BÀI ĐỌC I: Cv 2, 14. 22-28
Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô cùng với mười một Tông đồ đứng ra, lên tiếng nói rằng: “Hỡi các người Do-thái và tất cả những ai ở Giêrusalem, xin hãy biết điều này và lắng nghe lời tôi! Hỡi những người Israel, hãy nghe những lời này: Đức Giêsu Nadarét là người đã được Thiên Chúa chứng nhận giữa anh em bằng những việc vĩ đại, những điều kỳ diệu và những phép lạ mà Thiên Chúa đã dùng Người để thực hiện giữa anh em, như chính anh em đã biết. Theo như Thiên Chúa đã định và biết trước, Người đã bị nộp, và anh em đã dùng tay những kẻ độc ác mà hành hạ rồi giết đi. Sau khi bẻ gãy xiềng xích tử thần, Thiên Chúa đã giải thoát Người khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Người phục sinh, vì không thể nào để cho Người bị cầm giữ trong đó. Vì chưng Đavít đã nói về Người rằng: ‘Tôi hằng chiêm ngưỡng Chúa trước mặt tôi, vì Người ở bên hữu tôi, để tôi không nao núng. Vì thế, lòng tôi hân hoan, miệng lưỡi tôi hát mừng, và xác tôi yên nghỉ trong niềm cậy trông: vì Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát. Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống và cho tôi đầy hân hoan tận hưởng nhan thánh Chúa'”.
BÀI ĐỌC II: 1 Pr 1, 17-21
Anh em thân mến, nếu anh em gọi Người là Cha, Đấng không thiên vị ai khi xét đoán mỗi người theo việc họ làm, thì anh em hãy sống trong sự kính sợ suốt thời anh em còn lưu trên đất khách. Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc khỏi nếp sống phù phiếm tổ truyền, nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền, không tì ố. Người đã được tiền định trước khi tác thành vũ trụ và được tỏ bày trong thời sau hết vì anh em. Nhờ Người, anh em tin vào Thiên Chúa, Đấng làm cho Người sống lại từ cõi chết, và ban vinh quang cho Người để anh em đặt cả lòng tin và niềm hy vọng nơi Thiên Chúa.
PHÚC ÂM: Lc 24, 13-35
Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Đang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: “Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?” Một người tên là Clêophas trả lời: “Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay”. Chúa hỏi: “Việc gì thế?” Các ông thưa: “Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật, đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp”. Bấy giờ Người bảo họ: “Ôi kẻ khờ dại chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?” Đoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn”. Người liền vào với các ông. Đang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Đoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: “Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta, khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?” Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Họ bảo hai ông: “Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon”. Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.
Suy Niệm 1: LÀM CHỨNG RẰNG CHÚA GIÊSU ĐÃ SỐNG LẠI
…………………………….
Hành trình đức tin luôn là một cuộc lội ngược dòng, một cuộc đi ngược lại những lực kéo tự nhiên để bước theo hành trình mà Thiên Chúa mời gọi. Đây chính là sứ điệp lời Chúa mời gọi chúng ta trong Chúa Nhật hôm nay. Bài đọc 1 thuật lại cho chúng ta bài giảng của Thánh Phêrô trong ngày lễ Ngũ Tuần. Bài giảng này được xem là chứa đựng những chi tiết căn bản nhất cho đức tin Kitô giáo và trung tâm điểm của bài giảng này chính là mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu mà các môn đệ là những chứng nhân: “Theo kế hoạch Thiên Chúa đã định và biết trước, Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi” (Cv 2:23-24). Những lời này tỏ cho chúng ta thấy việc Chúa Giêsu chấp nhận cái chết trên thập giá và trỗi dậy vào ngày thứ ba là theo kế hoạch của Thiên Chúa. Nói cách khác, Chúa Giêsu không làm gì khác ngoài vâng theo thánh ý của Thiên Chúa. Các môn đệ là người làm chứng cho điều này: “Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đavít rằng: người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự phục sinh của Đức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng. Thiên Chúa Cha đã ra tay uy quyền nâng Người lên, trao cho Người Thánh Thần đã hứa, để Người đổ xuống: đó là điều anh em đang thấy đang nghe” (Cv 2:29-33). Chúng ta cũng được mời gọi làm nhân chứng của Chúa Giêsu. Lời chứng của chúng ta chỉ trở nên thuyết phục khi chúng ta sống mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu trong cuộc đời của mình, đó là chúng ta chết đi cho những thói hư tật xấu của mình và sống lại với con người mới trong Đức Kitô.
Về phần mình, Thánh Phêrô trình bày cho chúng ta về tình yêu tuyệt diệu của Thiên Chúa. Ngài là Đấng “theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17). Chúng ta được mời gọi sống cuộc sống lữ khách trên trần gian với lòng kính sợ Thiên Chúa. Điều đáng để chúng ta suy gẫm là việc Thánh Phêrô chỉ ra cho chúng ta điều gì đã cứu chúng ta khỏi sự hư nát trong phần mộ: “Anh em hãy biết rằng không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu thoát khỏi lối sống phù phiếm do cha ông anh em truyền lại. Nhưng anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích, là Đức Kitô. Người là Đấng Thiên Chúa đã biết từ trước, khi vũ trụ chưa được dựng nên, và Người đã xuất hiện vì anh em trong thời cuối cùng này” (1 Pr 18-20). Những lời này chỉ ra cho chúng ta thấy phẩm giá cao trọng của mỗi người. Chính Chúa Giêsu đã đổ máu mình ra để cứu chúng ta khỏi tội lỗi để chúng ta được thừa hưởng đời sống mới trong Thiên Chúa. Chúng ta biết phẩm giá của mình rất cao quý đến nỗi Chúa Giêsu đã phải hy sinh mạng sống mình để chuộc lại. Liệu chúng ta có để cho hy tế Chúa Giêsu trở nên không có hiệu quả trong cuộc sống chúng ta không?
