Thêm

    CHÚA NHẬT 13 THƯỜNG NIÊN

    BÀI ĐỌC I: 2 V 4, 8-11. 14-16a

    Một ngày nọ, Êlisê đi ngang qua miền Sunam. Ở đó có một bà sang trọng mời ông ở lại dùng bữa. Và từ đấy, mỗi khi ông đi ngang qua đó, ông đều đến nhà bà dùng bữa. Bà nói với chồng bà rằng: “Tôi biết rằng người thường trọ nhà mình là một vị thánh của Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy làm cho ông một căn phòng trên lầu, và đặt trong căn phòng đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn, để mỗi khi đến, ông ở đó”. Một ngày nọ Êlisê đến, ông lên căn phòng trên lầu và nghỉ tại đó. Ông nói (với Giêzê, tiểu đồng của ông): “Bà muốn chúng ta làm gì cho bà?” Giêzê nói rằng: “Thầy khỏi hỏi, bà ấy không có con, và chồng bà đã già”. Êlisê bảo gọi bà ta. Nghe gọi, bà liền đến đứng trước cửa, ông nói với bà rằng: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng bế một bé trai”.

    BÀI ÐỌC II: Rm 6, 3-4. 8-11

    Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi vì được thanh tẩy trong sự chết của Người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế. Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng: chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

    PHÚC ÂM: Mt 10, 37-42

    Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các tông đồ rằng: “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó. “Kẻ nào đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy. Kẻ nào đón tiếp một tiên tri với danh nghĩa là tiên tri, thì sẽ lãnh phần thưởng của tiên tri; và kẻ nào đón tiếp người công chính với danh nghĩa người công chính, thì sẽ lãnh phần thưởng của người công chính. Kẻ nào cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một bát nước lã mà thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”.

    Suy Niệm 1:

    QUAN TÂM, HIẾU KHÁCH – MỘT TẤM LÒNG TRƯỚC HẾT VỚI CHÚA!
    Có thể nhận diện thông điệp lời Chúa hôm nay là về sự QUAN TÂM. Hay muốn nói cụ thể hơn nữa, thì đó là giáo huấn về lòng HIẾU KHÁCH.
    Trước hết là sự quan tâm và lòng hiếu khách của quí bà nọ đối với ngôn sứ Êlise. Bà khá giả, và biết dùng phương tiện, khả năng của mình để tiếp đón, phục vụ cho Êlise, người mà bà biết là “người của Thiên Chúa”. Bà không chỉ hành động một mình, mà còn lan tỏa lòng hiếu khách ấy cho chồng mình nữa. Tấm lòng của bà đã được đáp đền. Vị ngôn sứ chúc phúc cho bà được khỏi tình trạng hiếm muộn và sinh được con. (x. 2V 4,8-11.14-16a).
    Hóa ra, chính Thiên Chúa có lòng quan tâm đến con người, và Ngài không chịu thua bất cứ ai trong lòng quảng đại, trong sự tử tế. Vì thế, lời Thánh vịnh 88 (Đáp ca) vang lên: “Tình thương của Chúa muôn đời con ca ngợi”… Chúa dạy ta quan tâm, bởi vì chính Chúa là Đấng đầy quan tâm.
    Chúa Giêsu là chính sự quan tâm của Chúa Cha dành cho con người! Như chúng ta nghe trong Tin Mừng Gioan: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã trao ban Con một”… Hay cách diễn tả của thánh Phao lô: “Thiên Chúa đã không dùng tha, nhưng thí nộp con của Ngài vì tất cả chúng ta”… Đồng thời, Chúa Giêsu cũng là nơi để chúng ta đáp lại tấm lòng quan tâm của Thiên Chúa. Đây là ý nghĩa của những đòi hỏi triệt để trong bài Tin Mừng Máttheu hôm nay:
    “Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy, thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai, con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Kẻ nào cố tìm mạng sống
    mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm lại được nó.”…
    Hơn nữa, “Kẻ nào đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy; và kẻ nào đón tiếp Thầy, là đón tiếp Ðấng đã sai Thầy”. (x. Mt 10,37-42).
    Chúa Giêsu dùng hình ảnh “một bát nước lã” và Người lặp đi lặp lại từ “đón tiếp” – đây là những yếu tố rõ ràng muốn nói về sự quan tâm và lòng hiếu khách! Người nêu rất rõ rằng sự quan tâm và lòng hiếu khách của chúng ta phải dành ưu tiên trước hết cho chính Người. Bởi vì qua tấm lòng dành cho Chúa Giêsu, chúng ta đang quan tâm đến chính Thiên Chúa!
    Đó cũng là luận điểm của thánh Phao lô trong đoạn thư Roma hôm nay (Rm 6,3-4. 8-11). Vị thánh Tông đồ nhấn mạnh rằng chúng ta đã chết đi với Chúa Kitô và đã được sống lại trong Người, thì phải sống CHO THIÊN CHÚA. Sống cho Thiên Chúa, đó là sống giáo huấn về sự quan tâm, về lòng hiếu khách, với một thứ tự ưu tiên rõ ràng: trước hết là sống cho Thiên Chúa, cho Chúa Giêsu Kitô!
    Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
    …………………………….

