BÀI ĐỌC I: Cv 8, 5-8. 14-17
Trong những ngày ấy, Philipphê đi xuống một thành thuộc sứ Samaria, rao giảng Đức Kitô cho họ. Dân chúng chú ý đến những lời Philipphê rao giảng, vì họ cũng nghe biết và xem thấy các phép lạ ngài làm. Quỷ ô uế đã ám nhiều người trong họ, lúc đó kêu lớn tiếng và xuất ra. Nhiều người bất toại và què quặt được chữa lành. Bởi đó cả thành được vui mừng khôn tả.
Khi các tông đồ ở Giêrusalem nghe tin Samaria đón nhận lời Thiên Chúa, liền gởi Phêrô và Gioan đến với họ. Khi đến nơi, hai ngài cầu nguyện cho họ được nhận lãnh Thánh Thần: vì chưa có ai trong họ được nhận lãnh Thánh Thần, họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu. Bấy giờ các ngài đặt tay trên họ, và họ nhận lãnh Thánh Thần.
BÀI ĐỌC II: 1 Pr 3, 15-18
Anh em thân mến, anh em hãy tôn thờ Chúa Kitô trong lòng anh em, hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời thoả mãn cho mọi kẻ hỏi lý do của niềm hy vọng nơi anh em, nhưng phải làm cách hiền từ, kính cẩn, hãy có lương tâm ngay chính, để những kẻ lăng mạ đời sống đạo đức của anh em trong Đức Kitô, phải hổ thẹn về điều họ gièm pha anh em. Vì nếu Thiên Chúa muốn, thì thà làm việc thiện mà đau khổ còn hơn là làm điều gian ác. Vì Đức Kitô đã chết một lần cho tội lỗi chúng ta, Người là Đấng công chính thay cho kẻ bất công, để hiến dâng chúng ta cho Thiên Chúa; thật ra Người đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thần Linh mà sống lại.
PHÚC ÂM: Ga 14, 15-21
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy. Và Thầy sẽ xin Cha, và Người sẽ ban cho các con một Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với các con luôn mãi. Ngài là Thần Chân Lý mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết được Ngài; còn các con, các con biết Ngài, vì Ngài sẽ ở nơi các con và ở trong các con. Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi: Thầy sẽ đến với các con. Một ít nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần các con, các con thấy Thầy vì Thầy sống và các con cũng sẽ sống. Trong ngày đó, các con sẽ hiểu biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, và các con ở trong Thầy, và Thầy ở trong các con. Ai nhận các luật Thầy truyền và giữ các luật đó, thì người ấy là kẻ mến Thầy. Và ai mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, và Thầy sẽ yêu nó, và sẽ tỏ mình ra cho nó”.
Suy Niệm 1: CHIẾN ĐẤU TRONG THÁNH THẦN CỦA CHÚA PHỤC SINH
Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS.
Trong bài đọc 2, Thánh Phêrô kêu gọi chúng ta đặt Chúa Giêsu làm trung tâm điểm của đời mình: “hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em” (1 Pr 3:15). Khi Chúa Giêsu chiếm lấy con tim và cuộc đời, chúng ta sẽ nhận ra Ngài chính là niềm hy vọng của mình. Niềm hy vọng của chúng ta không hệ tại việc có nhiều của cải vật chất, có được một cuộc sống sung túc ấm êm. Niềm hy vọng của người môn đệ Chúa Giêsu không phải là “một cái gì đó” nhưng là “một Ai Đó” – chính là Đức Kitô. Khi chúng ta để Ngài ngự trị trong lòng mình, chúng ta mới có thể trở nên những chứng nhân nhiệt tình của Ngài cho người khác, “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1 Pr 3:15). Thánh Phêrô còn đưa ra thái độ cần có của người môn đệ khi làm chứng cho Chúa Giêsu. Khi đối diện với những người chống đối hoặc chất vấn về niềm hy vọng của mình, người Kitô hữu “phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Kitô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống, bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác” (1 Pr 3:16-17). Những lời này làm chúng ta xét lại thái độ sống của mình. Nhiều lần chúng ta mất kiên nhẫn, thiếu kính trọng và trở nên giận dữ trước sự “làm phiền” của những người khác. Chúng ta không lấy sự hiền hoà, nhẫn nại, ôn hoà và kính trọng để đối xử với anh chị em mình và như thế chúng ta làm cho người khác mất đi sự cởi mở để đón nhận Tin Mừng. Thánh Phêrô khuyến khích chúng ta sống ngay thẳng dù có bị phỉ báng, chống đối hay loại trừ vì làm điều thiện, còn hơn làm điều ác. Điều quan trọng ở đây là làm điều thiện điều tốt dù không được người đời đón nhận thì có Chúa đón nhận chúng ta. Ngài chính là niềm hy vọng của chúng ta. Những lời khen, vinh dự ở đời là những niềm hy vọng, niềm vui chóng tàn. Chỉ trong Chúa chúng ta mới có được niềm vui không bao giờ mất.