Tuần trước chúng ta nghe câu chuyện Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ và hành trình đức tin của Tôma. Trong những câu chuyện hiện ra của Chúa Giêsu chúng ta nhận ra những yếu tố cần thiết trong hành trình đức tin là “nghe, thấy, chạm và nhận ra.” Những yếu tố này cũng sẽ tìm thấy trong câu chuyện của hai môn đệ đi đến Emmau và trong hành trình đức tin của mỗi người chúng ta. Câu chuyện tuyệt vời về hành trình Emmau chỉ được tìm thấy trong Tin Mừng Thánh Luca. Câu chuyện này chứa đựng những chủ đề chính của Tin Mừng, đó là những chủ đề về hành trình đức tin như hành động nhìn thấy, và hiếu khách. Bài Tin Mừng bắt đầu với sự kiện hai môn đệ “rời Giêrusalem để đi đến một làng tên là Emmau”: “Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra” (Lc 24: 13-14). Để hiểu những lời này, chúng ta cần biết rằng, trong Tin Mừng Thánh Luca, hành trình của Chúa Giêsu là “hành trình lên Giêrusalem.” Giêrusalem là trung tâm, là điểm tới hành trình của Ngài vì nơi đó có nhà của Cha Ngài, và đó cũng là nơi Ngài sẽ hoàn thành sứ mệnh mà Cha Ngài đã giao cho Ngài. Người môn đệ cũng được mời gọi đi theo hành trình này, chứ không đi ngược lại. Nhìn từ khía cạnh này, hai môn đệ đã bỏ con đường của Chúa Giêsu và đi ngược lại với hành trình của Ngài vì Ngài không thực hiện được những điều mà họ kỳ vọng vào Ngài (x. câu 21). Sự bất trung của họ đối ngược với sự trung thành của những người phụ nữ (x. Lc 23:49-24:12). Nói cách cụ thể hơn, họ chạy trốn những biến cố đau thương của cuộc sống người môn đệ, họ chạy trốn không dám đối diện với những đòi hỏi của người môn đệ. Đây cũng là hình ảnh của mỗi người chúng ta. Nhiều lần chúng ta cũng không muốn đi theo hành trình Thiên Chúa đã vạch ra cho chúng ta mà muốn tạo hành trình riêng cho chính mình. Thánh Luca đã sử dụng đề tài hành trình trong câu chuyện này để nhắc nhở chúng ta rằng: Giống như Chúa Giêsu đã hoà giải hai người môn đệ trên đường Emmau và giúp họ trở lại với hành trình lên Giêrusalem của Ngài, Ngài cũng muốn hoà giải với chúng ta để chúng ta không còn đi theo hành trình của riêng mình nữa, mà chỉ đi theo hành trình của Chúa Giêsu mà thôi.
Đối diện với sự “bất trung” [không đi theo con đường của người môn đệ], Chúa Giêsu không bỏ rơi hai môn đệ. Ngài đã đến với và cùng họ đi trên hành trình mà họ đã vạch ra cho chính mình: “Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 24:15-17). Hành động của Chúa Giêsu cho thấy Ngài không bỏ rơi chúng ta khi chúng ta không đi theo con đường của Ngài. Ngài như người cha trong câu chuyện “người cha nhân hậu” đã đi ra khỏi ‘nhà’ của mình để chờ và đón người con thứ, và một lần nữa đã đi ra ngoài con đường của mình để thuyết phục người con trưởng vào nhà và tham dự bữa tiệc. Chi tiết làm chúng ta suy gẫm là việc Ngài đến gần chúng ta khi chúng ta đi ngược với hành trình của Ngài. Ôi tình yêu thật cao vời, sâu đậm! Nhưng rồi chúng ta cũng như hai người môn đệ, đã để cho mắt mình bị những đau thương của cuộc sống che khuất không nhận ra Chúa Giêsu đang đồng hành với chúng ta. Ở đây, chúng ta thấy Thánh Luca nói về chủ đề ‘nhận ra’ hay ‘thấy.’ Đề tài này đã được thánh sử nói đến nhiều lần trong Tin Mừng của ngài (x. 9:45; 18:34; 23:8,35,47-49), nhưng ở đây, thánh sử trình bày cách chi tiết về đề tài này để chỉ ra việc Chúa Giêsu mở mắt cho hai môn đệ giúp họ nhận ra ý nghĩa của tất cả những gì Ngài trải qua trong kế hoạch của Thiên Chúa. Tuy nhiên, hai người môn đệ chỉ được mở mắt hoàn toàn để nhận ra Chúa Giêsu khi họ tỏ lòng hiếu khách với Chúa như một người xa lạ qua việc mời Ngài vào “nhà mình.”