    Suy Niệm 2: ĐÓN TIẾP CHÚA GIÊSU VỚI NIỀM VUI

    Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiện đi thăm một người thân hay bạn bè, hoặc đi tham dự buổi họp, hoặc đi dự tiệc. Trong những dịp này, việc “tiếp đón” luôn để lại ấn tượng trong chúng ta. Nếu sự tiếp đón nồng hậu, thân thiện, chúng ta có cảm giác hạnh phúc và muốn quay trở lại. Ngược lại, nếu sự đón tiếp lạnh nhạt thì chúng ta không bao giờ muốn quay trở lại đó lần thứ hai. Nhìn từ khía cạnh này, chúng ta thấy chính thái độ tiếp đón anh chị em sẽ mang lại cho chúng ta phần thưởng [lời khen, danh tiếng, v.v.] hoặc sự thiệt thòi. Lời Chúa trong các bài đọc hôm nay giúp chúng ta nhìn lại thái độ sống của mình trong việc tiếp đón anh chị em mình.

    Bài đọc 1 thuật lại cho chúng ta câu chuyện đầy cảm động về sự quảng đại của người phụ nữ giàu sang đón tiếp Êlisa. Điều “bất hạnh” duy nhất trong đời bà là “bà ấy không có con trai, mà chồng thì đã già” (2 V 4:14). Bà và chồng đón tiếp Êlisa với danh nghĩa là “người của Thiên Chúa, là một vị Thánh” (2 V 4:9). Vì biết Êlisa là người của Thiên Chúa, nên bà và chồng đã có thái độ đón tiếp cách tương xứng: “Mình phải làm cho ông một căn phòng nhỏ trên sân thượng, rồi kê ở đó một cái giường, đặt bàn ghế và để một cái đèn cho ông dùng. Như thế, khi nào đến nhà mình, ông sẽ lên ở đó” (2 V 4:10). Sự hiếu khách của bà và chồng đã nhận được phần thưởng từ người của Thiên Chúa: “Ông Êlisa nói: ‘Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng’” (2 V 4:16a). Chúng ta thấy, sự quảng đại của bà và chồng đã được đền đáp với một phần thưởng vượt quá những gì mà họ cho đi. Chi tiết này giúp chúng ta nhận ra rằng: Khi chúng ta quảng đại trao ban cho những người “thuộc về Thiên Chúa,” thì chúng ta sẽ nhận lại được nhiều hơn những gì chúng ta trao ban.

    Thánh Phaolô trong bài đọc 2 mời gọi các tín hữu Rôma nhớ lại rằng họ thuộc về Đức Giêsu Kitô: “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:4). Những lời này cho thấy chúng ta sẽ nhận được phần thưởng tương xứng khi chúng ta mai táng chính mình trong sự chết của Chúa Giêsu. Nói cách khác, để nhận được phần thưởng là sự sống [sống cho Thiên Chúa], chúng ta phải chết đi cho tội lỗi như Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta: “Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:9-11). Khi chúng ta được rửa tội, Chúng ta đã chết đối với tội lỗi và sống cho Chúa. Nhưng với bản tính con người mỏng dòn yếu đuối, chúng ta thường để cho tội lỗi thống trị và kiểm soát. Hệ quả là chúng ta không còn sống cho Thiên Chúa, nhưng sống cho xác thịt và những danh vọng ở đời. Chúng ta dần chạy theo tìm kiếm những phần thưởng chóng qua của thế gian và quên rằng mình phải đi tìm phần thưởng vĩnh cửu trên thiên đàng. Chúng ta cần phải nhớ rằng: Mọi phần thưởng mà thế gian mang lại sẽ kết thúc với cái chết, chỉ có phần thưởng đến từ Thiên Chúa mới đi cùng chúng ta vào cõi vĩnh hằng mà thôi.

    Tuần trước, chúng ta đã nghe Chúa Giêsu khuyến các các môn đệ về nỗi lo sợ của mình trong đời sống làm chứng cho Ngài. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Ngài nói cho các môn đệ cách cụ thể hơn những điều kiện và những phần thưởng dành cho những người đi theo Ngài. Những điều kiện để theo Chúa Giêsu là gì? Chúng ta tìm thấy trong trình thuật Tin Mừng hôm nay như sau: “Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: ‘Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng đáng với Thầy. Ai tìm giữ mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được’” (Mt 10:37-39). Trong những lời trên, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ sống triệt để ơn gọi làm môn đệ. Theo các học giả Kinh Thánh, những lời trên cũng ám chỉ đến sự thanh khiết vì Nước Trời, một đòi hỏi cho việc sống triệt để ơn gọi của người môn đệ Chúa Giêsu. Một cách cụ thể, Chúa Giêsu muốn người môn đệ đặt tương quan của mình với Ngài lên trên tương quan ruột thịt [với cha mẹ], lên trên tương quan vợ chồng [với con trai con gái], và lên trên tương quan với chính mình [thập giá và mạng sống]. Trong cuộc sống, nhiều lần chúng ta đặt tương quan với những người thân lên trên tương quan với Thiên Chúa. Chúng ta sợ làm mất lòng con người hơn là mất lòng Thiên Chúa. Chi tiết này mời gọi chúng ta sống triệt để với ơn gọi và mối tương quan của mình với Chúa. Chỉ những ai có mối tương quan thân thiện với Thiên Chúa, thì mới biết cách cư xử yêu thương với anh chị em mình.