Chúng ta đang tiến gần đến Lễ Thăng Thiên, lời Chúa trong Tin Mừng trình thuật cho chúng ta về việc Chúa Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ để họ có thể đối diện với sự kiện Ngài đi về cùng Chúa Cha. Tin Mừng hôm nay trình bày những lời hứa của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Ngài. Những lời hứa này phản chiếu cách rõ ràng cách thức đặc biệt mà qua đó Chúa Giêsu hiện diện với cộng đoàn những người tin. Khi đọc bản văn cách cẩn thận, chúng ta nhận ra bản văn chứa đựng ba phần mà qua đó chúng ta nghe về (1) tình yêu dành cho Chúa Giêsu (x. Ga 14:15,21a), (2) phần thưởng cho những ai yêu mến Chúa Giêsu (x. Ga 14:16-17a; 21b), và (3) sự đối kháng giữa các môn đệ và thế gian (x. Ga 14:17bc), 18-20). Việc thêm mệnh lệnh yêu thương trong chương 13:34-35 đưa đọc giả đến việc đồng hoá việc “giữ các giới răn” của Chúa Giêsu với mệnh lệnh yêu thương nhau. Tuy nhiên, lối diễn tả “giữ lời Thầy” của Chúa Giêsu xảy ra trong những cuộc tranh luận trước như một sự kết án của những người không tin (x. Ga 5:38; 8:51; 12:37). Theo nguyên thuỷ, loại ngôn ngữ nói đến việc “hiện diện bên trong” có thể gắn liền với vấn nạn về việc yêu hoặc ghét Chúa Giêsu trong thời gian bách hại bởi những người Do Thái.
Điều đáng để chúng ta lưu ý trong bài Tin Mừng hôm nay là cấu trúc “bánh mì kẹp” – mở đầu và kết thúc với lời mời gọi người môn đệ khẳng định tình yêu của mình dành cho Chúa Giêsu (x. Ga 14:15,21a). Còn phần ở giữa là ba lời hứa của Chúa Giêsu về việc Ngài sẽ trở lại và sự hiện diện của Chúa Thánh Thần. Nhìn từ cấu trúc này, chúng ta có thể thấy được điều Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ, đó là để trở nên những người thừa hưởng những lời hứa, các môn đệ phải khẳng định tình yêu của họ dành cho Chúa Giêsu được thể hiện qua việc tuân giữ các điều răn của Ngài: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:15) // “Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14:21). Trong những lời này, chúng ta lưu ý đến ba hoạt động: yêu mến, tuân giữ, tỏ mình ra. Trong hai “miếng bánh mì,” chúng ta thấy có điểm chung là hai hoạt động “yêu mến” và “tuân giữ.” Tuy nhiên, hành động “tuân giữ các điều răn của thầy” là không thay đổi trong cả hai. Còn hành động yêu mến được mở rộng hơn trong “miếng bánh mì thứ hai.” Cụ thể là, chỉ trong miếng bánh mì thứ hai chúng ta mới biết được “phần thưởng” dành cho người yêu mến Chúa Giêsu qua việc tuân giữ các điều răn của Ngài, đó là (1) được Chúa Giêsu và Chúa Cha yêu mến và (2) được Chúa Giêsu tỏ mình ra. Nói cách khác, phần thưởng cao quý nhất dành cho người môn đệ là được đưa vào trong tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con. Chính trong tình yêu đó người môn đệ sẽ được biết Chúa Giêsu là ai. Là những môn đệ của Chúa Giêsu, nhiều lần chúng ta chỉ yêu Chúa Giêsu với tình yêu nửa vời vì chúng ta chưa thật sự tuân giữ các điều răn của Ngài, nhất là điều răn về yêu mến anh chị em của mình. Chúng ta vẫn còn ghen ghét, đố kỵ, loại trừ những người chúng ta không thích ra khỏi con tim của mình. Chỉ khi tuân giữ lời của Chúa Giêsu, đó là lắng nghe và đem ra thực hành trong đời sống thường ngày, người môn đệ mới cảm nếm được tình yêu tuyệt diệu của Chúa Cha dành cho Chúa Con [và dành cho họ], đồng thời cũng được biết Chúa Giêsu là ai – Đấng không loại trừ ai ra khỏi tình yêu của mình.