Đề tài về đức tin như sự nhìn thấy là một điểm khác để chúng ta suy gẫm trong bài Tin Mừng hôm nay. Đề tài này liên kết chặt chẽ với hành động hiếu khách của hai môn đệ và hành động mở mắt cho hai môn đệ qua việc bẻ bánh: “Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giêsu làm như còn phải đi xa hơn nữa. Họ nài ép Người rằng: ‘Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.’ Bấy giờ Người mới vào và ở lại với họ. Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất” (Lc 24:28-31). Trong lời mời của hai người môn đệ, Thánh Luca đưa đề tài đức tin như là sự nhìn thấy đến đỉnh cao của nó. Hai môn đệ đã được Chúa Giêsu đồng hành và giờ đây được Ngài cho mắt họ mở ra để nhận ra Ngài. Theo R. H. Smith, qua việc đồng hành với hai môn đệ, nhất là qua việc đồng bàn với họ Chúa Giêsu dạy họ rằng thần tính của Ngài không được biết đến hoặc tỏ ra trong những hành động tranh chấp hoặc trả thù hoặc ngay cả trong những dấu chỉ vĩ đại và đáng sợ, nhưng qua chính thập giá và được diễn tả trong một bữa tiệc – một hành động của sự hiếu khách, bình an, huynh đệ. Chi tiết này cho chúng ta thấy rằng, chỉ khi chúng ta mời Chúa Giêsu ở lại với mình, thì chúng ta mới có thể thấy Ngài; chỉ khi chúng ta chia sẻ trong bữa ăn với Ngài, đúng hơn trong sự sống đời đời của Ngài, chúng ta mới nhận ra Ngài là Chúa. Một điều chúng ta cần lưu ý trong những lời trên là việc các môn đệ nhận ra Chúa Giêsu trong hành động bẻ bánh. Theo các học giả Kinh Thánh, sự kiện này không được giải thích ngay là Thánh Thể, nhưng phải được liên kết với đề tài bàn ăn mà Thánh Luca đã trình bày và phát triển trong Tin Mừng của mình. Qua đề tài này, thánh sử chỉ ra rằng Nước Thiên Chúa đã đến trong việc Chúa Giêsu chia sẻ thức ăn với người khác, đặc biệt với những người bị loại bỏ. Chúa Giêsu, Đấng đã nói trong bữa tiệc ly rằng Ngài sẽ không chia sẻ thức ăn với các môn đệ cho đến khi Nước Thiên Chúa đến (x. Lc 22:16,18), bây giờ chia sẻ thức ăn với họ và như thế chỉ ra rằng Nước Thiên Chúa đã thật sự đến rồi. Bây giờ, tại bàn ăn của Ngài không phải là những người thu thuế, nhưng là hai môn đệ, là những người đã bỏ hành trình của Ngài. Họ đã được tha thứ và được sai trở lại hành trình theo Ngài của họ. Nhưng tất cả những điều này xảy ra chỉ vì họ đã rất hiếu khách. Liệu chúng ta có hiếu khách đủ để mời Chúa Giêsu đến ở với chúng ta, nhất là trong những khó khăn và đêm đen của cuộc sống không?
Bài Tin Mừng kết thúc với sự kiện hai môn đệ trở về lại với hành trình của Chúa Giêsu mà hai ông đã từ bỏ. Hành trình của người môn đệ chỉ có niềm vui khi đi cùng hành trình với Chúa Giêsu, hành trình lên Giêrusalem: “Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp tại đó. Những người này bảo hai ông: ‘Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Simôn.’ Còn hai ông thì thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh” (Lc 24:33-35). Những lời này mời gọi chúng ta nhìn lại hành trình mình đang đi: vui hay buồn. Những ai đi theo hành trình của Chúa Giêsu luôn cảm nghiệm được niềm vui thật sâu kín dù phải gặp nhiều thử thách và khó khăn. Còn những ai không đi theo hành trình của Chúa Giêsu, chỉ kết thúc trong buồn sầu và thất vọng dù đạt được những vinh quang ở đời.
Lm. Anthony, SDB.
……………………………
Suy Niệm 3: ĐỒNG HÀNH VỚI CHÚA PHỤC SINH
A. DẪN NHẬP
Không ai được chứng kiến việc Đức Giêsu sống lại, vậy sao lại có thể khẳng định được rằng Đức Giêsu đã chỗi dậy từ kẻ chết, tức là Ngài đã Phục sinh ? Theo lẽ tự nhiên, không ai có thể khẳng định được điều đó nếu chỉ dựa vào lời Ngài đã báo trước khi còn sinh thời như “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và luật sĩ gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại”(Mt 16,21). Nhưng những lần Đức Giêsu hiện ra với nhiều người như Maria Mađalena, với Phêrô và Gioan, với 11 Tông đồ, với 500 môn đệ cùng một lúc, nhất là với hai môn đệ đi làng Emmau, đều chứng thực Ngài đã Phục sinh.
Hôm nay thánh Luca thuật lại việc Đức Giêsu hiện ra với hai môn đệ đi đến làng Emmau một cách sinh động với nhiều chi tiết rõ rệt. Đức Giêsu với tư cách là một khách bộ hành, đã trò truyện và giải thích Thánh Kinh cho hai ông để mở mắt các ông để các ông tin vào Chúa Phục sinh :”Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu đau khổ như thế rồi mới được hưởng vinh quang dành cho Người sao”(Lc 24,26) ? Đặc biệt khi ngồi trò truyện trong nhà, các ông mới thấy rõ Đức Giêsu đang nói, đang cùng ăn với các ông. Không chịu nổi, các ông phải tức tốc trở về Giêrusalem để báo tin và chia sẻ với các Tông đồ về sự kiện hy hữu này.
Ngày nay, Đức Kitô Phục sinh vẫn ở bên cạnh chúng ta mà chúng ta không nhận ra Ngài như trường hợp hai môn đệ đi làng Emmau. Nhưng chúng ta chỉ nhận ra Ngài bằng con mắt đức tin. Ngài hiện diện khắp nơi trong mọi hòan cảnh, mọi biến cố, nhất là nơi những người anh chị em chúng ta. Trong cuộc sống Kitô hữu, khi nào cũng có Chúa đồng hành. Một khi đã có Chúa hiện diện ngay bên, chúng ta còn sợ gì ? Thánh Phêrô lặp lại lời Đức Giêsu đã khuyên để trấn an các tín hữu :”Đừng sợ những kẻ làm hại anh em và đừng xao xuyến”(1Pr 3,14; Kh 1,17; 2,10). Hãy sống xứng đáng với danh hiệu là con cái Chúa Phục sinh.
B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
+ Bài đọc 1 : Cv 2,14-22b-33.
Trong ngày lễ Ngũ tuần, khi những người Do thái qui tụ chung quanh nhà Tiệc ly chứng kiến sự lạ xẩy ra, thánh Phêrô thuyết pháp cho họ bài kéryma đầu tiên. Theo đó, người Do thái phải biết rằng Đức Giêsu là người mà Thiên Chúa đã sai đến với họ, đã làm nhiều phép mầu, dấu lạ và những việc phi thường để chứng minh sứ mạng cứu thế của Ngài. Ngài đã bị giết chết. Tất cả những điều này, người Do thái đã biết, nay chỉ cần nhắc lại là họ nhớ.