    Chúa Giêsu bắt đầu nói về những phần thưởng của người môn đệ với câu khẳng định sau: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10:40). Chúng ta thấy một “tính bắc cầu” trong lời khẳng định của Chúa Giêsu. Câu này rất quan trọng bởi vì nó giải thích bản chất của ơn gọi tông đồ [tông truyền] dựa trên nguyên tắc quản trị mang tính pháp lý của người sứ giả trong tư tưởng của người Do Thái: “Sứ giả của một người chính là người đó.” Những lời này đào sâu nền tảng tôn giáo của việc tông đồ qua việc tìm thấy nguồn gốc của việc tông đồ tuyệt đối đến từ chính Thiên Chúa trong một tiến trình “truyền giao” được Chúa Giêsu, Đấng là tông đồ của Chúa Cha, làm trung gian. Phẩm giá của các thứa tác viên Kitô giáo thuộc vào việc truyền giao này. Nhưng họ phải ý thức rằng, phẩm giá này không phải là kết quả của chính họ, nhưng là một món quà nhưng không của Thiên Chúa. Nói cách cụ thể, sứ vụ chúng ta đang thực hành không phải là của riêng mình. Chúng ta chỉ là những người cộng tác trong sứ vụ mà Chúa Giêsu đã làm trung gian truyền giao cho chúng ta. Vì vậy, chúng ta phải sống khiêm nhường để chu toàn sứ vụ được giao qua đời sống chứng tá mỗi ngày của mình.

    Những người cộng tác trong sứ vụ của Chúa Giêsu sẽ nhận được phần thưởng tương xứng. Phần thưởng luôn tương xứng với đối tượng được tiếp đón và được trao ban. Có hai đối tượng được tiếp đón là ngôn sứ và người công chính: “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính” (Mt 10:41). Những lời này cho thấy cộng đoàn của Thánh Mátthêu hình như có các ngôn sứ (x. Mt 7:15-16; 23:34). Còn về người công chính, các học giả Kinh Thánh đã đưa ra những danh mục sau: những người công chính là những người Kitô hữu trung thành, là những thầy dạy, là những người đã chịu đau khổ bởi bách hại và vẫn ở lại trong cộng đoàn như là một chứng nhân đáng kính trọng. Mỗi hành động đón tiếp anh chị em mình nhân danh Chúa Giêsu, dù họ có như thế nào, sẽ được ân thưởng.

    Trình thuật Tin Mừng kết với khẳng định về phần thưởng dành cho nhữnng ai dù chỉ làm một cử chỉ bác ái nhỏ: “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10:42). Những kẻ bé mọn ám chỉ đến các tông đồ hoặc môn đệ, nhưng cũng có thể ám chỉ đến những người không có học thức trong cộng đoàn (x. Mt 18:6,10,14). Những lời trên của Chúa Giêsu mang tính hình tượng. Nó nói đến một việc làm nhỏ chúng ta làm cho anh chị em mình đã được phần phưởng, huống chi là những công việc lớn. Cụ thể là, nếu Thiên Chúa đã ban thưởng cho người cho anh em mình một ly nước lã, thì Thiên Chúa sẽ ban thưởng cho người bắt hệ thống nước cho toàn thành phố nhiều như thế nào? Mỗi ngày, hãy làm một việc bác ái nhỏ cho những người chúng ta gặp gỡ!

    Lm. Anthony, SDB.

    …………………………….

    Suy Niệm 3:  BIẾT ĐÓN NHẬN THA NHÂN

    A. DẪN NHẬP

    Các bài đọc Chúa nhật hôm nay nhắc ta hãy lưu tâm đến việc tiếp nhận tha nhân, nhất là đón nhận những người nghèo hèn, bé mọn, cô thế cô thân, bị bỏ rơi… Đón tiếp tha nhân chính là đón nhận Chúa Kitô. Muốn đón tiếp phải có lòng yêu thương, thành thật, hy sinh, từ bỏ, tế nhị, cởi mở. Biết đón tiếp là bước khởi đầu của tình yêu. Chúa Giêsu hứa sẽ ban thưởng bội hậu cho những ai có lòng quảng đại biết tiếp rước những người nghèo hèn, làm phúc bố thí cho họ dù chỉ một bát nước lã.

    Qua bài đọc sách Các Vua, một bà già son sẻ sang trọng miền Sunêm rất giầu lòng quảng đại đã mời tiên tri Elisê dùng bữa khi tiên tri đi ngang qua. Do lòng quảng đại bác ái đó, bà đã khám phá ra  đây là người của Thiên Chúa. Bà lại càng trân trọng tiếp đãi nồng hậu hơn : dọn phòng trên lầu, có giường, có ghế, có đèn…  Qua nghĩa cử “cho khách đỗ nhờ”, bà ta đã được đền đáp xứng đáng : sẽ có được con trai trong lúc hai ông bà đã cao niên.