Như chúng ta đã trình bày, phần giữa của trình thuật Tin Mừng hôm nay gồm ba lời hứa của Chúa Giêsu cho các môn đệ. Theo các học giả Kinh Thánh, ba lời hứa về việc “trở lại” và “ở lại” không giới hạn trong việc vinh thắng của các môn đệ dưới sự bách hại. Nhưng là sự hợp nhất của ba truyền thống mà cộng đoàn Thánh Gioan đã phát triển để nói về mối tương quan của mình với Thiên Chúa. Trong mỗi lời hứa, “sự hiện diện của Thiên Chúa” rất rõ ràng chỉ cho những người tin chứ không cho những người không tin (x. Ga 14:17,19). Lời hứa thứ nhất là lới hứa Đấng Bảo Trợ sẽ đến khi Chúa Giêsu ra đi: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14:16-17). Trong lời hứa này, Chúa Giêsu khẳng định rằng chỉ có những người tin mới có sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Đấng là Thần Khí sự thật, ở trong họ. Nói cách cụ thể, những người sống trong sự thật [sống trong Chúa Giêsu, Đấng là Sự Thật] mới cảm nếm được sự hiện diện của Đấng Bảo Trợ. Lời hứa thứ hai là lời hứa Chúa Giêsu sẽ trở lại với các môn: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi. Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống” (Ga 14:18-19). Ngoài việc xin Chúa Cha ban cho các môn đệ Đấng Bảo Trợ, Chúa Giêsu hứa sẽ trở lại với họ để chia sẻ với họ sự sống mà Ngài nhận được từ Chúa Cha. Lời hứa này an ủi chúng ta khi gặp cô đơn, thử thách: Chúa Giêsu không để chúng cô đơn một mình. Ngài luôn ở bên chúng ta, dù chúng ta không thấy Ngài, nhưng Ngài luôn “thấy” chúng ta vì ngài ở trong chúng ta. Đây chính là nội dung của lời hứa thứ ba, đó là Chúa Giêsu muốn đưa chúng ta vào trong mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa: “Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 14:20). Những lời này cho chúng ta thấy tính chất “bắc cầu” – chúng ta ở trong Chúa Giêsu và Chúa Giêsu ở trong Chúa Cha. Điều này đưa chúng ta về với khẳng định của Chúa Giêsu: “Không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy.” Mỗi người chúng ta được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu qua việc ở lại trong Ngài. Những người ở lại trong Chúa Giêsu sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Chúa Cha dành cho Ngài đồng thời cũng cảm nghiệm được tình yêu Chúa Giêsu dành cho họ, và như thế sẽ yêu anh chị em của mình với tình yêu tuyệt đẹp mà họ đã cảm nghiệm.
Lm. Anthony, SDB.
………………………..
Suy Niệm 3: YÊU MẾN VÀ GIỮ LỜI CHÚA
A. DẪN NHẬP
Thi sĩ Xuân Diệu nói :”Đố ai định nghĩa được tình yêu”. Đúng thế, cho đến nay chúng ta chưa có được một câu định nghĩa nào về tình yêu khả dĩ có thể bao hàm được mọi khía cạnh của tình yêu.
Thi sĩ Hồ Dzếnh cũng chỉ nói được như thế :
Yêu là khó nói cho xuôi,
Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh”.
Thánh Gioan cũng chỉ có thể nói :”Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì : đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta”(1Ga 13,7).
Đức Giêsu chỉ khuyên người ta yêu nhau mà không hề định nghĩa tình yêu là gì, vì Ngài không muốn dùng đến những từ ngữ hay những tư tưởng trừu tượng mà chỉ khuyên người ta thực hành tình yêu thôi.
Với những lời tạ từ trong bữa Tiệc ly, Đức Giêsu chỉ dùng những lời thân tình mà khuyên các môn đệ :”Nếu các con yêu mến Thầy, các con hãy giữ các điều răn của Thầy”(Ga 14,15). Nói như thế, Đức Giêsu không chấp nhận một thứ tình yêu trừu tượng, mông lung, hoa mỹ hoặc văn vẻ như trong tiểu thuyết, thi ca hay trong các nghệ thuật thứ bảy. Ngài muốn một tình yêu sinh động và cụ thể đối với Ngài và đối với nhau. Theo đó, tình yêu của chúng ta đối với Ngài là vâng phục theo đường lối của Chúa, tức là tuân giữ các điều răn Ngài truyền, vì chính Ngài đã yêu mến Chúa Cha bằng cách vâng phục và thi hành mệnh lệnh của Cha Ngài (Ga 15,10).
Kitô hữu đích thực là dồn tất cả tham vọng của mình vào việc mô phỏng theo Đức Kitô. Người ta thường nói :”Kitô hữu, đó là Đức Kitô khác : “Alter Christus”. Không có định nghĩa nào chính xác và hay đẹp hơn. Khi đã theo Đức Kitô thì phải đi theo con đường khổ giá mà Ngài đã đi. Tuân theo thánh ý Chúa và giữ các điều răn của Đức Kitô là đang đi trên con đường khổ giá và con đường này sẽ dẫn chúng ta đến vinh quang.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Cv 8,5-8.14-17.
Các tín hữu của cộng đoàn Giêrusalem bị các người Do thái bách hại đã lánh sang vùng Samaria của dân ngoại. Thầy phó tế Philipphê được sai đến rao giảng Tin Mừng. Dân chúng hoan hỉ đón nhận Tin Mừng này, và tiếng tăm đã đồn đến tai các Tông đồ. Các ngài liền cử ông Phêrô và Gioan đến đặt tay ban Thánh Thần cho họ vì họ mới chỉ được chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu.