Nay Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại. Chính trong cái chết của mình, Chúa Giêsu đã thực hiện công trình cứu độ nhân loại. Thiên Chúa đã cho Ngài phục sinh và ban tặng vinh quang cho Ngài. Người Do thái chắc chắn không hiểu nổi mầu nhiệm nơi Chúa Giêsu phục sinh, nên thánh Phêrô đã nhắc lại thánh vịnh 15 để chứng minh rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia.
+ Bài đọc 2 : 1Pr 1,17-21.
Trong lá thư thứ nhất, thánh Phêrô tông đồ kêu gọi mọi người hãy tin cậy vào Thiên Chúa và Đức Giêsu phục sinh, vì đã được trả bằng giá máu của Chúa Kitô. Có hai điểm chính :
a) Nhờ cái chết của Chúa Kitô, mọi người đã được cứu thoát khỏi ách của ma qủi, tội lỗi và sự chết. Việc cứu thoát ấy không được thực hiện bằng vàng bạc như các nô lệ dùng để mua lại sự tự do, nhưng được giải phóng bằng chính máu của Đức Kitô.
b) Từ nay, các tín hữu hãy đặt trọn niềm tin cậy phó thác vào Thiên Chúa và Đức Giêsu phục sinh. Hãy kính sợ Chúa. Kính sợ đây không có nghĩa là sợ hãi, sợ hình phạt mà là lo làm sao đừng bao giờ làm mất tình nghĩa với Thiên Chúa.
+ Bài Tin Mừng : Lc 24,13-35.
Bài Tin Mừng cho thấy sau cái chết của Chúa Giêsu, các môn đệ tỏ ra bàng hoàng lo lắng, thất vọng. Đã có hai môn đệ rời bỏ cộng đoàn để về quê cũ là Emmau. Chúa Giêsu muốn lấy lại niềm tin cho các ông còn non kém, yên ủi, khích lệ các ông để các ông mạnh dạn đi rao giảng Tin mừng phục sinh.
Đức Giêsu đồng hành với hai môn đệ dưới hình thức khách bộ hành, giải thích cho các ông hiểu những đoạn Thánh kinh nói về Chúa Kitô để các ông hiểu rằng Đức Kitô phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Ngài. Và sau cùng Đức Kitô phục sinh tỏ lộ cho hai ông thấy con người thật phục sinh của Ngài trong lúc bẻ bánh. Ngày này Chúa Kitô phục sinh vẫn còn hiện diện trong Giáo hội và nơi chúng ta với cách thức mới : Ngài hiện diện nơi Lời của Ngài và nơi Bí tích Thánh Thể.
C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA
Có Chúa con còn sợ chi ai ?
I. TRÊN ĐƯỜNG ĐI LÀNG EMMAU
Khi Đức Giêsu Phục sinh, không ai được chứng kiến việc Ngài sống lại, nhưng có một số người được thấy Ngài khi Ngài hiện ra với họ. Ngài đã hiện ra với Maria Mađalena, với Phêrô và Gioan, với 10 người, rồi với 500 môn đệ cùng một lúc. Nhưng trong các lần hiện ra, không có lần nào được các thánh sử ghi lại một cách sống động và nhiều chi tiết rõ ràng như khi thánh Luca ghi lại câu chuyện Đức Giêsu đi với hai môn đệ đến làng Emmau.
- Vị trí làng Emmau
Emmau là quê hương của hai môn đệ mà hôm nay hai ông trở về sau cái chết của Đức Giêsu. Ngày nay chúng ta khó mà đặt được vị trí cho làng nhỏ này. Các bản văn không hợp nhau về dậm đường xa. Có bản viết Emmau nằm về phia tây bắc Giêrusalem và cách đó 60 dậm, có bản viết cách 160 dậm. Mỗi dậm đường là 185 mét. Nếu nhận Emmau cách Giêrusalem 160 dậm thì khỏang cách là 29 cây số, như vậy thì làm sao hai môn đệ có thể trở về ngay trong một ngày được. Như vậy, bản văn viết 60 dậm có vẻ hợp lý hơn vì Emmau chỉ cách Giêrusalem có 11 cây số.
- Cuộc hành trình đi Emmau
a) Tâm trạng của hai môn đệ
Đây là hai môn đệ trong số 70 mà Chúa sai đi giảng đạo. Họ đến Giêrusalem dự lễ Vượt Qua, nay lễ tất, các ông trở về. Một người tên là Cléopas, còn người kia không được nêu tên (có người cho là chính Luca). Hai ông này vừa đi vừa trò chuyện với nhau với vẻ u buồn và thất vọng. Tại sao họ lại có cái tâm trạng u buồn như thế ? Chúng ta có thể nêu ra ba lý do :
* Đức Giêsu, người mà bấy lâu nay họ tin tưởng như “một vị tiên tri có quyền lực trước mặt Thiên Chúa và tòan thể dân chúng” mà sao đã bị xử tử và đóng đinh trên thập giá (Lc 24,20-21).
* Sự nghiệp và chương trình của Đức Giêsu là Cứu thế đã vỡ tan tành vì “Chúng tôi hy vọng Ngài sẽ cứu Israel” mà các sự việc ấy đã xẩy ra đến nay là ngày thứ ba rồi (Lc 24,21).
* Lý do riêng của các ông : Tin theo Đức Giêsu để hy vọng có một tương lai tươi sáng mà nay chỉ thấy mây mù che phủ. Thất vọng !.
b) Đức Giêsu giải thích và khích lệ
Với tư cách là khách bộ hành, Ngài đã nhập cuộc đi với họ. Với bao tế nhị, Ngài khai mào câu chuyện để cho họ thổ lộ tâm can, cởi mở tâm hồn. Càng bị dầy vò khắc khỏai, người ta muốn được kẻ khác lắng nghe chia sẻ. Ngài cùng đi với họ trên đọan đường dài.
