngài rất tích cực trong việc thúc đẩy những cộng đoàn Kitô hữu nhỏ. Kinh nghiệm lịch sử cho mọi người lý do chính đáng để nghĩ rằng giới địa chủ và chính quyền phải chịu trách nhiệm về vụ thảm sát ấy. Giờ đây, các giáo sĩ và dân chúng trong Tổng giáo phận muốn thấy một phản ứng mạnh mẽ từ phía Tổng giáo phận và từ vị tân Tổng giám mục.
    Sau khi suy xét cẩn thận, Romero đã áp dụng các biện pháp được đề ra trong cuộc họp kéo dài trọn một ngày với các linh mục. Ngài đã cho đóng cửa tất cả các trường học Công giáo trong ba ngày chịu tang, cũng là thời gian dành để suy ngẫm về hiện tình đất nước. Ngài quyết định chỉ có một Thánh lễ duy nhất cho dân chúng trong Tổng giáo phận vào ngày Chúa nhật sau lễ an táng cha Grande tại Quảng trường Trung tâm phía trước Nhà thờ Chính tòa. Sự kiện này được ghi nhận như là cuộc biểu tình lớn nhất của tôn giáo trong lịch sử đất nước, và đây là một kinh nghiệm tôn giáo sâu sắc đối với nhiều người. Nhưng nó cũng dẫn đến mâu thuẫn nghiêm trọng với vị đại sứ của Vatican, tức vị Khâm sứ của Giáo hoàng, người đã gây áp lực đòi Romero không được tổ chức một Thánh lễ duy nhất, vì sợ chính quyền coi đó là hành động khiêu khích. Đó là sự khởi đầu của tình trạng thiếu thấu hiểu và thiếu ủng hộ kéo dài từ phía vị Khâm sứ.
    Trong ba năm tiếp sau đó, Romero là một tâm điểm của xung đột. Thất vọng với việc làm của ngài, chính quyền và nhóm lợi ích đã quyết liệt chống lại ngài. Về phần mình, ngài kiên định với đường lối mà ngài đã bắt đầu, ý thức rằng luôn có dân chúng bên mình, và ngài xác tín rằng mình đang thực thi bổn phận của mình đúng theo Tin Mừng và giáo huấn của Giáo hội. Trong ba năm ấy, thêm năm linh mục nữa bị sát hại sau cái chết của cha Rutilio Grande; chính Tổng giám mục Romero sẽ là người thứ sáu. Vô số thành viên của các cộng đoàn Kitô hữu nhỏ bị tàn sát bởi quân đội hay các lực lượng an ninh.
    Các phương tiện truyền thông dồn dập tấn công Romero, gọi ngài là một tên cộng sản, một kẻ nổi loạn và một gã điên. Như ngài tâm sự, ngài từng rất đau buồn vì sự chống đối, sự “cứng lòng” ấy của nhiều người trong tầng lớp thượng lưu, một số trong họ vốn là bạn của ngài. Nhưng dân chúng đáp lại ngài bằng lòng yêu mến và sự ủng hộ, và ngài đã không nao núng.
    Thử thách lớn nhất mà Romero phải chịu là sự phản đối đến từ các anh em giám mục của mình. Ngoại trừ Đức cha Rivera, còn những giám mục khác luôn chất vấn những gì Romero đang làm. Trong một số cuộc họp của Hội đồng Giám mục Salvador, bốn giám mục khác, thậm chí cả giám mục phụ tá của ngài, đã chống đối ra mặt và cáo buộc ngài là người gây ra phần lớn các vấn đề của đất nước. Ít nhất một lần ngài đã xúc động không cầm được nước mắt khi nói về sự chống đối của những người anh em giám mục của mình.
    – Một Con Người Cầu Nguyện
    Trong một lá thư gửi cho Rôma, Romero đã viết rằng ngài luôn cố gắng làm bất cứ điều gì Chúa thúc đẩy mình, và vì thế ngài cảm thấy phải hành động như mình đã hành động trước những tình huống xảy ra trong Tổng giáo phận, nhất là vì sự bách hại nhắm vào các linh mục và các cộng đoàn nhỏ của Giáo hội. Một số ghi chú như vậy trong các lá thư của ngài, trong các bài giảng và trong chính quyển nhật ký này, cùng với những gì được ghi lại từ các cuộc tĩnh tâm của ngài và ký ức của những người từng biết ngài, trao cho chúng ta những chỉ dấu để hiểu đời sống nội tâm và nguồn sức mạnh của ngài. Đôi khi các cộng sự viên thấy ngài tạm rời khỏi các cuộc họp quan trọng – trong đó đang thảo luận về việc phải làm gì trước một cơn khủng hoảng – để ngài có thể đi đến nhà nguyện và cầu nguyện. Có khi đang thảo luận và gặp khó khăn trong việc đạt được sự đồng thuận, các cộng sự viên đề nghị ngài đi cầu nguyện, vì họ tin rằng bằng cách đó ngài sẽ đưa ra quyết định tốt nhất.