+ Bài đọc 2 : 1Pr 3,15-18.
Thánh Phêrô gửi thư cho các tín hữu đang bị bách hại vì đạo Chúa để chỉ dạy cho họ cách thức thể hiện niềm tin và hy vọng của mình trước mặt lương dân. Người ta sẽ chất vấn về niềm tin của họ, thì phải trả lời cho họ bằng hai cách sau đây :
a) Hãy trả lời cho họ bằng những lời lẽ ôn hòa và trong sự kính trọng.
b) Hãy ăn ở công minh chính trực khiến cho những kẻ bách hại phải xấu hổ vì đã bách hại.
+ Bài Tin Mừng : Ga 14,15-21.
Đức Giêsu biết trước việc Ngài ra đi sẽ làm cho các môn đệ xao xuyến nên trước khi đi vào cuộc tử nạn, đã yên ủi các ông một cách chân tình. Ngài khuyên các ông hãy yên tâm vì Ngài không để các ông sống chơ vơ như những đứa con mồ côi đâu, Ngài sẽ sai Đấng Phù trợ khác đến ở với họ luôn mãi. Đấng Phù trợ khác mà Chúa Cha sẽ ban cho đây, chính là Chúa Thánh Thần mà các ông sẽ được lãnh nhận vào dịp lễ Ngũ tuần. Chúa Thánh Thần sẽ làm cho các Tông đồ yêu mến Chúa và thi hành lời Ngài dạy.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Yêu nhau trăm sự chẳng nề
I. NHỮNG LỜI NHẮN NHỦ THÂN TÌNH
Trong bữa Tiệc ly, sau khi truyền cho các môn đệ phải yêu mến nhau và đặt việc yêu mến nhau như là dấu chỉ để mọi người nhận ra họ là môn đệ đối với Ngài. Mở đầu đọan trích Tin mừng hôm nay theo thánh Gioan, Đức Giêsu nói :”Nếu các con yêu mến Thầy thì các con sẽ tuân giữ mệnh lệnh Thầy”(Ga 14,15).
Việc yêu mến đó được Đức Giêsu liên kết với việc tuân giữ và thực hành Lời Chúa. Những ai yêu mến Đức Giêsu và giữ Lời Ngài sẽ được ở trong cộng đồng tình yêu của Thiên Chúa :”Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ ra cho người ấy biết Thầy”(Ga 14,21).
Ở đây cho thấy Đức Giêsu không chấp nhận một thứ tình yêu trừu tượng, chỉ bằng tình cảm mông lung, Ngài chủ trương một thứ tình yêu sống động và được biểu lộ trong sự tuân phục theo đường lối của Chúa, tức là tuân giữ các giới răn Ngài truyền. Chính Đức Giêsu cũng đã yêu mến Chúa Cha bằng cách giữ các lệnh truyền của Chúa Cha (x. Ga 15,10).
Lúc này, chắc các môn đệ đã cảm nhận được những việc sắp xẩy ra. Họ hẳn đã cảm nhận được chuyện bi thảm đang tới gần. Nhưng Đức Giêsu đã yên ủi họ :”Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho các con một Đấng bầu chữa khác đến với các con luôn mãi… Thầy không để cho các con mồ côi đâu”(Ga 14, 16.18).
Từ ngữ “Mồ côi” dùng ở đây có nghĩa là không có cha, từ ngữ này cũng được dùng để chỉ đám môn sinh, đám học trò mất thầy, mất đi những lời dạy bảo của thầy thân yêu. Lúc Socrate chết, Platon nói về các môn sinh của Socrate rằng :” Họ nghĩ họ sẽ phải sống mồ côi suốt quãng đời còn lại như những đứa con mất cha, và họ sẽ chẳng biết phải làm gì”.
Nhưng Đức Giêsu bảo các môn đệ rằng, trường hợp của họ thì không như thế. Ngài phán : “Thầy sẽ trở lại”. Ngài có ý nói về sự phục sinh và việc Ngài luôn có mặt bên họ sau khi phục sinh. Nhưng sự hiện diện của Ngài không thể dùng giác quan mà thấy nhưng phải dùng con mắt đức tin bởi vì Ngài hiện diện một cách vô hình.
Sau cùng, Đức Giêsu kết luận :”Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới lả kẻ yêu mến Thầy… và sẽ được Cha Thầy yêu mến”(Ga 1421). Đây là một mạc khải của Đức Kitô về tình yêu của Chúa Cha. Mạc khải này cũng hé mở cho ta hiểu thêm về tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa thật thâm sâu, mật thiết trên mọi bình diện (x. Ga 4,34; 6,38).