Sau một thóang im lặng, Ngài bắt đầu chậm rải nói chuyện. Ngài “giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh chỉ về Ngài”, về “vụ ông Giêsu”, người lạ lắng nghe quan điểm trình bầy về vụ án, cuộc tử nạn, việc treo trên cây thập giá làm cho các ông xao xuyến.
Chúng ta có thể tóm tắt lời giải thích và yên ủi hai ông trong hai điểm :
– Trước hết, Ngài cho các ông biết sự đau khổ và cái chết của Đấng Cứu thế đã được trù liệu trước, nên đó không phải là thất bại :”Nào Đấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ rồi mới được vinh quang sao”?(Lc 24,26)
– Sau cùng, Ngài đã tới Emmau về nhà các ông cùng nói năng, dạy dỗ, cùng ăn cùng uống với các ông. Điều đó chứng tỏ Ngài đã sống lại thật và sống lại vinh quang.
- Kết quả cuộc hành trình
Chúng ta có thể khẳng định : cuộc hiện ra trên đường đi Emmau là làm cho các môn đệ tin thật Ngài đã sống lại. Họ không thể ngồi yên, lật đật trở về Giêrusalem để thuật lại cho mọi người sự vui mừng mà họ vừa nhận được. Gặp 11 Tông đồ đang hội họp với những người khác, hai bên như tranh nhau làm chứng : họ muốn nói cho các Tông đồ, nhưng các Tông đồ đã nói trước :”Chúa thật đã sống lại và hiện ra với Simon”. Thiết tưởng là một cuộc họp vui không thể tả, nhất là liền sau đó Chúa lại hiện ra với họ.
II. ĐÃ CÓ CHÚA TRONG ĐỜI
- Chúa củng cố niềm tin cho các môn đệ
Người ta thường nói : chết là hết. Chết là chấm dứt mọi sự, kể cả những công việc vĩ đại con người đã thực hiện được. Khi theo Chúa Giêsu trên đường truyền giáo, các môn đệ cũng đã có niềm tin vào Ngài nhưng niềm tin ấy còn hời hợt. Niềm tin ấy bị tan vỡ khi bị thử thách. Bằng chứng là, sau khi Đức Giêsu chịu chết và chịu táng trong mồ, các môn đệ tỏ ra hoảng sợ, lo lắng, thất vọng, thậm chí ngay ngày Chúa phục sinh đã có hai môn đệ bỏ cộng đoàn để về quê cũ là Emmau, ở cách Giêrusalem quãng 11 cây số. Ta chỉ biết có một ông tên là Cléopas và một người nữa bất kỳ ai. Hai ông chán nản lê bước trên đường, lòng dười dượi buồn, nói chuyện với nhau về sự việc mới xẩy ra và tương lai bấp bênh của mình. Tâm trí các ông còn bị che phủ bởi các ông chưa hiểu lời Kinh thánh nói về Đức Kitô,
Rất may, hai ông được khách bộ hành cùng song hành nói chuyện. Lúc này khách bộ hành mới cắt nghĩa cho hai ông những đoạn Kinh thánh nói về Đức Kitô từ Maisen đến các tiên tri và Thánh vịnh : Người phải chịu chết rồi mới sống lại. Những lời giải thích Thánh kinh chỉ là câu chuyện trao đổi với nhau chưa làm cho hai ông tin được rằng Chúa đã sống lại, vì tâm trí các ông còn mù tối. Đến khi hai ông cùng với khác bộ hành dùng cơm chiều, trong lúc bẻ bánh, người khách bộ hành mới tỏ nguyên dạng là Đức Giêsu phục sinh. Lúc này mắt các ông sáng ra, lòng đầy vui mừng tin tưởng, các ông tức tốc trở về báo tin cho các môn đệ khác còn ở tại Giêrusalem.
Ngày nay Chúa Giêsu vẫn còn ở bên cạnh chúng ta . Người không hiện diện rõ ràng như khi hiện ra với hai môn đệ. Người hiện diện dưới muôn hình muôn vẻ, con mắt thịt không thể nhìn thấy mà chỉ con mắt đức tin mới thấy Nguời. Khi Saulô đến Đamas tìm bắt các tín hữu Chúa, tại sao Chúa lại hỏi Saulô :”Tại sao ngươi tìm bắt Ta “. Chữ Ta đây không phải là chính Chúa mà là các Kitô hữu. Vậy khi bắt các Kitô hữu là bắt chính Chúa Giêsu vì Ngài đã đồng hóa các tín hữu với Ngài.
- Chúa củng cố niềm tin cho ta
a) Chúa hiện diện bên cạnh ta
Trong cuộc sống của ta, Chúa hằng hiện diện khắp nơi, trong mọi sinh hoạt thường ngày của ta. Nhưng làm sao ta thấy Ngài được ? Câu trả lời là mắt trần hoàn toàn vô dụng. Sự hiện diện của Đấng phục sinh khác hẳn với sự hiện diện của Đức Giêsu Nazareth. Đây là một sự hiện diện mới mẻ, chỉ tỏ hiện với con mắt đức tin được nuôi bằng Kinh thánh và việc chia sẻ bữa ăn với Đức Giêsu. Nếu muốn thấy và sống sự hiện diện của Đấng phục sinh, các tín hữu phải trang bị cho mình hai điều kiện ấy vì họ luôn có sẵn trong tay Thánh kinh và Thánh lễ (M. Sevin, trích dịch bởi Fiches dominicales, năm A, tr 135).
