Trước sức mạnh hủy diệt của vũ khí hiện đại, rất khó để nói về khả năng của một “cuộc chiến tranh chính đáng”, như đã từng xảy ra trong các thế kỷ trước. Ngay từ năm 1963, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã viết trong thông điệp Pacem in terris rằng trong thời đại nguyên tử, hầu như không thể nghĩ rằng chiến tranh được coi là một công cụ của công lý. Chính theo tinh thần này mà Đức Giáo hoàng Lêô XIV, người đã lấy hòa bình làm một trong những chủ đề trọng tâm trong triều đại giáo hoàng của mình, đã theo đuổi.
Khi chủ đề về “chiến tranh chính đáng” lại được bàn luận, thật thích hợp để nhắc lại giáo huấn về hòa bình của các Đức Giáo hoàng kế tiếp nhau trên ngai tòa Phêrô trong trong một trăm năm qua. Giáo huấn này đã được làm giàu và đào sâu dần dần, đến mức khả năng về một cuộc “chiến tranh chính đáng” ngày càng trở nên khó hiểu. Những suy ngẫm về thần học của các thế kỷ trước và về những lý do có thể biện minh cho chiến tranh đã bỏ qua thực tế rằng, khi các nhà thần học thời xưa viết về những chủ đề này, các cuộc chiến tranh được tiến hành bằng gươm giáo và gậy gộc, chứ không phải bằng vũ khí chết người và máy bay không người lái, một thực tế vốn khơi dậy những vấn đề luân lý với cường độ kịch tính. Thật vậy, nhận thức rằng chiến tranh không phải là con đường phải theo đã được khẳng mạnh ngày càng mẽ hơn.
Từ bức thư của Đức Bênêđíctô XV gửi các bên tham chiến năm 1917, mô tả Chiến tranh Thế giới thứ nhất là một “cuộc tàn sát vô ích“, đến những nỗ lực của Đức Piô XII nhằm ngăn chặn sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới thứ hai; từ những lời của Đức Gioan XXIII trong thông điệp Pacem in terris, người đã viết từ năm 1963 rằng “hầu như không thể nghĩ rằng, trong thời đại nguyên tử, chiến tranh có thể được sử dụng như một công cụ của công lý“, đến lời kêu gọi của Đức Phaolô VI tại Liên Hợp Quốc “không bao giờ chiến tranh nữa“, đến những nỗ lực không được đáp lại của Đức Gioan Phaolô II nhằm tránh các cuộc xung đột thảm khốc ở Trung Đông, những người kế vị Thánh Phêrô đã không ngừng lên tiếng, đầy tính ngôn sứ và hiện thực, trong khi đáng tiếc là thường bị phớt lờ nhất.
Văn bản tham khảo trước hết là Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, trong đó công nhận quyền tự vệ chính đáng, nhưng cũng đặt ra những “điều kiện nghiêm ngặt” đối với chiến tranh phòng ngừa. “Phải đồng thời hội đủ các điều kiện sau đây: Thiệt hại do kẻ xâm lược gây ra cho quốc gia hoặc cho cộng đồng các quốc gia cách lâu dài, nghiêm trọng và chắc chắn; Tất cả các phương thế khác để chấm dứt tình trạng này không thể thực thi được hoặc vô hiệu quả; Phải hội đủ các điều kiện quan trọng để thành công; Việc sử dụng vũ khí sẽ không gây những tai hại và hỗn loạn nghiêm trọng lớn hơn những tai hại ta đang cố loại trừ.” Phải lượng định sức mạnh tàn phá của các phương tiện chiến tranh hiện đại khi thẩm định điều kiện nầy. Ai có thể phủ nhận rằng ngày nay nhân loại đang đứng trên bờ vực thảm họa chính vì sự leo thang xung đột và sức mạnh của “các phương tiện hiện đại hủy diệt“?
Lời nói « không » với chiến tranh ngày càng được khẳng định mạnh mẽ, đặc biệt là dưới triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô, người trong thông điệp Fratelli tutti đã viết: “Chiến tranh dễ dàng được lựa chọn dưới vỏ bọc của đủ loại lý do nhân đạo, tự vệ hoặc phòng ngừa, thậm chí còn dùng đến việc thao túng thông tin. Thật vậy, trong những thập kỷ gần đây, mọi cuộc chiến đều tuyên bố có một ‘lý do biện mình’… Vấn đề là, kể từ khi phát triển vũ khí hạt nhân, hóa học và sinh học, và những khả năng to lớn và ngày càng tăng do công nghệ mới mang lại, chiến tranh đã được trao một sức mạnh hủy diệt không thể kiểm soát, ảnh hưởng đến nhiều thường dân vô tội. Thật thế, ‘nhân loại chưa bao giờ có nhiều quyền lực đối với chính mình như vậy, và không có gì đảm bảo rằng họ sẽ sử dụng nó một cách khôn ngoan.’ Do đó, chúng ta không thể coi chiến tranh là một giải pháp nữa, vì những rủi ro có lẽ sẽ luôn lớn hơn bất kỳ lợi ích giả định nào được gán cho nó.” Đối mặt với thực tế này, giờ đây rất khó để bảo vệ các tiêu chí hợp lý được phát triển trong nhiều thế kỷ qua để nói vệ khả năng một cuộc “chiến tranh chính đáng”. “Không bao giờ chiến tranh nữa!”
Người kế nhiệm của ngài, Đức Giáo hoàng Lêô XIV, đã lấy hòa bình làm một trong những chủ đề trọng tâm của triều đại giáo hoàng của mình. Đối mặt với sự điên rồ của các cuộc chiến tranh leo thang và chi tiêu khổng lồ cho việc tái vũ trang, ngài đã tiếp nối, với cả tính hiện thực và tầm nhìn xa, con đường mà những người tiền nhiệm đã mở ra, bằng cách kêu gọi hòa bình, đối thoại và đàm phán. Các vụ thảm sát thường dân xảy ra trong những năm gần đây đã làm rung động lương tâm của hàng tỷ người trên thế giới, những người đang hướng về Giám mục thành Rôma. Đức Giáo hoàng Lêô, như Chúa Giêsu trong vườn Gethsêmani, đã mạnh mẽ kêu gọi mọi người hãy cất gươm vào vỏ. “Ở khắp mọi nơi, chúng ta cảm nhận được những lời đe dọa thay vì lời kêu gọi lắng nghe và gặp gỡ“, ngài tuyên bố trong buổi canh thức cầu nguyện vào thứ Bảy, ngày 11 tháng 4. Ngài giải thích rằng những người cầu nguyện nhận thức được những giới hạn của mình; họ không giết người hay đe dọa cái chết. Ngược lại, kẻ nào quay lưng lại với Thiên Chúa hằng sống thì bị nô lệ cho cái chết, biến bản thân và quyền lực của mình thành một thần tượng câm, mù quáng và điếc lác, mà họ phải hy sinh tất cả các giá trị và đòi hỏi cả thế giới phải quỳ gối. “Chúng ta hãy chấm dứt sự sùng bái bản thân và tiền bạc! Hãy chấm dứt việc phô trương sức mạnh! Hãy chấm dứt chiến tranh! Sức mạnh đích thực được thể hiện qua việc phụng vụ sự sống.”
Nguồn: xuanbichvietnam.net/