    Trong những tuần lễ cuối cùng, ngài linh cảm sự leo thang của bạo lực và phân hóa sẽ dẫn tới cái chết của chính mình. Kỳ tĩnh tâm sau cùng, ngài viết:
    … “Tôi dâng mình cho Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đấng luôn là nguồn cảm hứng và niềm vui của đời tôi… Tôi đặt tất cả sự sống mình dưới sự che chở yêu thương của Người, và trong lòng tin vào Người, tôi đón nhận cái chết của mình, cho dù cái chết ấy khốc liệt đến mấy đi nữa… Hạnh phúc và niềm tín thác của tôi, đó là chỉ cần biết chắc rằng sự sống và cái chết của mình ở trong tay Chúa, biết chắc rằng cho dù mình tội lỗi, tôi vẫn đặt niềm tin tưởng nơi Chúa và sẽ không thất vọng, rồi có những người khác sẽ đảm nhận các công cuộc của Giáo hội và của đất nước một cách khôn ngoan và thánh thiện hơn.”
    Ba tuần sau đó, một viên đạn của tên sát thủ đã bắn trúng ngài khi ngài đang giảng trong Thánh lễ. Dù Tổng giám mục Romero chỉ là một trong số hàng ngàn vị tuẫn đạo ở El Salvador trong những năm gần đây, cuộc đời của ngài vẫn thật độc đáo. Ngài thường được gọi cách đúng đắn là tiếng nói của những người không có tiếng nói, một tiếng nói giúp mọi người ý thức về những đau khổ và những hy vọng của đoàn chiên ngài. Suốt cuộc đời mình, ngài đã vun trồng niềm hy vọng ấy nơi dân chúng, và hiện nay ngài vẫn đang tiếp tục làm như vậy.
    James R. Brockman, S.J.
    Tác giả quyển “Romero: Một cuộc đời” (Orbis Books);
    Người dịch và biên tập quyển “Bạo lực của tình yêu” của Romero (Harper)
    —————————
    – Ghi Chú Của Người Dịch Bản Anh Ngữ
    Ba nguồn mà tôi đã sử dụng để thực hiện bản dịch này gồm có: những cuộn băng ghi chính tiếng nói của Tổng giám mục Romero, bản đánh máy chép lại các băng ghi âm do Tổng giáo phận thực hiện, và ấn bản tiếng Tây Ban Nha.
    Trước khi bắt đầu công việc, tôi đã đọc nhiều hết sức có thể về El Salvador và về bản thân Đức Tổng Romero, đặc biệt là quyển “Rômêrô: Một Cuộc Đời” của James R. Brockman, SJ. (Orbis, 1990). Tôi đã đến El Salvador vào tháng 8 năm 1990, đã viếng thăm căn nhà nhỏ của Romero ở Bệnh viện Ung thư, nhà nguyện nơi ngài bị bắn chết, cũng như các văn phòng của Tổng giáo phận.
    Phần lớn các khó khăn trong việc dịch thuật là do bản chất của ngôn ngữ nói. Đôi khi ngài nói những câu rất dài; khi khác ngài bỏ lửng những ý tưởng hay những mệnh đề và đổi hướng ở giữa câu. Đôi khi ngài ghi lại cùng một trật các tường thuật của hai hoặc ba ngày (có lẽ được hỗ trợ bởi một bảng liệt kê các cuộc hẹn của ngài) với cách dùng thì của động từ không nhất quán. Nói cho những thính giả vốn đã biết đề tài mình đang nói, ngài cũng đề cập đến nhiều chi tiết vốn thuộc các tài liệu khác trong ‘hồ sơ’ của Tổng giáo phận.
    Khi tôi gặp Cha Jon Sobrino, SJ., để đặt một số câu hỏi về một bài viết của ngài mà tôi đang dịch, tôi nói với ngài rằng tôi sắp dịch quyển nhật ký này. Cha Sobrino đáp lại rằng tôi có thể phạm mọi thứ lỗi khi dịch các bài viết của ngài, nhưng phải cố hết sức để “dịch chính xác về Romero”. Hy vọng tôi không làm phụ lòng cha Sobrino.
    Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn rất nhiều người đã giúp đỡ tôi trong công trình này:
    – Tổng biên tập Lisa Biedenbach và Biên tập viên Carol Luebering của Nhà xuất bản St. Anthony Messenger Press, vì đã kiên nhẫn hỗ trợ;
    – Susan Harper, Margaret Warminski và nhất là Carol, đã giúp sửa bản thảo;
    – Bruce Pulliam, bạn tôi, đã khích lệ và đã dành rất nhiều thời gian để giúp đánh máy bản dịch cũng như nhập những hiệu chỉnh vào máy tính;
    – Gail Nurre và Monica Rivera của Đại học Xavier, đã góp nhiều công sức đánh máy;
    – Thomas E. Quigly, cố vấn Vụ Châu Mỹ La tinh thuộc Văn phòng Công lý và Hòa bình Quốc tế của Hội Đồng Công Giáo Mỹ, đã đọc lại bản thảo;
    – Các Cha James R. Brockman và Jon Sobrino, dòng Tên, và các vị khác với sự am hiểu đặc biệt về Giáo hội, về lịch sử El Salvador và về tiếng Tây Ban Nha được sử dụng tại đó;
    – Đức Ông Ricardo Urioste và Maria Julia Hernández thuộc Văn phòng Nhân Quyền Tổng giáo phận, và Conny de Huezo, thư ký của Đức Ông Urioste, đã ân cần giúp đỡ trong những lần tôi ghé thăm Văn phòng Tổng giáo phận hồi tháng 8 năm 1990;
    – Gia đình, bạn hữu và các đồng nghiệp của tôi, đã ủng hộ tôi trong suốt những tháng ngày dài làm công việc này.
    Irene B. Hodgson

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com