    Sự đón tiếp cần phải với tấm lòng.  Đón tiếp vào nhà, với tinh thần chỉ có thể thực hiện  nếu có sự đón tiếp với tấm lòng chúng ta, vì nói cho cùng, đón tiếp là tự hiến dâng : đấy là biết từ bỏ sự thỏai mái riêng tư, sự yên tĩnh của mình để lo cho người khác.  Một sự hiến dâng như thế chỉ có thể thực hiện  theo lệnh của con tim chúng ta.  Sự hiến dâng này chỉ đầy đủ ý nghĩa nếu nó biểu hiện sự đón tiếp từ trong lòng, làm cho tình thương nên trong sáng và bất vụ lợi. Chúa Giêsu đã nói :”Kẻ nào đón tiếp các ngươi là đón tiếp chính Ta”.

    B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA 

    + Bài đọc 1 : 2V 4,8-11. 14-16

    Trên đường sứ mạng, ngày kia tiên tri Êlisê ghé thăm nhà một người đàn bà ở Sunêm. Bà này tỏ ra rất qúi trọng nhà tiên tri vì bà coi ông là vị thánh của Thiên Chúa. Được sự đồng ý của chồng, bà đã dọn cho tiên tri một phòng ở trên lầu với đầy đủ những thứ cần thiết, để bất cứ lúc nào tiên tri cũng có thể đến trú ngụ.

    Đáp lại tấm thịnh tình của bà, tiên tri đã cầu khẩn Thiên Chúa ban tặng cho bà một đứa con  vì bà hiếm muộn và chồng bà đã già. Lời cầu xin của ông đã được chấp nhận. Ông nói với bà :”Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng” (2V 4,16).

     

    + Bài đọc 2 : Rm 6,3-11.

    Bài đọc 2 chỉ là chủ đề phụ. Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô dạy cho các tín hữu biết rằng nhờ Phép Rửa chúng ta đã cùng được mai táng với Đức Kitô, và sẽ được cùng với Ngài sống lại hiển vinh để hiệp thông một cách nhiệm mầu vào chính sự sống của Thiên Chúa :”Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết  đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô” (Rm 6,11).

     

    + Bài Tin mừng : Mt 10,37-42.

    Đức Giêsu đưa ra một điều kiện rất khắt khe đối với những người muốn bước theo Ngài. Theo Chúa thì phải yêu mến Ngài trên hết, trên cả cha mẹ vợ con và trên cả thân mình. Như vậy Ngài có ý nói theo Ngài thì không được để bị ràng buộc bởi gia đình.

    Ngoài ra, Chúa đòi chúng ta yêu mến Ngài hơn tất cả trong việc vác thập giá theo Ngài và biết đón tiếp người khác nhất là những người bé mọn. Điều này đòi hỏi người theo Chúa phải quên mình. Quên mình là từ bỏ những gì liên quan đến con người và mọi liên hệ của bản thân từ sự sống cho đến tình cảm.


    C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
     

                                          Thương người có mười bốn mối

    Mỗi sáng Chúa nhật chúng ta đều đọc kinh “Thương người có mười bốn mối : 7 mối qui về thể xác và 7 mối qui về tinh thần , nghĩa là thương con người toàn diện.  Các bài đọc trong thánh lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta  phải lưu tâm tiếp đón mọi người, không những phải tiếp đón các sứ giả của Chúa một cách cẩn trọng mà còn đón tiếp tất cả những kẻ bé mọn vì tất cả đều là môn đệ của Chúa.


    I. BÀI HỌC CHÚA DẠY HÔM NAY
     

    Nhà triết học hiện sinh Pháp, ông Jean Paul Sartre, có nói một câu làm cho chúng ta ngạc nhiên :” L’enfer c’est les autres”: Tha nhân là hỏa ngục đối với ông. Thật là một câu nói quái gở vì nó đi ngược hoàn toàn với Tin mừng.

    Tha nhân là ai ? Họ ở đâu ? Làm thế nào tìm được họ ?  Thưa, họ là mọi người ở quanh chúng ta, chúng ta có thể tìm thấy dễ dàng, có thể động chạm đến họ.  Nếu chúng ta hỏi Chúa Giêsu : người khác hay tha nhân là ai ? Chúa Giêsu sẽ trả lời ngay :”Tha nhân chính là Ta” bởi vì Ngài đã khẳng định :”Sự gì ngươi làm cho một người bé mọn nhất vì danh Ta, là làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đòi buộc các môn đệ của Chúa phải yêu mến Chúa trên hết, hơn cả cha mẹ anh em, ngay cả mạng sống của mình. Đây là một đòi hỏi rất khắt khe và dứt khoát.  Sau đó, Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy tiếp đón các môn đệ của Chúa.

    Trước hết để xác định sự duy nhất giữa Đấng sai đi và người được sai đi :”Ai tiếp đón các con là tiếp đón Thầy, ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”. Sau đó, để phân biệt chi tiết sự đón nhận theo ba mức độ giảm dần một cách nghịch lý : các  “tiên tri”, những “người công chính”, những “kẻ bé mọn”, và long trọng xác nhận họ có tư cách xứng đáng là sứ giả của Phúc âm.