Ngày nay Đức Giêsu phục sinh vẫn hiện diện ngay bên cạnh ta, nhưng theo một cách mới. Chúng ta không thể nhận ra cách hiện diện mới ấy vì cặp mắt thể xác của ta như “bị ngăn cản” bởi một bức màn. Chỉ khi nào Ngài muốn và cho những ai Ngài muốn thì Ngài mới cất bức màn ấy đi và khi đó mắt chúng ta mới “mở ra” và thấy được Ngài.
Truyện : Chúa đến nơi tha nhân.
Một tác giả kể câu truyện ngụ ngôn sau đây :
Vào buổi sáng nọ, người thợ giầy thức giấc rất sớm. Anh quyết định chuẩn bị chiếc xưởng nhỏ của anh cho tươm tất rồi vào phòng khách chờ đợi cho bằng được người khách quí. Và người khách đó không ai khác hơn là chính Chúa, bởi vì tối qua trong giấc mơ, Ngài đã hiện ra và báo cho anh biết Ngài sẽ đến thăm anh trong ngày hôm sau.
Người thợ giầy ngồi chờ đợi, tâm hồn tràn ngập hân hoan. Khi những tia nắng sớm vừa rọi qua khung cửa, anh đã nghe được tiếng gõ cửa. Lòng anh hồi hộp, sung sướng, hẳn là Chúa đến. Anh ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đang đứng trước mặt anh không phải là Chúa, mà là người phát thư.
Sáng hôm đó là một ngày cuối đông, cái lạnh đã khiến mặt mũi, tay chân người phát thư đỏ như gấc. Người thợ giầy không nỡ để nhân viên bưu điện phải run lẩy bẩy ngòai cửa. Anh mời ông ta vào nhà và pha trà mời khách. Sau khi đã được sưởi ấm, người phát thư đứng dậy cám ơn và tiếp tục công việc.
Người thợ giầy lại vào phòng khách chờ Chúa. Nhìn qua cửa sổ, anh thấy một em bé đang khóc sướt mướt trước cửa nhà. Anh gọi nó lại, hỏi cớ sự. Nó mếu máo cho biết đã lạc mất mẹ và không biết đường về nhà. Người thợ giầy lấy bút viết vài chữ để lại trên bàn báo cho người khách quí biết mình phải đi ra ngòai.
Nhưng tìm đường dẫn bé về nhà đâu phải là chuyện đơn giản và nhanh chóng. Mãi chiều tối anh mới tìm ra được nhà đứa bé, và khi anh về lại nhà thì phố xá đã lên đèn.
Vừa bước vào nhà, anh đã thấy có người đang đợi anh, nhưng đó không phải là Chúa, mà là một người đàn bà với dáng vẻ tiều tụy. Bà cho biết đứa con của bà đang ốm nặng và bà đã không thể chớp mắt suốt đêm qua. Nghe thế, người thợ giầy lại hối hả đến săn sóc đứa bé. Nửa đêm anh mới về đến nhà, anh để nguyên quần áo và lên giường ngủ.
Thế là một ngày đã qua mà Chúa chưa đến thăm anh. Nhưng đột nhiên trong giấc ngủ, người thợ giầy nghe thấy tiếng Chúa nói với anh :”Cảm ơn con đã dọn trà nóng cha Ta uống. Cám ơn con đã dẫn đường cho Ta về nhà. Cám ơn con đã săn sóc ủi an Ta. Cám ơn con đã tiếp đón Ta ngày hôm nay”.
b) Người yên ủi nâng đỡ ta
Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta cũng gặp những lúc hoang mang, lo sợ như hai môn đệ về làng Emmau. Theo tính tự nhiên, ai cũng phải lo sợ. Có thể lo sợ vu vơ, không có lý do chính đáng, hoặc nhút nhát sợ sệt không dám hành động vì thiếu động lực thúc đẩy. Nhưng cũng có những lo sợ khôn ngoan, có tính toán, đề phòng những bất trắc xẩy ra, nhằm tránh thiệt hại cho tương lai :
Thấy anh em cũng muốn theo,
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi.
Lấy anh em biết ăn gì ?
Lộc sắn thì chát, lộc si thì già.
(Ca dao)
Khi đã tìm được lý do đánh tan sự sợ hãi thì con người bắt đầu hành động một cách vững mạnh, đầy tin tưởng. Trong Thánh kinh, câu “Đừng sợ” được nói tới 365 lần. Tức là đủ để nhắc chúng ta mỗi ngày suốt một năm. Đã có Chúa ta còn sợ hãi chi ?
Truyện : Đức Giáo hoàng Piô XI
Được thăng giáo hoàng là một việc rất trọng đại. Khi Đức Piô XI đăng quang, Ngài đã can đảm qua hết các lễ nghi rồi, nhưng đến khi các nghi thức xong xuôi, ngài về phòng riêng, ngồi vào chiếc bàn viết của Đức tiên Giáo hoàng, tức Đức Bênêdictô XV, thì tự nhiên một mối lo âu bao trùm lấy Ngài. Thực sự lúc ấy có biết bao lo lắng đổ trên đầu vị Giáo hoàng vì Giáo hội bị tấn công mọi mặt. Cuộc đệ nhất thế chiến vừa chấm dứt và cuộc đệ nhị thế chiến đang âm ỉ, Giáo hội phải trải qua một giai đoạn thử thách gắt gao.