II. YÊU NHAU SINH TỬ CŨNG LIỀU
- Yêu mến và hành động
Đức Giêsu luôn yêu thương các môn đệ của Ngài cả khi Ngài vắng mặt. Ngài hứa không để cho các ông sống vất vưởng như những đứa con mồ côi, nhưng sẽ sai Đấng Phù trợ đến ở với các ông để yên ủi, soi sáng, khích lệ và nâng đỡ các ông. Đáp lại, Đức Giêsu cũng đòi buộc các ông phải yêu Ngài. Tình yêu đối với Ngài không phải chỉ là những tình cảm hay một cảm xúc bồng bột nhất thời, nhưng tình yêu này phải được xây dựng trên ý chí, nghĩa là phải vâng theo lời Ngài, phải thực hiện lời Ngài trong cuộc sống vì ngài đã nói rõ :”Nếu ai yêu mến Thầy thì sẽ vâng giữ lời Thầy” (Ga 14,23).
Chữ “nếu” đây không phải là một việc làm tùy nghi nhưng là một điều kiện thiết yếu, một điều kiện mà tiếng La tinh gọi là “conditio sine qua non”, không có không được. Từ ngữ “nếu” đây liên kết hai vế của “yêu Chúa” và “giữ lời Ngài”, hễ không có vế này thì không có vế kia. Giữ lời hay giữ giới răn không phải là một loạt những điều tùy nghi trong nhiệt tình tình yêu của chúng ta hướng về Chúa Kitô. Đây thậm chí không phải là một điều logic : nếu tôi yêu mến Chúa Kitô, tôi phải giữ các giới răn của Ngài. Tiếng “nếu” liên kết chặt chẽ hơn lòng chúng ta yêu mến Chúa Giêsu với cách ăn ở của chúng ta trong cuộc sống : tôi chỉ yêu thương khi tôi vâng lời Ngài bởi vì tình yêu thực sự, cụ thể của tôi chính là đều mà tôi làm. Nhưng thất bại của chúng ta có nguồn gốc tại đây : từ chối hiểu rằng tình yêu không phải là một từ, một giấc mơ, cũng như một nhịp đập của tim, mà là một cách cư xử (André Sève, Tin Mừng Chúa nhật, năm A, tr 164).
Tình yêu phải thể hiện ra bằng việc làm cụ thể, chính việc làm ấy mới bảo đảm cho tình yêu thật. Nếu yêu mà không thể hiện bằng hành động thì tình yêu chỉ ở trên đầu môi chóp lưỡi, hay chỉ là một cảm xúc nhất thời. Hành động đó phải được thể hiện ra trước mặt người yêu để người ấy vui lòng, và hành động theo ý người mình yêu ngay cả khi người ấy không có mặt. Nếu không người ta sẽ nói :
Thương thương nhớ nhớ thương thương,
Nước kia muốn chảy mà mương chẳng đào.
(Ca dao)
Trong cuốn sách The Living Stone có một câu truyện như sau : Jonathan làm được những việc phi thường, phần lớn vì hấp thụ được từ vị thầy khả kính. Ngày vị thầy này sắp lìa trần, ông cho gọi Jonathan trở về để gặp thầy lần cuối. Jonathan hy vọng thầy sẽ truyền cho bí quyết đặc biệt mà suốt đời thầy còn cất giữ. Nhưng lời trăn trối cuối cùng của ông chỉ vỏn vẹn mấy chữ :”Hãy hành động vì lòng mến”.
Trong Tin Mừng mà Giáo hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, Đức Giêsu trước khi giã biệt các môn đệ, Ngài cũng nhắn nhủ các ông về điều căn bản của lòng mến :”Ai nghe và vâng giữ giới răn của Thầy, người ấy là kẻ yêu mến Thầy”. Đức Giêsu không đòi những kẻ yêu mến Ngài phải có những rung động thuộc cảm tính, dù rằng đó cũng là điều qúi giá cho phép chúng ta tin tưởng rằng chúng ta đang yêu mến Chúa. Tuy nhiên một tình yêu đúng nghĩa là luôn tìm cách làm đẹp lòng người yêu, sẵn sàng cho đi tất cả, chứ không dừng lại ở những rung cảm của thân xác phần nào nói lên tính vị kỷ của mình (Mỗi ngày một tin vui, Phục sinh, tr 253).
Với thánh Gioan, chỉ có một cách để trắc nghiệm tình yêu thương là sự vâng lời. Đức Giêsu đã chứng minh Ngài yêu Chúa Cha bằng sự vâng lời. Ông Barett nói :”Thánh Gioan chẳng bao giờ cho phép biến tình yêu thành một thứ cảm xúc. Tình yêu được bộc lộ dưới tính cách đạo đức, bầy tỏ ra bằng sự vâng lời”.
Chúng ta biết nhiều người chỉ yêu thương qua đầu môi chót lưỡi, đồng thời lại làm cho những người họ yêu phải đau đớn, khổ tâm. Có những thanh thiếu niên bảo chúng yêu thương cha mẹ, nhưng lại gây buồn khổ, lo âu cho cha mẹ. Có những ông chồng bảo yêu vợ, có những bà vợ bảo yêu chồng, nhưng lại hay cộc cằn, gắt gỏng, thô lỗ, nhỏ nhen, vô tâm vô tính, làm cho chồng hay vợ mình phải đau khổ. Với Đức Giêsu, tình yêu thương chân thật không phải là điều dễ dàng, tình yêu chân thật chỉ có thể chứng minh bằng “sự vâng lời chân thật”.