    Các “tiên tri” hiển nhiên là những Kitô hữu. Họ đã thi hành một tác vụ được chấp nhận trong Giáo hội sơ khai.

    Những “người công chính” có lẽ là những thành phần được kính trọng trong cộng đoàn Kitô hữu.

    Còn những “kẻ bé mọn” là các môn đệ, họ chẳng làm gì hơn là “tin” vào Đức Kitô. Họ cũng đáng được trân trọng và yêu mến đặc biệt (Fiches dominicales, năm A, tr 215).

    Tất cả những điều nói trên chung qui lại cũng chỉ nói về “môn đồ Chúa Giêsu”, nghĩa là Kitô hữu thông thường, kẻ được sai đi và liên kết với sứ mạng của Thầy mình. Ngay cả người Kitô hữu khiêm hạ nhất, tức là kẻ “bé mọn”, cũng có thể gán cho mình những điều đã nói trên.

    Ta phải lưu tâm đến hết mọi người và phục vụ họ  ngay cả trong những chuyện tầm thường nhất, như cho một ly nước lã. Vì bất cứ một sự lưu tâm nào đối với kẻ “bé mọn” nhất cũng là một sự lưu tâm đối với Chúa. Khi mở rộng lòng mình cho tha nhân như thế, ta sẽ “được sự sống” là điều duy nhất có thể làm cho ta thỏa mãn.


    II. GƯƠNG SÁNG VỀ SỰ ĐÓN TIẾP
     

    Trong Kinh thánh chúng ta thấy còn ghi lại một vài nét đẹp của sự tiếp đón đáng cho chúng ta bắt chước. Những gương sáng này vẫn luôn giữ được tính cách thời sự của nó.

    1. Ông Abraham (St 18) 

    Ông là một con người hiếu khách và quảng đại. Khi thấy ba khách lạ đang đi trong sa mạc nắng cháy, không những ông mời  mà còn năn nỉ họ vào nhà nghỉ và ân cần săn sóc họ một cách chu đáo.  Ba người khách lạ đó là ai ? Đó là ba sứ giả của Thiên Chúa.

    Đáp lại tấm thịnh tình và lòng quảng đại của ông, ba sứ giả ban cho vợ chồng hiếm muộn này một đứa con trai đầu lòng. Đó là cậu Isaác.

    1. Một gia đình ở Su-nêm

    Khi tiên tri Elia qua Su-nêm, một bà giầu có rất hiếu khách đã mời Elia vào nhà dùng bữa với sự săn sóc tỉ mỉ. Bà còn dọn cho tiên tri một phòng trên gác đầy tiện nghi để tiên tri có thể lui tới tự do.

    Đáp lại tấm lòng quảng đại của bà, Elia cũng hứa ban cho bà một đứa con vì bà son sẻ :”Vào thời kỳ này, vào độ này sang năm, bà sẽ có cháu trai bồng” (Bài đọc 1).

     

    1. Gia đình ba chị em ở Bêtania 

    Chúa Giêsu rất thương ba chị em này, mỗi khi đi qua Bêtania, Chúa và các môn đệ thuờng ghé thăm chị em và nghỉ ngơi. Chị cả Matta rất hiếu khách, dọn cho Chúa những bữa ăn ngon. Còn cô em Maria  đón tiếp Chúa bằng cách ngồi dưới chân Chúa mà nghe Ngài dạy dỗ, cách đón tiếp này cũng làm cho Chúa rất hài lòng. Còn Lagiarô là đàn ông thì tiếp theo kiểu đàn ông là nhậu và chuyện trò với Chúa.

    Đáp lại sự đón tiếp ân cần và thành thực của ba chị em, Chúa Giêsu đã làm cho Lagiarô sống lại sau khi chết bốn ngày.

                                 Truyện : Một nghĩa cử tuyệt đẹp.

    Một hôm, hòang đế Napoléon của Pháp vào một nhà hàng nọ. Đi theo hòang đế chỉ có một vị sĩ quan tùy viên. Vì không muốn cho ai nhận ra mình là hòang đế, nên Napoléon và viên sĩ quan cận vệ cải trang ăn mặc như thường dân.

    Sau khi đã ăn uống xong, bà chủ nhà hàng đến tính tiền. Tổng cộng số tiền phải trả là 14 quan. Viên sĩ quan cận vệ mở chiếc cặp xách tay để lấy tiền. Bỗng mặt ông tái mét đi vì trong cặp không có đồng tiền nào cả.

    Thấy thế, Napoléon hiểu ý nói nhỏ với viên sĩ quan :”Đừng lo, để tôi trả cho”. Nói rồi ông móc túi lấy tiền. Nhưng sờ túi trên, túi dưới, túi trước, túi sau, ông không thấy có đồng tiền nào cả. Napoléon nhìn viên sĩ quan nhướng mắt, nhún vai.