Nghĩ đến tất cả những chuyện ấy, Đức Piô tràn ngập lo âu. Lúc ấy Ngài làm công việc duy nhất mà một người lo sợ có thể làm đó là Ngài qùi xuống, cầu nguyện. Trong khi Ngài cầu nguyện như thế, tay Ngài đưa ra, chạm phải một chiếc ảnh còn lại trên bàn giấy của Đức Bênêdictô XV. Ngài cầm mẫu ảnh lên xem và tự nhiên nỗi lo sợ tan dần. Tâm hồn Ngài tràn ngập bình an. Đó là bức ảnh Chúa Giêsu đang truyền cho sóng gió yên lặng. Những làn sóng lo âu, sợ sệt trong tâm hồn Đức Piô XI êm lặng lại. Ngài giữ bức ảnh ấy trên bàn giấy của Ngài luôn. Từ đó về sau, mỗi lần lo âu gì, Ngài chỉ việc nhìn vào bức ảnh để trên bàn đó và nhớ rằng Chúa Giêsu sẵn sàng phán một lời truyền cho sóng gió phải yên lặng (W.J. Diamond, Đồng cỏ non, tr 36-37).
c) Niềm tin được thử thách
Đi theo Chúa thì dễ. Các môn đệ đã theo Chúa Giêsu ba năm, nghe những lời Ngài dạy, chứng kiến những phép lạ Ngài làm, các ông đã tin tưởng vào Ngài, ít ra coi Ngài là một tiên tri có quyền phép. Nhưng sau khi Đức Giêsu chịu chết và táng trong mồ, niềm tin của các ông như thế nào ? Hoàn cảnh của chúng ta cũng giống như các môn đệ xưa, ta vẫn tin theo Chúa, hứa trung thành với Người, nhưng khi gặp đau khổ, gian nan thử thách, chúng ta có thái độ nào ? Có lẽ chúng ta cũng giống như ông Simon Phêrô. Khi Chúa hỏi các ông là các ông cũng muốn bỏ Ngài như những người Do thái chăng, thì ông đã nhanh miệng trả lời :”Bỏ Ngài chúng con biết theo ai, vì chỉ Ngài mới có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68) , nhưng rồi ông đã chối Chúa… Sau đó ông lại hối hận và đi theo Chúa.
Trong cuộc sống trên biển trần gian này, thỉnh thoảng biển cũng nổi sóng gió, có khi bão táp như biển hồ Tibêria. Các Tông đồ phải khó nhọc chèo chống trong cảnh thất vọng, nhưng Chúa Giêsu đã kịp thời hiện đến bảo các ông “Đừng sợ”, tức thì sóng gió phải ngưng ngay, biển trở lại yên lặng như tờ (x. Ga 6,16-21).
Truyện : Tại sao thất vọng sợ hãi ?
Một sĩ quan công giáo, người Anh được sai đến phục vụ tại một nơi xa xôi hẻo lánh. Ông cùng với gia đình xuống tầu đến một nơi được chỉ định. Tầu rời bến được vài ngày thì biển động dữ dôi. Một cơn bão ập đến làm tầu có nguy cơ bị đắm. Mọi người trên tầu hết sức sợ hãi. Bà vợ của vị sĩ quan là người mất bình tĩnh hơn cả vì bà đã không tiếc lời trách móc chồng đã đưa cả gia đình vào mối nguy hiểm, nhất là khi thấy chồng vô tư chẳng mấy quan tâm. Chính thái độ bình tâm này của chồng mà bà vợ xem như là một biểu hiệu thiếu lo lắng, thông cảm, yêu thương đối với vợ con nên bà càng tức giận xỉ vả hơn.
Trước tình thế khó xử đó, khi đã có đôi lời giãi bầy vắn tắt, viên sĩ quan rời căn phòng một lát rồi quay trở lại với thanh kiếm tuốt trần trên tay. Bằng ánh mắt đau khổ ông tiến lại bên vợ và dí mũi kiếm vào ngực bà. Mới đầu bà ta tái xanh mặt mày, nhưng sau đó bà bỗng cười lớn tiếng không chút gì nao núng cả.
Viên sĩ quan hỏi :
– Làm sao mình có thể cười khi nhận thấy mũi kiếm sắp đâm vào ngực?
Bà vợ trả lời :
– Làm sao em lại phải sợ khi biết lưỡi kiếm ấy nằm trong tay một người thương yêu em.
Bấy giờ viên sĩ quan nghiêm giọng nói :
– Vậy tại sao em lại muốn anh sợ hãi cơn bão tố này khi anh biết rằng nó ở trong tay của Chúa là Đấng luôn luôn yêu thương anh ?
(Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr 46).
Cuộc đời chúng ta cũng giống như hai môn đệ đi đế làng Emmau. Chúa luôn đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Trong mọi hành động Chúa vẫn chia sẻ với ta : lo âu, tin tưởng, đau khổ cũng như vui sướng, thành công cũng như thất bại. Chỉ khi nào chúng ta dùng con mắt đức tin thì mới nhìn ra sự hiện diện ấy.
Không có câu chuyện nào cảm kích hơn có thể cho ta thấy thực sự Chúa phục sinh luôn đi bên cạnh trong cuộc lữ hành trần gian. Điều đáng buồn là vì thiếu lòng tin nên con mắt chúng ta thường bị mờ không nhận biết sự hiện diện của Ngài. Chúng ta bước đi rầu rĩ, trong khi đáng lẽ ra ta phải hớn hở vì được đồng hành với Ngài. Có thể là đang khi Ngài cắt nghĩa Kinh thánh cho chúng ta, hay khi chúng ta tham dự nghi lễ bẻ bánh, sự đui mù được cất đi, để rồi cuộc hành trình chấm dứt khi ta về đến nhà, ta sẽ thấy Ngài đối diện với ta, không phải phai mờ trong màn đêm âm phủ, nhưng rực rỡ trong ánh sáng vinh quang đời đời. Để được thế, ngay lúc này ta phải tập luôn sống trong sự hiện diện của Ngài :
Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,
Lẩn nơi nào cho thoát được Thánh Nhan ?
Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,
Đến ở nơi chân trời góc biển phương tây,
Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,
Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.
(Tv 138)
Phải sống mãi trong Chúa Cứu thế, đừng bao giờ xa Ngài. Hãy duy trì mối giao hảo hạnh phúc với Chúa, để khi Ngài đến, các con đầy lòng tin tưởng, không phải hổ thẹn lúc gặp Ngài … Chúng ta sẽ giống như Ngài vì chúng ta sẽ thấy chính Ngài.