- Hành động như thế nào ?
Một người nọ đã từng trông thấy một thiên thần đi bộ xuống phố, tay cầm bó đuốc, tay kia cầm xô nước. Người ấy liền hỏi :”Ngài làm gì với bó đuốc và xô nước vậy” ? Vị thiên thần đột ngột đứng lại nhìn vào người ấy nói :”Ta sẽ thiêu rụi các tòa nhà trên trời bằng bó đuốc và sẽ dập tắt lửa hoả ngục bằng xô nước. Lúc đó chúng ta sẽ thấy được ai là kẻ thực sự yêu mến Thiên Chúa”.
Chủ ý của vị thiên thần muốn nói là nhiều người vâng theo lệnh Chúa là vì sợ hỏa ngục hoặc vì hy vọng phần thưởng Nước Trời. Họ không giữ huấn lệnh ấy vì yêu thương như Đức Giêsu đã nêu ra trong Tin Nừng hôm nay :”Nếu các con yêu mến Thầy, các con sẽ vâng giữ lời Thầy”.
Có hai loại tình yêu : tình yêu vô vị lợi hay vị tha và tình yêu vị lợi hay vị kỷ.
a) Tình yêu vô vị lợi.
Đây là thứ tình yêu vị tha, một thứ tình yêu chỉ biết cho đi, chỉ lo tìm hạnh phúc cho người yêu, tình yêu không so đo tính toán, tình yêu quảng đại; và tình yêu vị tha lên đến chóp đỉnh là sẵn sàng chết cho người mình yêu như Chúa Giêsu đã nói :”Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của người chết cho người yêu” (Ga 15,13). Tình yêu này là tình yêu của Thiên Chúa dành cho loài người và đã được thực hiện nơi Đức Giêsu chịu treo trên thập giá.
Người đời cũng nói lên được một phần nào thứ tình yêu vô vị lợi ấy :
Yêu anh cốt rũ xương tàn,
Yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh.
hoặc :
Yêu nhau mỗi thứ mỗi cho,
Ghét nhau thì mảnh quạt mo cũng đòi.
(Ca dao)
Truyện : Cha Maximilien Kolbe
Cha Maximilien Kolbe làm gương cho chúng ta về cung cách sống của người môn đệ Chúa: Một buổi sáng cuối tháng 7 năm 1941 tại trại tập trung Oswiccim của Đức quốc xã, có một người vượt ngục, 10 người khác bị xử thay vào. Các nạn nhân run rẩy bước ra, đứng không vững, khiếp đảm, không dám kêu la, trừ một người kêu ré lên “Ôi vợ và các con tôi”.
Hàng trăm dẫy tù nhân xếp hàng dài im thin thít, hú hồn vì chưa phải tên mình, không một ai dám cựa quậy. Bỗng từ dãy tù nhân bên trái, một người gầy guộc rời hàng bước về phía viên trưởng trại. Mọi người nín thở : chuyện chưa từng có ! Viên trưởng trại đặt tay lên súng :
– Anh muốn gì ?
– Tôi muốn chết thay một người trong bọn họ.
Viên trưởng trại sửng sốt. Y tưởng mình nghe lầm. Nhưng không, người kia thực sự xin được chết thay cho người có vợ và các con đang đợi ở nhà. Sau mấy câu gượng gạo, viên trưởng trại nhượng bộ, chấp nhận lời yêu cầu. Kẻ tình nguyện đó chính là Maximilien Kolbe, một Linh mục công giáo. Cha đã được Đức thánh Cha Gioan-Phaolô II phong thánh ngày 10.10.1982 tại Rôma.
b) Tình yêu vị lợi (vị kỷ)
Đây là thứ tình yêu trá hình. Đối tượng của tình yêu không phải là người được yêu mà là chính mình. Người yêu chỉ lợi dụng người được yêu để tìm lợi ích cho mình, cho hạnh phúc của riêng mình ; còn người được yêu chỉ là phương tiện được dùng để người yêu khai thác. Tình yêu trá hình này đã được nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine diễn tả trong câu truyện con cáo và con cọp.
Câu truyện đó là con cáo không may bị rơi xuống hố sâu, không cách nào lên được. May thay, một con cọp đi qua, con cáo xin cứu đưa lên. Con cọp tỏ ra thương hại muốn cứu vớt nhưng với điều kiện : khi lên bờ cáo phải chịu cho cọp ăn thịt. Cáo đồng ý. Cọp nhảy xuống hố. Cáo nhảy lên lưng cọp và nhảy ngay lên bờ, biến mất. Cọp lên bờ buồn rầu than :”Chị đã thương em đến thế mà em không biết ơn”.