    Trước tình thế đó, viên sĩ quan nói với bà chủ :
    – Thật là rủi ro cho chúng tôi, chúng tôi quên không đem tiền theo. Xin bà vui lòng cho tôi thiếu một tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ trở lại thanh tóan với bà được không ?
    Bà chủ nhất định không chịu và dọa rằng nếu hai người không chịu trả tiền ngay, thì bà sẽ gọi cảnh sát.
    Một anh bồi bàn theo dõi công việc từ đầu cảm thông với hai người khách nên nói với bà chủ :
    – Quên đem tiền trong túi, đó là điều thường xẩy ra. Vì thế, xin bà đừng gọi cảnh sát làm gì ! Theo tôi thì hai ông đây là người rất thật thà, không có ý lường gạt đâu.
    Nghe anh bồi bàn nói, bà chủ vẫn không chịu và cứ nằng nặc đòi kêu cảnh sát.
    Thấy thế, anh bồi bàn móc túi lấy ra 14 quan trao cho hai người khách và nói :”Đây tôi cho hai ông mượn để thanh tóan với bà chủ”.
    Thế là nhờ anh bồi bàn  mà Napoléon và viên sĩ quan mới có thể rời khỏi nhà hàng.
    Một lát sau, viên sĩ quan tùy viên trở lại nhà hàng. Ông gặp lại bà chủ và nói
    – Bà đã tốn kém mất bao nhiêu để tạo lập nhà hàng này ?
    Bà chủ trả lời :
    – 30.000 quan..
    Viên sĩ quan mở chiếc cặp da xách tay lấy ra 30.000 đặt trên bàn và nói :
    – Vâng lệnh của chủ tôi là hòang đế Napoléon, tôi xin bà sang lại nhà hàng này cho anh bồi bàn, người đã giúp chúng tôi đang lúc chúng tôi kẹt không có tiền.

    III. CÁCH THỨC ĐÓN TIẾP

    Trong việc tiếp đón, người ta phải chú ý đến phương diện vật chất và tinh thần. Phương diện nào cũng quan trọng để làm cho khách được hài lòng, nhưng phương diện tinh thần thì quan trọng hơn.

    1. Phương diện vật chất

    Khi đón khách vào nhà, ai cũng muốn khách được hài lòng : dọn dẹp nhà cửa, trang bị đồ dùng cần thiết, cơm nước ngon lành…  Phần trang bị vật chất càng đầy đủ càng nói lên lòng hiếu khách, nếu không sợ khách phê bình “khẩu thiệt đãi chi”.  Gia đình ở Su-nêm chẳng những đón tiếp tiên tri Êlia mà còn dọn cho ông một căn phòng để những lần sau ông tới đã có chỗ trọ.  Dĩ nhiên, mến khách thì càng tốn kém, nhưng đó là điều kiện bắt buộc.

    1. Phương diện tinh thần

    Khía cạnh tinh thần trong việc đón tiếp khách mới là quan trọng.  Người đời thường nói :”Người ta thèm lòng chớ không thèm thịt” hoặc câu khác :”Cách cho thì qúi hơn của cho”.  Cách tiếp đón qúi ở chỗ thành thực, quảng đại và cởi mở, chú trọng đến con người hơn là của cải.  Tiếp đón không chỉ là đón người vào trọ trong nhà mình, cho họ ăn, cho họ nghỉ. mà còn là biết quan tâm tới nhu cầu của người khác và đáp ứng theo khả năng của mình.

    Đối với hai trường hợp đón tiếp khách ở trên, tại sao những chủ nhà ấy quảng đại đón tiếp khách ?  Thưa, vì họ không chỉ nghĩ đến mình mà còn quan tâm tới người khác.

     Abraham lo cho ba người khách kia đi trong sa mạc sẽ bị đói khát và không có chỗ nghỉ ngơi để lấy sức.

    Gia đình ở Su-nêm lo sợ tiên tri Êlia phải bơ vơ nơi miền đất lạ, không có chỗ nương nhờ trong hoàn cảnh khó khăn đó.

    Gia đình ở Bêtania thì muốn dành cho Chúa Giêsu và môn đệ có chỗ nghỉ ngơi sau những ngày giờ làm việc mệt nhọc. Gia đình kiếm cho Chúa có chỗ dừng chân mỗi khi đi qua Bêtania.

    IV.PHẦN THƯỞNG DÀNH CHO SỰ ĐÓN TIẾP

    Khi tiếp đón, dĩ nhiên chúng ta phải mất mát : mất thì giờ, mất tiền của, mất công… Nhưng tất cả sẽ được Chúa thưởng công cho ở đời này hay đời sau.

    Trở lại ba việc đón tiếp trên, phần thưởng của lòng quảng đại ấy là gì ? Là sự sống : hai đứa con đầu lòng cho hai vợ chồng son sẻ, và mạng sống được trả lại cho Lagiarô đã chết bốn ngày.  Xét cho cùng,  ơn ban sự sống ấy không phải do những người khách, mà chính Thiên Chúa, nguồn mạch sự sống, ban cho họ.

    Theo bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã khẳng định không có việc gì làm cho người khác mà bị bỏ quên, Chúa ghi nhớ tất cả và sẽ thưởng công cho, mặc dù việc ấy rất nhỏ nhặt :”Kẻ nào cho một trong những kẻ bé mọn này uống chỉ một bát nước lã thôi với danh nghĩa là môn đệ, thì quả thật, Thầy nói với các con, người ấy không mất phần thưởng đâu”.