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm, Gp. Đà Lạt
……………………………..
Suy Niệm 4: Đức Giêsu là bạn đồng hành
Nhà văn hào Johann Wolfgang von Goethe người Đức đã từng viết: “Hãy cho tôi biết, bạn giao du với ai, và tôi sẽ cho bạn biết bạn là người như thế nào. Nếu tôi biết bạn bận tâm lo lắng về chuyện gì, tôi sẽ biết bạn có thể trở thành người như thế nào.” Câu này của ông đã trở thành một thành ngữ, bởi vì nó phản ánh kinh nghiệm sống của con người. Người khác có thể ảnh hưởng lên trên cảm nghĩ và lối sống của chúng ta. Người khác cũng có thể uốn nắn cách cư xử, cài đặt thái độ của chúng ta đối với cuộc sống và thế giới. Tục ngữ cũng có câu: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Hoàn cảnh, xuất thân, giáo dục của gia đình và môi trường sống chung quanh luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc định hướng của cuộc đời chúng ta sau này.
Cha mẹ tôi người gốc Phát Diệm, những ngày đầu vô chủng viện tôi hay bị anh em trêu ghẹo vì nói giọng quê mùa. Bố đi lính không thường xuyên ở nhà nên vai trò của mẹ tôi quan trọng hơn. Cách sống cũng đơn giản, chỉ có “chém to kho mặn” không có gì đặc biệt! Trong thời gian chuẩn bị đi vượt biên mới nếm thử vị ớt cay. 40 năm luôn sống trong chủng viện và nột trú đã tạo nên dấu ấn và nề nếp sinh hoạt của tôi trong cuộc sống thường nhật sau này. Những yếu tố này giúp chúng ta hiểu rõ hai môn đệ trên đường về làng Emmaus mà Phúc âm nói đến. Cleopas và người bạn là người đồng hương, họ có chung cùng một lối sống và niềm tin. Cuộc gặp gỡ và những tháng ngày đồng hành cùng với Đức Giêsu đã tạo nên nhiều thay đổi trong lối suy nghĩ và nếp sống của họ. Họ nhìn nhận và đánh giá Đức Giêsu còn vượt trội hơn một tiên tri, Ngài là Đấng được sai phái đến để giải thoát dân Do thái khỏi ách nô lệ. Ngài cũng làm niềm khao khát và hy vọng về tự do độc lập nơi họ đâm chồi nẩy lộc và phát triển. Đức Giêsu đã giúp họ có thêm can đảm và sức lực. Ngài kêu gọi họ gia nhập một cộng đoàn, mà nơi đó họ cảm nhận một cách mãnh liệt về một tương lai đang rộng mở trước mặt họ. Ngài giúp họ canh tân mối quan hệ với Thiên Chúa và mở rộng chân trời của niềm hy vọng. Nhưng một biến cố đã làm sụp đổ tất cả. Hy vọng càng cao thì thất vọng càng sâu!
Hai môn đệ của Đức Giêsu chấp nhận từ bỏ hoài bão cũng như những ước mơ về một thế giới mới. Họ quyết định trở về nơi chôn rau cắt rốn để làm lại cuộc đời. Một người lạ xuất hiện dọc đường và tạo nên những biến chuyển mới. Tất cả xảy ra giống như câu thứ hai của nhà văn: “Nếu tôi biết bạn bận tâm lo lắng về chuyện gì, tôi sẽ biết bạn có thể trở thành người như thế nào.” Đức Giêsu giúp họ thu xếp lại mớ hỗn độn. Ngài lắng nghe và tạo cơ hội cho họ bộc lộ tâm tình. Họ cùng tiến bước nhưng tâm tư lại trở về với quá khứ. Sự giúp đỡ của người lạ đã giúp họ khám phá ra những gì họ cảm thấy mất mát bấy lâu. Họ dần dần nhận ra rằng quyết định trở về quê hương không phải là giải pháp tốt nhất. Không có gì bảo đảm rằng họ sẽ sớm tìm lại bình an cho tâm hồn. Dưới sự lèo lái, giải thích và trưng dẫn Kinh thánh của người lạ giúp họ nhận ra đâu là nền tảng của niềm tin và cuộc sống, đâu là lý tưởng mà họ bấy lâu luôn theo đuổi, đâu là khát vọng và trông chờ còn ẩn kín nơi thâm tâm họ. Sau những giây phút được cởi mở cõi lòng họ cảm thấy thoải mái dễ chịu hơn. Tâm hồn trở nên yên tịnh để có thể lắng nghe. Tia sáng ở cuối đường hầm dần rõ nét hơn. Người bạn đồng hành giúp họ khai mở một viễn cảnh mới và phương hướng mới. Bữa ăn chỉ là bước cuối cùng giúp cho mắt họ mở ra và nhận biết Đức Giêsu.
Trong cuộc sống của mỗi người luôn có thăng trầm, năm chìm bảy nổi, nhưng đồng thời cũng không thiếu những tình huống và cuộc gặp gỡ có thể ví như chiếc chìa khoá giúp chúng ta ngộ ra chân lý của cuộc đời. Mỗi người đều được hưởng nếm những giây phút hạnh phúc trào dâng, có những lúc mộng đep vỡ tan như bong bóng, có những giấc mơ không bao giờ được đổ đầy! Thật diễm phúc khi chúng ta có Đức Giêsu làm bạn đồng hành. Lời tường thuật của thánh sử Luca về hai môn đệ trên đường về làng Emmaus là một thí dụ điển hình. Đức Giêsu giúp chúng ta nhìn lại quá khứ để hướng về tương lai. Khi nhìn lại chúng ta sẽ thâm tín rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người. Ngài là Đấng Immanuel, Đấng luôn cùng đồng hành với chúng ta.
Lm. Phêrô Trần Minh Đức