Như vậy, cọp đâu có thương con cáo, chỉ biết thương mình thôi, đã thương sao lại còn đòi ăn thịt cáo ? Con người chúng ta đôi lúc cũng vậy. Nhiều khi việc làm của chúng ta có vẻ lo cho người khác, nhằm ích lợi cho người khác, tạo hạnh phúc cho họ, nhưng trong thực tế, họ chỉ có một tình yêu giả tạo. Tình yêu đó được người ta gói ghém trong câu ca dao :
Thương thay những kẻ quạt mồ,
Hại thay những kẻ lấy vồ đập săng.
(Ca dao)
- Thái độ của ta đối với Chúa
Nếu thánh Giacôbê nói :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết” thì chúng ta cũng có thể nói được : tình yêu mà không được thể hiện ra bằng hành động cụ thể thì chỉ là thứ tình yêu trên mây gió, một tình yêu èo uột, một tình cảm phớt qua, có khi là một tình yêu trá hình, giả tạo. Tình yêu chân thật đòi hỏi hy sinh như Pierre l’Ermite nói :”Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”.
Thánh Gioan tông đồ nói :”Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì : đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta”(1Ga 3,16). Nếu yêu là hy sinh, mà giữ luật Chúa là hy sinh, thì yêu là giữ luật Chúa. Tam đoạn luận này rất chặt chẽ, nó nối kết giữa việc yêu Chúa và giữ luật Chúa lại với nhau.
Vậy giữ giới răn Chúa là gì ? Giữ giới răn Chúa, nói nôm na ra là giữ đạo, là sống đạo, sống nhân đức tin mà Chúa ban cho chúng ta ngày chịu phép Rửa tội. Chúa nhắc lại đến hai lần :”Nếu các con yêu mến Thầy, các con hãy giữ giới răn của Thầy”, và sau đó Ngài thêm :”Các con là bạn hữu của Thầy nếu các con thực hành điều Thầy truyền dạy”.
Qua lời mời của Chúa, chúng ta thấy rằng giữ giới răn, sống đạo, có thể có hai tâm trạng và hai thái độ : một là giữ đạo vì vụ lợi, giữ đạo cho có lệ gọi là có ; hai là giữ đạo vì yêu mến Chúa… Chắc chắn ai cũng giữ đạo vì yêu Chúa, yêu Chúa là chính, còn các mục tiêu khác chỉ là phụ tùy. Đối với từng người, tình yêu đối với Chúa cũng có cấp độ nên việc giữ giới răn cũng có cấp độ. Ta tạm chia thành ba cấp :
* Một là có đạo : Những người đã được chịu phép rửa tội đều được gọi là có đạo vì họ đã được thanh tẩy, đã được gia nhập Hội thánh Chúa. Nhưng họ sống hời hợt , chỉ có danh nghĩa là Kitô hữu, còn cuộc sống của họ nhiều khi như người ngoại đạo, thậm chí tệ hơn nữa, họ sống như người vô thần. Có những người chỉ đến nhà thờ 3 lần trong đời họ : ngày chịu phép rửa tội, ngày lễ hôn phối và ngày lễ an táng.
* Hai là giữ đạo : Những người này là những Kitô hữu bình thường, giữ luật Chúa, thi hành các bổn phận của một người Kitô hữu như đọc kinh, xem lề, xưng tội rước lễ, ăn chay kiêng thịt …không có gì đáng trách trong việc giữ đạo… Nhưng họ chỉ sống theo mức bình thường, mức tối thiểu, chưa vươn lên cao hơn.
* Ba là sống đạo : Những người này là những người sống trọn nhiệm vụ của những người Kitô hữu bình thường, nhưng họ còn vươn lên cao hơn, cuộc sống của họ là chứng nhân, những hiện thân của Chúa Kitô. Họ xứng đáng được gọi là Alter Christus. Cuộc sống của họ đã trở nên muối và ánh sáng cho đời. Họ thực hiện lời Chúa Giêsu đã phán :”Sự sáng của các con phải chiếu tỏa ra chung quanh để người ta trông thấy việc lành các con làm mà phải ngượi khen Cha các con ở trên trời”.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, GP. Đà Lạt
…………………………….