    Đến ngày phán xét, ngày thưởng phạt đích đáng, Chúa Giêsu sẽ nói với mọi người chúng ta :”Mỗi lần các ngươi làm cho một người nhỏ bé nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).  Ngược lại là chúng ta đã không làm cho Chúa và sẽ phải lãnh hình phạt đời đời.

    Truyện : Một chén ân tình

    Willton Rix có kể một câu chuyện đầy kịch tính như sau :

    Vào sáng một mùa đông tuyết lạnh, Sadhu Sundar Singh và một người bạn  du lịch qua miền núi Bắc Ấn độ. Thình lình một cơn bão tuyết ào ào đổ tới, gió lạnh gào thét bên tai họ, khiến hai người phải chống trả hết sức khó khăn.

    Đang lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, họ lại thấy một người đàn ông nằm vất vưởng bên đường chờ chết. Sadhu muốn dừng lại để cứu giúp người bị nạn, nhưng bạn ông cho rằng, nỗ lực ấy chỉ hoài công thôi. Vì để cứu lấy chính mình trong lúc này cũng đã vất vả lắm rồi. Và ông bạn ấy đã bỏ đi.

    Chạnh lòng thương, Sadhu ở lại bên cạnh kẻ bất hạnh, xoa nóng tay chân con người dở sống dở chết ấy. Với sức lực còn lại, Sadhu cố gắng cõng anh ta trên lưng và khó nhọc đi qua vùng bão tuyết.  Hơi ấm của hai thân thể hoà quyện lấy nhau khiến người kia hồi sinh và cả hai cùng mạnh sức.

    Đi khoảng một dặm, họ kinh ngạc khi nhìn thấy một xác chết lạnh cóng bên vệ đường.  Họ càng sững sờ hơn nữa khi nhận ra đó chính là anh bạn cùng đi với Sadhu sáng nay (Thiên Phúc, Như Thầy đã yêu, tr 85).

    Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn đưa ra một điều kiện nghịch lý cho các môn đệ Người theo :”Ai giữ mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,39).  Cứ thực hành đi rồi sẽ thấy nó không nghịch lý nữa.

    Chúng ta thấy nghĩa cử yêu thương của Sadhu đã minh chứng hùng hồn cho lời nói của Chúa Giêsu ở trên. Bạn của Sadhu đã cố giữ lấy mạng sống mình nên đã mất mạng, còn Sadhu liều mạng “vì anh em” nên đã được sống.  Một người không có khả năng từ bỏ mình vì anh em thì họ cũng không có khả năng yêu thương. “Phải liều mất đi” để “tìm thấy lại”. Đó là nghịch lý mà Chúa Giêsu đã trải qua để nêu gương cho chúng ta. Người đã sẵn lòng chịu chết ô nhục để rồi sống lại vinh quang cũng để nói lên lời yêu thương con người.

    Mỗi ngày Chúa nhật đọc kinh “Thương người có 14 mối”, chúng ta hãy xem lại con người chúng ta còn thiếu sót những mối nào trong kinh ấy, hãy cố gắng thực hiện tất cả. Mỗi lần chúng ta làm cho tha nhân điều gì thì đó là chúng ta đang làm cho Chúa dù cho người bé mọn chỉ một chén nước lã thôi.

     “Một chén nước lã” đối với Chúa là  “một chén ân tình”. Điều đó cho thấy, Thiên Chúa không hề bỏ sót một nghĩa cử yêu thương nào, cho dù chỉ là nghĩa cử bé nhỏ âm thầm, một khi đã được khoác vào tấm áo tình yêu thì nó trở nên vô cùng cao cả. Tình yêu chính là trọng tâm của đời sống Kitô hữu.

      Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt

                                                                                 

    …………………………..

    Suy Niệm 4: Khởi nguyên và tận cùng

    “Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.” Lời của Đức Giêsu làm cho chúng ta cảm thấy sợ hãi, nóng lạnh, nổi da gà! Phải chăng chúng ta không nên nghĩ đến chuyện cải thiện, duy trì và bảo vệ cuộc sống của chúng ta? Đức Giêsu có dụng ý gì khi nói với chúng ta những lời lẽ như trên?

    Khi nói về cuộc sống, chúng ta liên tưởng đến một cuộc sống bình nhật, một cuộc sống an lành, hạnh phúc dài lâu bên cạnh những người chúng ta thương mến. Đối với nhiều người thì thời gian khó khăn đen tối sau chiến tranh, sau những cơn bão lụt, hạn hán, là một cuộc đấu tranh để sinh tồn. Điều đáng ngạc nhiên là: tiềm lực nào đã giúp con người trở nên tháo vát, có đủ khả năng để bảo vệ và duy trì mạng sống của mình cũng như thân nhân của mình? Phải chăng là“cái khó bó cái khôn”?