Suy Niệm 4: Đức tin và tình yêu
Một nhà hiền triết lỗi lạc biết mình như chiếc đèn cạn dầu, giờ viên tịch của mình sắp đến. Các học trò năn nỉ ông đừng rời bỏ họ, nhưng ông nói: “Nếu ta không ra đi thì làm sao các con có thể học được cách nhìn?” Họ mới hỏi lại ông: “Cái gì chúng con không nhìn thấy khi có thầy ở cùng?” Ông lặng thinh không muốn trả lời. Khi phút lâm chung tới gần họ lại hỏi ông một lần nữa: “Sư phụ, cái gì chúng con sẽ thấy khi thầy ra đi?” Ông mỉm cười và trả lời: “Ta hoàn toàn không làm gì khác ngoài việc ngồi tại bờ sông và phân phát nước cho mọi người. Nhưng khi ta ra đi, hy vọng các con sẽ nhìn thấy dòng sông.” Ông già này quả là một bậc tiền bối khôn ngoan. Ông hoàn toàn ẩn thân sau học thuyết của mình. Ông muốn thử thách đám đồ đệ, hy vọng họ được cảm nếm hương vị ngọt ngào của cái chính yếu trong cuộc sống. Đó là điều mà các học trò của ông nên theo đuổi sau khi ông viên tịch: Họ cách quan sát và khám phá ra bởi đâu họ sống và sống để làm gì?
Phải chăng điều này trong Kitô giáo cũng có nét tương tự? Nhiều người tự nhận mình là Kitô hữu và nói rằng: Đức Giêsu đã rao giảng về một cuộc sống đích thực, nhưng phải chăng Ngài lại biệt tăm sau khi để lại học thuyết này? Tên của Ngài vẫn còn được nhiều người nhắc đến, nhưng Ngài là kẻ đã vượt thời gian và hôm nay, không ai biết Ngài là ai! Có lẽ chỉ cần có học thuyết của Ngài là đủ rồi! Lối suy nghĩ này cũng không có gì mới mẻ vì ngay thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo khi Phúc âm được thánh sử Gioan biên soạn, những câu hỏi và phản ứng như thế này đã được đặt ra. Cái gì là điểm đặc trưng của đời sống Kitô hữu? Sau gần 1 thế kỷ thì những nhân chứng thời Đức Giêsu không còn ai! Đời sống Kitô giáo hoàn toàn dựa trên cơ sở là Tin mừng của Ngài.
Thánh sử Gioan đã tìm kiếm câu trả lời cho những vấn nạn này. Ngài đã tóm gọn di chúc và những lời trăn trối của một người tên tuổi trong phần tường thuật những lời tạm biệt của Đức Giêsu. Ngài đã để chúng ta nghe lời phát xuất từ chính môi miệng của Đức Giêsu khi nói về điểm đặc trưng của đời sống Kitô hữu: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.“ Giống như nhà hiền triết nọ: Nếu nói về trọng điểm của đời sống Kitô hữu thì không có gì khác ngoài Tin mừng của Đức Giêsu. Điểm đặc biệt là ai cẩn thận đọc bốn chương nói vể những lời từ biệt sẽ phát hiện: Đức Giêsu sử dụng từ “yêu” 20 lần, đang khi những chương trước đó chỉ có 7 lần. Từ “tin”
hay “tin vào Thầy và lời Thầy” nắm vị trí độc tôn và then chốt: 67 lần. Khám phá này khiến mọi người ngỡ ngàng! Cũng giống như khi Ngài đang nói “tin vào Thầy” bỗng chốc biến thành “yêu mến Thầy”, cuối cùng lại thành tuân giữ các điều răn của Thầy! Biến cố Phục sinh làm sáng tỏ một điều: Lịch sử của cuộc đời của Đức Giêsu là lịch sử của một người đang sống.
Ai tin vào Đức Giêsu kẻ ấy phải sống đức tin của mình. Sống niềm tin Kitô giáo có nghĩa là việc trước tiên và cũng là sau cùng sẵn sàng tạo mối quan hệ với Đức Giêsu. Giống như thánh Phaolô nói: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Giêsu sống trong tôi.” Chúa Thánh Thần theo từ ngữ của Kinh thánh không phải là Đấng cứu thế thứ hai xuất hiện. Ngài là Đấng bảo trợ mà Đức Giêsu đã hứa xin cùng Chúa Cha cho chúng ta. Thần Khí của Đức Kitô chính là cách thế mà trong đó con người có thể nhận biết Thiên Chúa qua Thần Khí. Đức Giêsu đã hứa ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế nhưng Ngài hiện diện giữa chúng ta theo một hình thức khác tức là trong Thần Khí. Trong Thiên Chúa Ba Ngôi Cha, Con và Thánh Thần sẽ ban tặng nhau khoảng không gian của tình yêu. Ai đã được đón nhận vào khoảng không gian này sẽ có thể tự mình trở thành khoảng không gian cho kẻ khác. Và cứ như thế lòng yêu mến Đức Giêsu sẽ sinh sôi nảy nở và lan rộng. Ai hoàn thành sứ mệnh Đức Giêsu trao phó, kẻ đó dần dần lắng chìm vào mối quan hệ mật thiết với Thiên Chúa. Đó cũng chính là điều Đức Giêsu đã hứa: “Ai yêu mến thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho kẻ ấy.” Tình yêu không phải là một ảo tưởng hay cảm xúc. Đức tin và tình yêu luôn mang hình hài, có tay có chân. Chẳng lạ gì khi thánh Giacôbê xác định: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết.”
Lm. Phêrô Trần Minh Đức