    Ở Tây Âu sau đệ nhị thế chiến con người đã ra công tái thiết, xây dựng. Chính trong thời gian khó khăn này cũng làm nẩy sinh không biết bao nhiêu những bậc tài ba lỗi lạc trong mọi lãnh vực. Con người đổ dồn tất cả vốn liếng để đầu tư, để phát triển cũng như bảo đảm cuộc sống. Ai cũng ham sống sợ chết. Bởi vậy càng văn minh tiến bộ thì càng nảy sinh nhiều loại bảo hiểm: bảo hiểm sức khoẻ, bảo hiểm nhân mạng, bảo hiểm tai nạn lưu thông, bảo hiểm hưu dưỡng, … Tất cả đã trở thành chuyện tất nhiên và đáng mừng. Nhưng chúng ta phải tiếp tục suy tư về hai chữ “bảo hiểm”. Phải chăng tất cả giúp con người bảo đảm cuộc sống? Dĩ nhiên là không rồi! Dù là bảo hiểm nào đi nữa cũng không giúp chúng ta trốn tránh cái chết. Tất cả đều biết: một ngày nào đó mình sẽ lìa đời. Nhưng hầu hết chẳng ai muốn nghĩ đến chuyện đó. Họ cho rằng tôi còn trẻ, còn nhiều thời gian. Nhưng thần chết đôi lúc đến bất chợt. Đùng một cái con người phải đối diện với đống gạch vụn của những chương trình, kế hoạch cho cuộc sống của mình. Con người tự cảm thấy mình bất lực, không tài nào dựa vào khả năng mình để cứu vãn tình thế. Có lẽ chính tại đây họ phải tự hỏi: Đức Giêsu hiểu thế nào về cuộc sống?

    Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, nhưng Người cũng là con người như chúng ta. Lẽ dĩ nhiên Người cũng tha thiết muốn sống. Thực là kinh hãi khi Người phải chết trong lúc tuổi đời bước vào giai đoạn chín chắn, đầy hứa hẹn. Lời cầu nguyện của Người với Chúa Cha trong Vườn Cây Dầu xin cho mình tránh khỏi đau khổ và sự chết là một lời cầu xin chân thật tận đáy lòng. Nhưng Người sẵn sàng vâng theo ý Chúa Cha. Người sẵn sàng tự hiến. Người sẵn sàng chết để đánh đổi cho chúng ta một cuộc sống vĩnh cửu. Người đành mất mạng sống để đạt được sự sống mới. Chính Người đã phục sinh, đã đi trước chúng ta tiến vào thiên đàng.

    Con đường của Đức Giêsu cũng là con đường dành cho mỗi người chúng ta. Chúng ta có thể hiểu được thế nào là mất hoặc tìm được sự sống khi chúng ta ngước mắt nhìn lên Đức Giêsu. Ai nghĩ rằng, chỉ có cuộc sống trần thế là quan trọng hơn cả, thì kẻ đó sẽ tìm đủ mọi phương tiện để chiếm hữu của cải và tìm cách hưởng thụ, nhưng kẻ đó sẽ phải đối diện với cái chết với hai bàn tay trắng. Tất cả đều phải để lại khi đã xuôi tay. Kẻ đó không hiểu đâu là ý nghĩa của cuộc sống con người. Ý nghĩa của cuộc sống con người chính là: Thiên Chúa là khởi nguyên, là trung điểm và tận cùng của cuộc sống con người. Do đó, ai đặt Thiên Chúa vào địa vị cao trọng nhất trong cuộc sống, kẻ đó hiểu giá trị đích thực của đời sống. Kẻ đó am hiểu những gì Thiên Chúa sẽ trọng đãi đối với kẻ mến yêu Ngài. Cho nên, dầu sống hay chết, dù sống an ninh hay trong nguy hiểm, tất cả đều nằm trong vòng tay đầy yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Ai sẵn sàng theo chân Đức Giêsu, kẻ đó có thể sống quên mình. Những người cùng chúng ta tạo dựng cuộc sống chung, chúng ta hầu như không có quyền chọn lựa.  Con số ít ỏi chúng ta có quyền chọn lựa chính là người bạn đường hay bạn bè. Phần còn lại thì không: Cha mẹ, anh chị em, con cái, họ hàng, thầy cô giáo, đồng nghiệp, … Nhưng dù được chọn lựa hay không, ai sống trong tình yêu, kẻ đó tìm được sự sống.

    Lm. Phêrô Trần Minh Đức

    BÀI CÙNG CHỦ ĐỀ

    VIDEO CLIPS

    THÔNG TIN ƠN GỌI

    Chúng tôi luôn hân hoan kính mời các bạn trẻ từ khắp nơi trên đất Việt đến chia sẻ đặc sủng của Hội Dòng chúng tôi. Tuy nhiên, vì đặc điểm của ơn gọi Dòng Mến Thánh Giá Đà Lạt, chúng tôi xin được đề ra một vài tiêu chuẩn để các bạn tiện tham khảo:

    • Các em có sức khỏe và tâm lý bình thường, thuộc gia đình đạo đức, được các Cha xứ giới thiệu hoặc công nhận.
    • Ứng Sinh phải qua buổi sơ tuyển về Giáo Lý và văn hoá.

    Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:

    • Nhà Mẹ: 115 Lê Lợi - Lộc Thanh - TP. Bào Lộc - Lâm Đồng.
    • ĐT: 0263 3864730
    • Email: menthanhgiadalatvn@gmail.com